Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Research Sinology & Nom "Bình Ngô đại cáo" - Văn bản - Bản dịch - Nhan đề

"Bình Ngô đại cáo" - Văn bản - Bản dịch - Nhan đề

E-mail Print
There are no translations available.

Mấy năm gần đây, biên soạn Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam(1), chúng tôi không khỏi giật mình khi thấy bốn kiệt tác: Nam quốc sơn hà, Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ và cả Bình Ngô đại cáo (BNĐC) đang sử dụng bản dịch hiện hành đều lấy gốc từ các văn bản in ấn sao chép ở các thế kỷ sau, chứ không dựa vào văn bản Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) - một tập cổ quốc sử có giá trị bậc nhất, được in ấn vào cuối thế kỷ XVII(2). Theo yêu cầu của Nhà xuất bản Giáo dục, tìm thiện bản (bản quy chuẩn) cho sách giáo khoa, chúng tôi đã khảo sát lại bốn văn bản kiệt tác, đưa lại văn bản quy chuẩn lấy từ ĐVSKTT và bước đầu rút ra được một số sai sót, vênh lệch qua bản dịch hiện hành. Chẳng hạn ở bài Nam quốc sơn hà thì câu thơ thứ hai trong ĐVSKTT là “Tiệt nhiên phận định tại thiên thư”, chứ không phải “Tiệt nhiên định phận tại thiên thư” như bản hiện hành. Ở bài Chiếu dời đô thì câu áp chót trong ĐVSKTT có 2 chữ kinh sư: “... vi vạn thế kinh sư chi thượng đô”, chứ không phải “... vi vạn thế đế vương chi thượng đô” như bản hiện hành. (Bản hiện hành dịch: “Là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời”). Bản Hợp tuyểnBNĐC nhiều biến động sai lệch hơn Hịch tướng sĩ. Xin dẫn lệ chứng, bản gốc BNĐC trong ĐVSKTT không có chữ Cố ư trong câu “Cố ư đãi hiền chi xa...” như nhiều bản hiện hành. Hai chữ ấy không biết đã được thêm tự bao giờ. Và vì, thêm hai chữ ấy nên phải kéo hai chữ “Đặc dĩ” vốn ở vị trí chuyển tiếp ở trên xuống đầu câu dưới để đối ngẫu với “Đặc dĩ cứu dân chi niệm...”. (Trong Hợp tuyển, chúng tôi đã trình bày cụ thể những sai lệch chính. Xin đọc Hợp tuyển. Riêng từ ngã hổ thấy có xuất hiện ở bản in Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích. Nhưng chưa rõ đến thời nào, sách nào thì thay tàn tốt bằng ngã hổ). Hoặc bản gốc BNĐC trong ĐVSKTT, ở đoạn áp chót có hai chữ tàn tốt trong câu “bỉ ký trạo tàn tốt khất lân chi vĩ”, thì ở các bản hiện hành lại đổi thành hai chữ ngã hổ không biết tự bao giờ, v.v... Như vậy cả bốn văn bản của bốn kiệt tác văn chương đã nói trên đều cần trở lại với văn bản gốc ĐVSKTT. Chuyện này, PGS.TS. Nguyễn Đăng Na, trong bài Bình Ngô đại cáo - Một số vấn đề về văn bàn (Tạp chí Hán Nôm, số 4-2002) từng đưa ra một số phát hiện về ngôn bản, mong muốn “có một văn bản BNĐC tốt nhất để đưa vào giảng dạy trong các cấp học phổ thông, không gì bằng lấy trong ĐVSKTT phần Bản kỷ thực lục do Ngô Sĩ Liên biên soạn”. Hợp tuyển đã xuất bản, thậm chí tái bản, bốn bản gốc theo ĐVSKTT đã có đủ bản chữ Hán, phiên âm, dịch nghĩa, còn việc giáo khoa hóa thì phải trông đợi vào các nhà biên soạn sách giáo khoa. Cái khó hiện thời là bản dịch hiện hành đã vào sâu trong tâm thức đại chúng, trong bảo tàng, di tích lịch sử, nhà lưu niệm... qua hàng thế kỷ, giờ muốn đổi thay dù chỉ một đôi chữ, cũng đâu phải chuyện dễ. Dầu sao thì đây là vấn đề khoa học văn bản nghiêm túc, đối với quốc thi, quốc chiếu, quốc hịch, đại cáo, vừa là kiệt tác văn chương vừa là văn kiện lịch sử trọng đại của quốc gia, nên thấy vấn đề về văn bản tất phải nêu ra trước công luận. dịch: “là chốn đô thành bậc nhất của kinh sư muôn đời”.

 

Với BNĐC, ngoài việc trở về với bản gốc trong ĐVSKTT thì hai vấn đề nữa cần bàn luận. Thứ nhất ai dịch bản hiện hành, thứ hai ai là người đầu tiên đặt nhan đề BNĐC.

 

Trước đây vài năm, PGS.TS. Nguyễn Đăng Na trong bài Vấn đề dịch giả và dịch bản (Tạp chí Hán Nôm, số 5-2002) tìm ra bản dịch xưa nay vẫn coi là của Bùi Kỷ thực ra là bản dịch của Trần Trọng Kim. Duyên do là năm 1916 Trần Trọng Kim đã lược dịch BNĐC trong Sơ học An Nam sử lược in ở Sài Gòn. Ba năm sau (1919) ông dịch toàn bài BNĐC công bố trong Việt Nam sử lược, tuy không đề tên người dịch song ai cũng hiểu bản dịch là của ông trong tập sách sử do chính ông biên soạn. Đến khi Bùi Kỷ cho in nguyên văn bản dịch BNĐC trên trong sách Quốc văn cụ thể xuất bản 1932 cũng không đề tên người dịch. Nhưng Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (in 1443), sau khi in bản dịch BNĐC trên lại ghi: “Bùi Kỷ dịch. Quốc văn cụ thể (Tân Việt Nam thư xã Hà Nội). Từ đó đến nay, bản dịch được chính thức mang tên Bùi Kỷ, sau Bùi Văn Nguyên chỉnh sửa bản dịch này cũng ghi rõ “dựa theo bản dịch của Bùi Kỷ”. Kết luận mà PGS.TS. Nguyễn Đăng Na rút ra là: Bùi Kỷ đã lấy nguyên văn cả lời giới thiệu và bản dịch BNĐC của Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, đưa vào Quốc văn cụ thể, để người đời lầm tưởng do chính ông dịch, nay đã biết rõ thì nên trả lại bản dịch cho Trần Trọng Kim. Với tư liệu minh bạch, văn phong mạch lạc, phát hiện của PGS. Nguyễn Đăng Na đầy sức thuyết phục. Từ đó, trên phương diện công luận, có thêm một cách đề chú về dịch giả BNĐC: “Gần đây có ý kiến cho rằng bản dịch này của Trần Trọng Kim”(3).

 

Tôi cũng thấy đây là một tìm tòi công phu, song tôi muốn xem xét lại dịch giả BNĐC dưới giác độ quan hệ, và liên quan đến quan hệ là vấn đề nhân cách, đạo nghĩa qua ba danh gia Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Bùi Văn Nguyên có liên quan đến bản dịch BNĐC hiện hành.

 

Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ đều là học giả nhà Nho còn để lại không ít công trình hữu ích với học thuật nước nhà. Tiếp xúc với gia đình con cháu cụ Bùi Kỷ năm 2005, tôi được con dâu cả của Cụ, bà quả phụ Trần Thị Thận 89 tuổi và Bùi Hoàng (nguyên Hiệu trưởng trường chuyên Lê Quý Đôn thị xã Hà Đông, đã nghỉ hưu), con bà, cháu đích tôn Cụ Bùi Kỷ, cho biết một số thông tin ít nhiều có liên quan đến bản dịch BNĐC. Bùi Kỷ (1887-1960) kém Trần Trọng Kim (1882-1953) 5 tuổi, nhưng sớm trở thành bạn tri âm, đến khi Trần Trọng Kim lấy bà Bùi Thị Tuất, em ruột Bùi Kỷ làm vợ kế, thì hai ông trở thành anh em. Bà Thận tuổi cao nhưng còn minh mẫn kể về hai ông: “Cụ Bảng Bùi và Cụ Trần vừa là bạn hữu vừa là anh em cùng phối hợp biên soạn, dịch thuật chung”. Bùi Hoàng có nghe thân phụ Bùi Anh kể lại: “Cụ Bảng Bùi thường khen Cụ Trần tiếp nhận Hán học cực kỳ thông minh, ngược lại về Tây học Cụ Bảng học thêm nhiều ở Cụ Trần. Đặc biệt, Cụ Trần rất trân trọng tài văn chương của Cụ Bảng”. Điều này rất phù hợp với bài: “Nay kính tựa, Lệ Thần Trần Trọng Kim” viết cho Quốc văn cụ thể: “Bùi Ưu Thiên là một nhà văn học có giá trị hiện thời ở nước ta, và lại là dòng dõi thi lễ khoa giáp trong mấy đời, cho nên nghề văn của ông đã tinh, mà học lực lại uyên bác... không nỡ để cái nền văn học cũ mai một đi, chịu khó làm quyển Quốc văn cụ thể...(4). Như vậy, sau khi gặp gia đình con cháu Cụ Bảng, vẫn chưa thể khẳng định được bản dịch BNĐC là của ai, nhưng lại vạch ra hướng có thể là dịch chung nhau. Điều này không dễ vì bản dịch ấy văn phong, tài tứ rất nhất quán. Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền trong cuốn Thơ văn Bùi Kỷ(5) có nói bởi khiêm tốn mà ngay tác phẩm và dịch phẩm của mình, Bùi Kỷ vẫn ghi là vô danh, riêng bản dịch BNĐC, ông khẳng định là của Bùi Kỷ song dẫn dụ chưa được cụ thể, nên ý kiến của Nguyễn Văn Huyền cũng chỉ để tham khảo. Qua một số tư liệu trên, có thể nhận xét: ngoài khả năng hai Cụ có thể dịch chung, ta biết thêm hai Cụ từng là bạn bè anh em thân thiết, luôn khiêm nhường tôn trọng nhau, và là hai học giả có một số công trình biên soạn, dịch thuật chung. Đó là quan hệ giữa Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim ở bản dịch xưa. Còn có một mối quan hệ nữa, có liên quan nhiều đến bản dịch BNĐC hiện hành giữa Bùi Kỷ và Bùi Văn Nguyên.

 

Hợp tuyển thơ văn Việt Nam - Tập II - Văn học Việt Nam thế kỷ X - thế kỷ XVII(6) ghi ở cuối bản dịch BNĐC: “Dựa theo bản dịch của Bùi Kỷ”. Lại chú giải thêm: “Bản này do Bùi Văn Nguyên dịch, dựa theo bản của Cụ Bùi Kỷ, có tranh thủ ý kiến của Cụ Bùi Kỷ lúc sinh thời và một số các cụ thâm nho khác”.

 

Tư liệu này rất giàu ý nghĩa. Trước hết đây là sự thực: Bùi Văn Nguyên có tiếp xúc với Bùi Kỷ lúc Bùi Kỷ còn sống, việc bản dịch mãi đến năm 1963 mới xuất bản khi cụ Bùi Kỷ đã qua đời 1960, không hề phủ định sự tiếp xúc từ trước. Lại nữa, trong khi tiếp xúc, không thấy Bùi Văn Nguyên nói gì về động thái của Bùi Kỷ. Thử hỏi nếu bản dịch  kia đích thực là của Trần Trọng Kim chứ không phải dịch chung hay bản thân Bùi Kỷ dịch, thì con người như Bùi Kỷ có thể nào mạo nhận, có thể nào giấu giếm điều đó với Bùi Văn Nguyên? Hay là bấy giờ Trần Trọng Kim đã mất, Bùi Kỷ cho là chuyện ai dịch bài cáo không cần kể rõ ngọn  ngành nên bỏ qua (?). Bùi Văn Nguyên là nhà giáo lão thành, học giả lớn của Trường Đại học Sư phạm, điều ông viết không nên, không thể nghi ngờ. Bùi Kỷ là nhà khoa bảng, nhân sĩ yêu nước, từng bôn ba ở hải ngoại, từng học ở Pháp và từng gặp Bác ở Paris vốn nổi tiếng văn chương đạo nghĩa ở đời. Bùi Kỷ trước, Bùi Văn Nguyên sau đều là nhân sĩ có uy tín, đạo đức. Chúng ta tin cả hai ông đã thể hiện thái độ thực sự cầu thị với bản dịch BNĐC. Từ đó suy ra, coi bản dịch BNĐC xưa chỉ là của Trần Trọng Kim lại cũng có chỗ chưa thật ổn. Ngoài ra, quan niệm bản quyền dịch giả của thời đại và giữa Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ là thế nào, ta chưa hiểu rõ. Nên chăng là một nhận xét: Gần đây có người cho rằng bản dịch BNĐC xưa kia vẫn cho là của Bùi Kỷ, được Bùi Văn Nguyên chỉnh lý để thành bản hiện hành, có thể là của Bùi Kỷ dịch chung với Trần Trọng Kim. Cứ một mực coi bản dịch chỉ là của Trần Trọng Kim mà không bàn cãi cho rõ thêm, e chưa cạn nhẽ vẹn tình.

 

Về nhan đề BNĐC. Văn học cổ để lại một số tác phẩm không có nhan đề. Người thời sau đặt đề cho những tác phẩm ấy bằng nhiều cách kiểu khác nhau. Trường hợp bốn kiệt tác thì Nam quốc sơn hà là theo cách đặt đề có từ Kinh Thi (Ví dụ: bài Quan thư là lấy chữ trong câu thơ đầu: Quan quan thư cưu; bài Đào yêu là lấy chữ trong câu thơ đầu: Đào chi yêu yêu), Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ đều do người sau đặt theo các kiểu cách khác nhau. Nhan đề BNĐC có phải như vậy? Sách ĐVSKTT trước khi dẫn nguyên văn bài Cáo, chỉ viết: “Đế ký bình Ngô, đại cáo thiên hạ, kỳ văn viết: Nhân nghĩa chi cử...” (Đế đã dẹp song giặc Ngô, đại cáo với thiên hạ, lời cáo văn như sau: Nhân nghĩa chi cử)... Trong câu văn có 4 chữ “bình Ngô, đại cáo” nhưng chúng không kết hợp thành nhan đề. Vậy nhan đề BNĐC xuất hiện từ bao giờ và do ai đặt đầu tiên?

 

Lam Sơn thực lục, bản in có câu: “Đế nãi mệnh Nguyễn Trãi tác Bình Ngô đại cáo, kỳ từ viết...”. (Vua sai Nguyễn Trãi làm bài Bình Ngô đại cáo, lời văn rằng...). Câu văn này cho ta biết Bình Ngô đại cáo xuất hiện thành nhan đề đầu tiên là trong Lam Sơn thực lục, và Nguyễn Trãi nếu là tác giả Lam Sơn thực lục thì chính là người đặt ra nhan đề ấy hoặc dùng nhan đề ấy của sĩ dân đã được truyền miệng không biết từ bao giờ. Có điều Lam Sơn thực lục, bản in hiện còn soạn năm 1431 đã bị các sử thần thời sau san định, cho in 1676(7), đến nỗi không còn vẹn toàn nữa (“Phi toàn thư dã” - Nghệ văn chí - Đại Việt thông sử - Lê Quý Đôn). Cũng còn ý kiến cho rằng Nguyễn Trãi chưa hẳn là tác giả hoặc chủ biên Lam Sơn thực lục. Hơn nữa, bản in Trùng san Lam Sơn thực lục năm 1676 hiện còn đã bị mất một số tờ, trong đó có tờ ghi câu: “Đế nãi mệnh Nguyễn Trãi tác Bình Ngô đại cáo, kỳ từ viết”... Tờ bị mất đã được người thời sau dựa vào các bản chép tay chép bù vào. Vì vậy, nói nhan đề BNĐC do Nguyễn Trãi hoặc những ai đó đặt khi biên soạn Lam Sơn thực lục vẫn còn phải tồn nghi. Ngoài Lam Sơn thực lục, chưa tìm thấy nhan đề Bình Ngô đại cáo trong thư tịch đáng tin cậy ở thế kỷ XV, kể cả trong ngôn bản ĐVSKTT thời Lê Thánh Tông. Sang thế kỷ XVI, thấy Lê Tung dùng nhan đề BNĐC trong bài Việt giám thông khảo tổng luận viết thời Lê Tương Dực. Đoạn văn mà BNĐC được hiểu là nhan đề đích thực, viết như sau: “Nhược phù kiến Thái miếu nhi phụng tổ khảo, thiết học hiệu dĩ minh nhân luân. “Bình Ngô đại cáo” vô phi nhân nghĩa trung tín chi ngôn. “Lam Sơn thực lục” vô phi tu tề trị bình chi đạo. Nghi hồ định Đại Việt chi càn khôn, điên Hoàng triều chi xã tắc, khởi Triệu Đinh Lý Trần sở năng cập tai” (Còn như dựng Thái miếu để thờ tiên tổ, lập học hiệu để tỏ nhân luân. Bình Ngô đại cáo không câu nào không phải là lời nhân nghĩa, Lam Sơn thực lục không việc nào không phải là đạo tu tề trị bình. Bình định được trời đất của Đại Việt, đặt vững được xã tắc của Hoàng triều, các đời Triệu, Đinh, Lý, Trần làm sao sánh kịp)(8).

 

Lê Tung (tức Dương Bang Bản) quê Thanh Liêm, nay thuộc Hà Nam. Tiến sĩ - Thượng thư - Đông các đại học sĩ - Đôn Thư bá trụ quốc... vâng theo sắc chỉ của Lê Tương Dực soạn Tổng luận năm 1514. Bài Tổng luận nổi tiếng được đưa toàn bộ vào phần đầu của bộ quốc sử ĐVSKTT. Có lẽ khi viết Tổng luận, Lê Tung đã dựa vào 4 chữ đã có sẵn (xem trên) trong câu văn, rồi lẩy ra thành nhan đề bài cáo, hoặc lấy nhan đề bài cáo đã được Nguyễn Trãi đặt trước (?), hoặc lấy của sĩ dân đã có từ trước. Lê Tung là người quảng bá hay là người đầu tiên đặt tên “Bình Ngô đại cáo” cho bản thiên cổ hùng văn, hiện chưa thể khẳng định.

 

Trong văn bản Nôm, tư liệu hiện còn cho thấy nhan đề BNĐC xuất hiện lần đầu tiên trong tập diễn ca lịch sử sớm nhất vào giữa thế kỷ XVI thời Mạc. Đó là Việt sử diễn âm(9), với đoạn thơ sau:

                             Thái Tổ đem lại phong cương,

                 Lên ngôi hoàng đế hiệu là Thuận Thiên.

                             Rày mừng thiên hạ đã yên,

                 “Bình Ngô đại cáo” văn liền dụ ra.

                             Khắp nơi thiên hạ gần xa,

                 Đều mừng lại thấy quốc gia bản đồ.

Việt sử diễn âm diễn ca lịch sử nước ta từ Hùng Vương đến triều Mạc. Tác phẩm xuất hiện vào thời Mạc, khoảng niên hiệu Cảnh Lịch (1548-1553) đời Mạc Phúc Nguyên, gồm hơn 2300 câu thơ lục bát, song thất lục bát và gần 50 bài thơ Hán Nôm. Tác phẩm tuy chép tay song vẫn có độ tin cậy, vì văn bản thơ Nôm có vần có điệu, thường ít bị biến đổi hơn văn xuôi. Qua đây, có thể thấy nhan đề BNĐC, sau Lam Sơn thực lục (?) và Tổng luận đã phổ cập khá sâu rộng vào sinh hoạt văn hóa cộng đồng, không những trong những tác phẩm chữ Hán, mà cả trong văn chương nôm na bình dị. Đây là chút tư liệu ít ỏi về nhan đề BNĐC mà tôi tìm được. Kính mong quý vị học giả và độc giả rộng rãi phát hiện thêm để nhan đề bài Cáo ngày càng có xuất xứ minh bạch.

 

Xung quanh bốn kiệt tác, nhất là với BNĐC, còn không ít vấn đề cần làm: về văn bản, dịch bản, về tác gia, tác phẩm, về nhan đề, từ cú... Bài viết này chỉ trình làng một số ghi nhận bước đầu1

 

                                                                                                  Xuân Đinh Hợi, 2007

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học số 6/ 2007