Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Home Nghiên cứu VH nước ngoài & VH so sánh Các thể thơ dân gian Lào

Các thể thơ dân gian Lào

Email In

 

Vũ công múa khap

 

Tọa lạc trong lục địa Đông Nam Á – nơi được mệnh danh là địa đàng của phương Đông, vương quốc Lào mang trong nó vẻ đẹp tiềm ẩn mà càng khám phá, người ta càng bất ngờ vì tính chất phong phú, đa dạng và không ngừng hoàn thiện. Một trong những vẻ đẹp đó chính là thơ ca dân gian – loại hình nảy sinh và phát triển cao ở những quốc gia có thế mạnh về nông nghiệp. Thơ ca dân gian được xem là thành tựu tiêu biểu nhất khi nói đến nền văn học dân gian Lào. Trong bài viết này, chúng tôi không có tham vọng giới thiệu toàn bộ kho tàng thơ ca dân gian Lào mà chỉ trình bày một số đặc điểm chung của các thể thơ dân gian Lào và giới thiệu những thể nổi tiếng như: kaap, saan, lam, khap, kon, khong….

 

1.          Trước hết là đặc điểm của các thể thơ dân gian Lào.

Đặc điểm đầu tiên và rất dễ nhận thấy, đó là các thể thơ dân gian Lào được sáng tác để phục vụ cho những nhu cầu tất yếu của một quốc gia nông nghiệp như lao động sản xuất, tổ chức lễ hội và các hình thức giải trí ở nông thôn. Một thể thơ được xem là hoàn thiện khi nó thấm nhuần vào đời sống của người dân lao động, trong những buổi lễ hội hoặc những sinh hoạt có tính chất quan trọng, chẳng hạn như lễ mừng năm mới, lễ tạ ơn thần mùa màng, lễ cưới, lễ tang, lễ ra đời, nghi thức chữa bệnh…. Vì đặc điểm này mà các thể thơ Lào phải có nội dung dễ hiểu, gần gũi với cư dân nông nghiệp lúa nước, cách thức thể hiện phù hợp và hấp dẫn để mọi người có thể thưởng thức và tham gia ứng tác.

Đặc điểm thứ hai là các thể thơ dân gian Lào luôn gắn bó chặt chẽ với âm nhạc dân gian, vũ đạo dân gian và diễn xướng dân gian. Một thể thơ Lào ra đời luôn đi kèm với cách thức trình diễn thể thơ đó và ý nghĩa, vai trò của nó thì không thể thay thế bằng một thể thơ khác. Hiếm có bài thơ dân gian nào của Lào được sáng tác chỉ đơn thuần để đọc hay ngâm ngợi thuần túy. Do đó, nói đến thơ ca dân gian Lào, người ta không dùng từ “đọc” mà dùng từ “hát”: hát lam, hát khap, hát saan, hát khong…. Lời thơ đi cùng làn điệu là đặc trưng không thể thiếu của thơ ca dân gian Lào. Đặc điểm này cũng tương ứng với thơ ca dân gian của Việt Nam (ta có hò, lý, hát quan họ, hát trống quân, hát xẩm…). Về âm nhạc, người Lào sử dụng rất nhiều nhạc cụ cổ truyền hết sức độc đáo như: đàn đá, đàn hai dây, mộc huyền cầm, sừng trâu, khen (một loại sáo tự chế từ ống trúc), trống tam tam…. Trong số này, khen là nhạc cụ phổ biến và được sử dụng nhiều hơn cả. Vũ đạo dân gian cũng hết sức được chú trọng trong việc kiến tạo một thể thơ hoàn thiện. Tất cả các vũ công Lào đều luyện tập rất chăm chỉ, bài bản và lâu dài trước khi biểu diễn. Họ cũng tự tay chăm chút cho các trang phục biểu diễn của mình. Nghệ sĩ diễn xướng các thể thơ Lào ngoài điều kiện tiên quyết là giọng hát điêu luyện, ngọt ngào thì một yếu tố không kém quan trọng nữa là phải có tài ứng tác để hoàn thiện bài hát trong quá trình biểu diễn. Có những thể thơ mà dung lượng của nó có thể diễn xướng trong một khoảng thời gian đáng kể: 72 giờ, và chỉ biểu diễn vào buổi tối.

Một đặc điểm nữa là, như chúng ta đã biết, Lào là một quốc gia đa dân tộc. Hơn 60 tộc người sống rải rác trải dài từ Nam Lào đến Bắc Lào như: Lào Lùm, Lào Thơng, Lào Xủng…. Do đó, các thể thơ dân gian khi lưu chuyển đến mỗi vùng miền, mỗi dân tộc lại được đón nhận theo những cách khác nhau và thường thay đổi ít nhiều để thích nghi với môi trường sống, phong tục tập quán và con người bản xứ. Dần dần, các dân tộc Lào sinh sống ở mọi miền đất nước hầu như không còn nhớ thể thơ ấy đến từ đâu mà lại nâng niu, quý báu nó như một tài sản riêng của dân tộc mình. Điều này thể hiện rõ nhất ở thể khap. Khap mang đặc điểm vùng miền sâu sắc đến mức tên thể khap của mỗi miền kèm luôn địa danh của miền đó: khap Thum Luang Phrabang, khap Xieng Khouang, khap Ngeum…

Cũng như đời sống của các thể thơ dân gian khác, các thể thơ Lào không ngừng được bổ sung và hoàn thiện. Từ một thể loại ban đầu là lam, đến nay đã có hàng trăm loại lam trên khắp lãnh thổ Lào. Các thể thơ Lào cũng không ngừng tiếp thu thêm những nét mới, thay đổi sao cho phù hợp hơn, phong phú hơn đúng với nguyện vọng và tầm đón nhận của khán thính giả trong từng thời kì, chẳng hạn như bớt đi những câu chữ quá rườm rà, cải tiến các quy định về âm luật và cách thức thể hiện, chế tạo thêm các nhạc cụ mới và cập nhật những vấn đề có tính thời sự trong nội dung. Chẳng hạn như saan trước đây được sáng tác như những lá thư, chủ yếu để bày tỏ những tình cảm thầm kín của nam hoặc nữ. Nhưng đến kháng chiến chống Pháp, nhân dân Lào hát saan để tuyên truyền ý thức yêu nước và tinh thần chống ngoại xâm. Nhờ đặc điểm này mà các thể thơ dân gian Lào được thổi vào nó một sức sống mới và ngày càng keo sơn với đời sống dân tộc.

2.          Chúng ta vừa điểm qua vài đặc điểm nổi bật của các thể thơ dân gian Lào. Tiếp theo, chúng tôi giới thiệu cụ thể tên một số thể thơ và cách thức thể hiện của nó.

 

                        KAAP:

Là một thể thơ được sử dụng để đọc hay hát lên trong các dịp lễ lạc. Hầu hết các bài thơ viết theo thể kaap được sáng tác để hát trong nhiều dịp khác nhau như lễ hội đua ghe ngo, lễ hội bắn pháo hoa… Khi một bài thơ viết theo thể kaap được hát lên, người Lào gọi đó là soeng. Bài thơ viết theo thể kaap không hạn chế dài ngắn, nhịp thơ đơn giản, âm cuối của câu trên vần với âm thứ hai hay thứ ba của câu dưới. Ví dụ:

“luo lae pheun

yaa ao hong nang

sua nang tam

sua lung taa

hai yam paan kaew

puu sang laew

laan laa chue cham”.

(Đừng ngồi trên bất cứ loại củi gì, cũng đừng ngồi cao hơn người cao tuổi hơn ta, đừng quên dành lòng tôn kính người cho người cao tuổi hơn ta và ghi nhớ lời dạy của cha ông).

 

Biểu đồ của một bài kaap: vần của những âm tiết nằm giữa dòng thơ

 

                        KON :

Là một thể thơ có cách gieo vần rất đặc biệt. Một bài kon có rất nhiều âm tiết trong một dòng, các chữ bên trong và ngoài cùng của các câu thường điệp âm và vần với các câu khác, có quy định rõ về vị trí âm. Một dòng thơ thường có bảy âm tiết chính đứng giữa cùng hai âm tiết cộng thêm trước và sau bảy âm tiết này. Có bốn loại kon: kon aan, kon phayaa, kon lam, kon hai (kon thet). Mỗi loại sử dụng cho một mục đích đặc biệt.

- Kon aan: thường được sử dụng để sáng tác những sử thi dài và phức tạp như Thao Suriwong, Thao Sangsinxai, Thao Kalaked, Khun Cheuang, Hoàng tử Vessantara, Thao Cheuang…. Những sử thi này thường được dùng để đọc trong những dịp như : lễ tang, lễ chào đời khi người mẹ vẫn còn ở cử, tân gia…

Ví dụ: một đoạn kon ann trong tác phẩm Hoàng tử Vessantara:

“mue  nan phaam ma no thao hi na son chai baap

man dai song on noi hua yum un chai

an waa song ka sat noi kum maan nong phii

nii bo dai lang laow boyaak pai

 phaam ko haa khueu mai phan tha nang khian phuuk

mat khaen luuk pha chao song noi no in

khue khao nan song khon khan hop

man ko hak fot mai tii khian kae dueng tae laew”

(Brahmin già cỗi là người đàn ông ác độc

Hắn có hai đứa con trai nên mỉm cười tràn trề hạnh phúc

Hắn bắt được hai đứa trẻ, một trai và một gái

Không thể trốn thoát, hai đứa trẻ vô cùng tuyệt vọng

Brahmin dùng dây leo trói tay chúng

Hai đứa trẻ thuộc dòng dõi của thần Indra

Bị Brahmin treo cứng cả tay chân

Và bẻ một cành cây quật chúng bay tới bay lui).

 

- Kon phayaa: là một bài thơ ngắn có hai hay bốn câu với những hạn chế về âm tiết giống kon aan. Kon phayaa sử dụng trong ba trường hợp. Thứ nhất là dùng để sáng tác tục ngữ, gọi là kon phayaa phaasit. Thứ hai là dùng để kể các truyện ngắn gọi là nithaan phayaa. Thứ ba là để làm một loại thơ gọi là phayaa to yae la waang bao sao.

Ví dụ: một kon phayaa phaasit

“ nam khun phae nam sai

chai dii phae chai haai”

(Nước trong vẫn hơn nước đục

Tính hiền vẫn tốt hơn hung hăng).

 

- Kon lam được sáng tác để hát với khen (một loại sáo của Lào). Loại này để hát các bài dân ca gọi là lam và ca sĩ hát lam được gọi là mo lam. Bài thơ lam tương tự như kaap hay kon aan, không có giới hạn câu thơ trong một bài thơ nhưng mỗi câu thơ phải có âm tiết vần với câu trước và sau nó. Ví dụ như:

“maa hen nong in tong taem taeng

tae phii yaeng yaak wao nam chao tae don

tae phii  khub khwaa khon mon lao ko lao

tae phii pong nam ao dai sii pii paai khao”

(Nhìn em, tôi thấy em đẹp như tranh thần Indra vẽ

Chỉ cần nhìn thoáng em thôi, tôi đã ước ao được trò chuyện với em suốt đời

Nhưng tôi vừa đánh mất bụi cỏ hoang định tặng riêng em

Chắc phải hơn bốn năm nữa tôi mới có thể khiến em đoái hoài).

 

- Kon hai hay kon thet là một loại thơ mà các nhà sư của Phật giáo thường dùng nó để sáng tác, gọi là mo phon trong những lễ đọc kinh. Vần của kon hai khá đơn giản, từ cuối cùng của câu trước chỉ cần vần với bất cứ từ nào ở câu sau.

Ví du: một đoạn kon hai nói về sự lên ngôi của nhà vua:

 “sii sii sit thi pha phon

 bo won a-di-lek

 a-nek te saa

sai ya man kha laa

 ma haa si li mang kha led

saad ta phet phom aa khom

khun bulom pun taeng laew

hai luuk kaew ok kin muang

sit thi huang tha long thaen

mue nii maen mue ma haa khun”

(Ôi, tất cả hạnh phúc là đây

Tràn đầy những điều tuyệt diệu trên đời

Năng lực mạnh mẽ

Thời khắc tốt đẹp

Thời khắc cực kì tốt đẹp

Tất cả những phép thuật quyền năng, là ngày

Khun Bulom truyền lệnh

Cho con trai ngài trị vì vương quốc này

Hưng thịnh trên ngai vàng quyền lực

Hôm nay là ngày tốt nhất trên đời).

 

                        KHONG :

Là một loại thơ có kết cấu giữa các câu thơ rất chặt chẽ, nối liền với nhau như bộ xương người nối các cấu trúc của cơ thể hay một phần của ngôi nhà nối liền với các phần còn lại của ngôi nhà. Có rất nhiều loại khong và tên mỗi loại tùy thuộc vào số âm tiết trong một dòng thơ. Khong ít nhất là khong song (hai âm tiết), khong nhiều nhất là khong chet (bảy âm tiết). Cách dụng vần trong câu của bài thơ hai âm tiết và ba âm tiết giống nhau ở chỗ âm tiết cuối trong câu trên vần với âm tiết đầu của câu dưới. Với những bài bốn, năm, sáu và bảy âm tiết, chúng giống kaap, thể loại thơ ra đời sớm hơn khong.

Ví dụ một bài khong song:

“pong puu

pong paa

maa pao

khao khong

 kong saam

naam lueay

 mueay khua”

(Đàn cua

Đàn cá

Bơi lội chẳng cần chi

Chín cái lờ cá

Một bát đầy

Dây leo nhiều gai

Con gà mệt mỏi).

 

Biểu đồ âm tiết bài khong song

 

                        SAAN:

Một loại thơ hay bài hát được sáng tác để trao các lời nhắn gửi, thư từ, đặc biệt được ưa chuộng trong cách bày tỏ tình cảm.

Ví dụ một bài saan:

“chueng dai khian saan soi paisanii nam hod

 wang chak thaam khao kho kho son huam phathai

po aa-lai thueng nong saen lathom thon sok

maen chak tai faak faa bo laa khaang haang naang”

(Tôi viết một bức thư bằng thơ gửi tặng em

Ước ao em nằm bên tôi, để hai ta hòa chung nhịp thở

Nhìn em mãi mà lòng tôi đau nhói

Nếu tôi được lên trời mà không đem được em theo bên tôi thì cũng đâu có ý nghĩa chi!).

 

                        LAM:

Còn được gọi là mor lam, là một thể thơ cổ của Lào, được sáng tác để kết hợp với múa hát, chủ yếu diễn tả một tình yêu đơn phương, những gian lao của đời sống nông thôn, đôi khi có giọng điệu sôi nổi, châm biếm. Lam có nghĩa là bài hát điêu luyện hay người hát điêu luyện. Đặc trưng cơ bản của hát lam là sử dụng một giai điệu thật linh hoạt sao cho phù hợp với mọi ca từ của bài hát. Thông thường, lam sẽ được người hát phối hợp một cách sáng tạo, hài hòa giữa các yếu tố lời ca, nhạc khí và âm vực. Nhạc cụ kết hợp với hát lam thường là khen. Hiện nay, lam được sáng tác trên các nhạc cụ điện tử, tiết tấu hát và nói rất nhanh, tương tự như nhạc rap của Mĩ. Có rất nhiều loại lam:

- lam phi fah: được hát như một loại lễ nghi để xoa dịu bệnh tật cho một cá nhân. Âm nhạc xuất phát từ làn điệu yao, một làn điệu của âm nhạc Lào. Tuy nhiên, người biểu diễn lam phi fah thường không phải là nhạc công hay ca sĩ chuyên nghiệp (thường là phụ nữ cao tuổi) mà là những thầy thuốc mang niềm tin rằng mình sẽ chữa được bệnh bằng cách hát lam.

- mor lam plern: dùng để biểu diễn trong những lễ hội, do một nhóm người trình diễn, thường hòa trộn giữa ca hát và nhảy múa. Một mor lam plern thường có một bài thơ hát theo làn điệu yao, với một tốc độ nhịp nhàng trong màn mở đầu của buổi trình diễn.

- lam phuen: dùng để thuật lại những truyền thuyết dân tộc hay những câu chuyện Jataka, do một nam ca sĩ trình bày với nhạc cụ là khen. Một loại phát sinh từ lam phuen là lam rueang, có khi do phụ nữ trình diễn, ca sĩ hát cùng với những vũ công vận trang phục sặc sỡ. Biểu diễn một lam phuen thường phải mất từ một đến hai đêm. Loại này hiện nay rất hiếm khi được trình diễn.

- lam sithandone (còn gọi là lam Si Pan Don): thường biểu diễn với một cây khen độc nhất, kết hợp giữa thể thơ saan và làn điệu yao của Lào. Nhịp điệu của lam sithandone thường không có quy định chặt chẽ, thường bắt đầu với tốc độ nhanh và thay đổi dần theo nhịp thơ.

- lam som: loại này bao gồm sáu âm chủ, có tốc độ của nhịp điệu trong mỗi thanh âm, kết hợp với nhạc đệm của một cây khen, chơi khá chậm rãi. Lam som gần giống với điệu lam phuen. Cả lam som và lam sithandone đều thiếu độ sắc của thanh âm khi đột ngột hạ thấp theo giai điệu của những bài hát khác ở miền Nam Lào. Lam som ít khi được trình diễn và đến nay có thể đã bị mai một.

- Lam Khon Savane: có xuất xứ từ Savannakhet của Lào, là một trong những loại lam phổ biến nhất. Lam Khon Savane thường sử dụng thể thơ saan, với một âm trầm trong một dòng, biểu diễn tập thể và sử dụng một nhạc cụ. Lam Khon Savane được biểu diễn chủ yếu trong các lễ hội.

- Lam Phu Thai: sử dụng làn điệu yao, do một người hát chính cùng một dàn đồng ca.

- Lam Tang Vay: là một loại thơ kết hợp với âm nhạc đặc trưng của người Môn – Khmer, do một dàn đồng ca trình bày ở cung bậc thấp, có nhạc cụ. 

- Lam Saravane: cũng có nguồn gốc từ người Môn – Khmer, sử dụng làn điệu yao, có một câu hát bè trầm ở nhịp độ nhanh, trong khi trống và khen ở mức độ vừa phải.

 

                        KHAP:

Bên cạnh lam còn có khap. Về cơ bản, lam và khap gắn bó chặt chẽ với nhau. Lam phổ biến ở miền Nam nước Lào, còn khap lại được ưa chuộng ở miền Bắc. Khap cũng xuất hiện trong các lễ hội, trong các hình thức hát đối đáp nam nữ, giàu chất trữ tình và nhạc điệu. Dưới đây là một số loại khap nổi tiếng của Lào, chủ yếu kèm theo tên một địa phương:

- Khap Thum Luang Phrabang: được biểu diễn tập thể ở Luang Phrabang. Loại này bao giờ cũng dùng những bài ca dân gian trên sân khấu. Người hát và khán giả luân phiên nhau hát từng câu một theo từng giai điệu khác nhau, có một tốp múa minh hoạ.

- Khap Xieng Khouang: còn gọi là Khap Phua, sử dụng làn điệu yao, những câu hát có vần điệu do ca sĩ nam biểu diễn, những câu không có vần điệu do ca sĩ nữ đảm nhiệm.

- Khap Ngeum: sử dụng làn điệu yao, người hát xướng lên một câu thơ, tiếp đó là một đoạn khen chậm đủ để người diễn xướng nghĩ ra một câu thơ khác.

- Khap Sam Neua: cũng sử dụng làn điệu yao. Người diễn xướng sử dụng một cây khen, hát từng câu thơ một cách nhịp nhàng.

Lam và khap đã đi sâu vào đời sống sinh hoạt và lễ hội của người Lào, là một nét đẹp của văn hoá dân tộc.

 

Trên đây chỉ là một phần trong các thể thơ dân gian phong phú của Lào. Do muốn đi sâu vào tìm hiểu thể thơ nên chúng tôi hạn chế trong việc giới thiệu nội dung của các thể thơ này. Nhìn chung, các thể thơ dân gian Lào đều được sử dụng để chuyển tải nhiều vấn đề của cuộc sống và trên hết là những khía cạnh tình cảm của người lao động. Nó đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người Lào. Các thể thơ Lào “có đầy đủ khả năng biểu hiện những cung bậc khác nhau của tình cảm, những nét chung và riêng của cả nước và của từng bộ tộc khác nhau ở Lào. Nó từng, đã và sẽ là cơ sở cho sự phát triển của văn học viết và các loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp” (Đức Ninh).

Tâm hồn của một dân tộc đọng lại trong nội dung thơ ca của dân tộc đó, còn hình thức thể hiện là cách biểu lộ nội dung ấy. Bước đầu tìm hiểu các thể thơ dân gian của Lào chính là một cách tiếp cận với tâm hồn của một dân tộc vừa gần lại vừa xa với nước Việt chúng ta.

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.                  Ngô Văn Doanh, Từ điển văn hóa Đông Nam Á, NXB Văn hóa thông tin, (TP.HCM), 1999.

2.                  Đức Ninh (chủ biên), Từ điển văn học Đông Nam Á, NXB Khoa học xã hội, (Hà Nội), 2004.

3.                  Đức Ninh (chủ biên), Văn học khu vực Đông Nam Á, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000.

4.                  Lưu Đức Trung (chủ biên), Văn học Đông Nam Á, NXB Giáo dục, (Hà Nội), 1998.

5.                  Trần Ngọc Dung (dịch), Lịch sử văn học Lào (tập 2), NXB Giáo dục, (Hà Nội), 1998.

6.                  http://www.blinkbits.com/en_wikifeeds/Mhor_lum

7.                  http://www.seasite.niu.edu/lao/LaoFolkLiterature/Chapter11/chapter11_whole.htm

 

 

 

 

Các nhà tài trợ

   

Đăng nhập

Giảng viên, nhà nghiên cứu có thể đăng nhập để gửi bài cho trang web VHNN tại đây.



Thành viên trực tuyến

Hiện có 1393 khách Trực tuyến