Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Home Nghiên cứu Hán Nôm Dụ tế huân thần - Một tuyển tập văn tế có giá trị cao

Dụ tế huân thần - Một tuyển tập văn tế có giá trị cao

Email In

 

     1. Dụ tế huân thần 諭祭勲臣 (Lê Quý Đôn và Phạm Quý Thích tuyển soạn) là một tuyển tập văn tế chữ Hán ra đời từ nhiều thời điểm khác nhau. Đây là một bản sách viết tay bằng mực Tàu đen trên chất liệu giấy dó, gồm 194 trang, kích thước 31x22cm. Ở trang đầu, phía trên bên phải ghi 諭祭勳臣 Dụ tế huân thần, phía dưới bên phải ghi 立齋笵貴適 Lập Trai Phạm Quý Thích và 桂堂黎貴惇 Quế Đường Lê Quý Đôn.

     Tập sách gồm 19 bài văn tế, trong đó có bài ghi tên tác giả, cũng có bài khuyết danh hoặc có ghi tước vị nhưng chưa rõ tên tác giả. Phần lớn là những bài dụ tế các quan lại có công với triều đình và tướng sĩ trận vong; một bài văn tế quan Thái thú Bắc triều, một bài văn tế Công chúa đời Trịnh, năm bài văn tế người thân. Ngoài ra, phần cuối sách còn có thêm một số bài văn phả khuyến, mừng thọ, mừng thi đổ; câu đối thù tặng, phúng viếng…

     2. Các bài văn tế trong Dụ tế huân thần hầu hết đều có kết cấu gồm bốn phần như thường thấy: Lung khởi, Thích thực, Ai vãn, Kết. Thể tài chủ yếu được sử dụng ở đây gồm hai loại:

      2.1. Văn xuôi: được làm khá tự do, thoải mái, không câu thúc về đối đăng niêm luật. Nhưng nhờ sử dụng tốt các từ ngữ luyến láy, trùng điệp cấu trúc chuyển tải những nội dung tình cảm chân thật, gần gũi, sâu sắc, bi thiết nên vẫn tạo được sức biểu cảm, lay động cao. Như các bài Đại nội tử tế kỳ tỷ văn (Bài văn làm thay vợ tế chị vợ), Tế trưởng vong tỷ văn (Văn tế chị cả đã mất).

      2.2. Phú: được sử dụng nhiều nhất là phú theo cả hai lối: Phú lưu thủy và phú Đường luật, với những bài như Khâm sai dụ tế Luyện trung công văn (Bài văn quan Khâm sai theo chỉ dụ vua tế Luyện trung công), Khâm sai điếu Hưng Hóa đạo trận cố tướng sĩ văn (Bài văn quan Khâm sai theo chỉ dụ vua tế tướng sĩ trận vong ở đạo Hưng Hóa), Tế tôn sư Tả thị lang văn (Văn tế tôn sư Tả thị lang), Bảng trung hầu tế tâm hữu Thuần trung hầu văn (Bài văn Bảng trung hầu tế bạn thân Thuần trung hầu), Trịnh trưởng Công chúa thành phục văn (Văn tế lễ Thành phục trưởng Công chúa họ Trịnh-Phạm Quý Thích), Dụ tế thái thú Bắc Triều văn (Văn dụ tế Thái thú Bắc triều)…

     3. Đặc sắc nhất về hình thức nghệ thuật là sử dụng câu cú một cách đa dạng, phong phú chuyển tải được nhiều giọng điệu: đau đớn thê lương, tiếc nuối nhớ nhung, bi tráng hào hùng, ưu tư tự sự, chân thành tha thiết…

      3.1. Có những câu tự do không câu nệ âm luật và độ dài ngắn, nhưng da diết, thâm trầm xuất hiện nhiều trong những bài văn tế làm theo thể văn xuôi:

     “Bi tư nhân chi yểu, thương phụ mẫu chi tâm, cảm gia lương chi niệm, bất năng bất phủ ưng nhi đại đỗng dã.

     Phù phụ mẫu sinh hạ tử nữ, hữu gia thất thập hữu nhất nhân, độc ngô tỉ hoạn bệnh, nhi muội khổ bần.

     Ngô tỉ tại thời, cái thường viết: Bần bệnh giai nhân sở khổ.

     Nhiên ninh vi muội chi bần, bất ninh vi tỉ chi bệnh dã.”

     (Thương chị tôi yểu mệnh, làm cha mẹ đau lòng, khiến chồng chị nát tan tâm khảm, em cũng không thể không xót xa kêu khóc. Ôi, cha mẹ sinh các con, mười một người đều đã thành gia thất, riêng chị bệnh hoạn, em lại khổ nghèo. Lúc còn sống, chị đã từng nói: “Nghèo bệnh đều là những thứ khổ của con người.” Nhưng thà em chịu khổ nghèo, chẳng muốn chị bệnh đau.)

(Đại nội tử tế kỳ tỷ văn)

      3.2. Câu bốn chữ hoặc tám chữ, câu song quan, cách cú, gối hạc thường đi theo từng cặp được vận dụng nhuần nhuyễn, đa dạng trong các bài theo thể phú, trong đó, tần suất cao nhất là kiểu câu cách cú. Điều này giúp tạo nên sự cộng hưởng về âm điệu: lúc dồn dập thống thiết, lúc chậm rãi tiếc nhớ, lúc mênh mang tư lự… Những kết cấu ấy thường mang nội dung đối nhau, vần luật có khi chặt chẽ, có khi phóng khoáng. Xin trích dẫn vài câu tiêu biểu:

     - Câu hợp vần:

      “Huân trì(1) kí quán cửu nhi kính chi.; Cừu mã(2) dữ đồng tệ vô hám hĩ.

      Đãn vị bách niên huân nghiệp, phương danh tề thượng ư cảnh chung; Hà kì nhất dạ phong sương, linh hữu độc thuyên ư cảo lí.”

(Kết bạn từ lâu hòa kính huân trì; Cừu mã dùng chung nát hư chẳng tiếc.

     Đã gọi trăm năm công nghiệp, tiếng thơm ghi khắc ở chuông vàng; Nào hay một tối phong sương, bạn chóng vùi thân nơi cách biệt.)

     (Bảng trung hầu tế tâm hữu Thuần trung hầu văn)

            - Câu không hợp vần:

            “Trí dũng tiêu ma ư khoáng nhật, anh hùng chi lệ mãn khâm; Tuyết lam bạo lộ ư kinh tuần, chiến sĩ chi thi khỏa cách.

Hữu đãi tễ ư thỉ thạch chi hạ; Hữu hoành ly ư phong nhẫn chi giao.

Cốt điền cự cảng chi lưu; hài tịch bình lâm chi mãng.”

            (Trí dũng tiêu tan trong chốc lát, lệ anh hùng rơi đẫm nhung y; Tuyết sương dày dạn đã bao ngày, thây chiến sĩ quấn tròn da ngựa.

     Người đợi bỏ thân dưới làn tên đá; Kẻ gặp hiểm nghèo trước mũi kiếm đao.

     Xương cốt lấp đầy sông lớn; Thi hài chồng khắp rừng hoang.)

                (Khâm sai điếu Hưng Hóa đạo trận cố tướng sĩ văn)

      3.3. Ngoài ra, còn có thể điểm qua một số đặc sắc nghệ thuật sau:

      - Về mặt ngôn từ, Dụ tế huân thần là một tuyển tập văn tế bằng chữ Hán nên ngôn từ vô cùng hàm xúc, uyên bác, mượn nhiều điển cố điển tích trong thư tịch cổ Trung Quốc.

      - Các biện pháp nghệ thuật khác như ẩn dụ, hoán dụ, ước lệ, tượng trưng… vô cùng phong phú, đặc sắc; Phương thức trùng điệp cũng được vận dụng với mức độ khá cao không chỉ về từ, ngữ mà cả câu và cấu trúc… đều đã góp phần tạo nên giá trị nghệ thuật cao cho từng tác phẩm.

     4. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu (phiên âm, dịch nghĩa, chú thích) một bài văn tế tiêu biểu trong tập văn tế này: Tế Vũ tướng công văn (Lê Quý Đôn soạn)

                           祭武將公文

                    (延河榜眼黎貴惇撰)

            嗚呼!

            樗陰暗淡,滿天風雨何仇; 梓邑凄凉,竟夜禽猨若訴。

     長嗟我父之曷歸; 浩嘆蒼天之莫籲。

     痛惟:

     地步高華,天資超悟。

     帳裏勵三冬之學,辛勤馬枕車囊; 胸中搜二酉之藏,淹貫陸厨杜庫。

     八文成韻,蓺圃高超; 千古馳名,詞林獨步。

     吐芳汗於秋棘,鵬摶北海之風; 洒麗藻於詞塲,豹變南山之霧。

     桂枝早見騰芳,槐蔭預知必做。

     春圍射策,四海瞻榜上之龍; 東閣掄才,群英讓文中之虎。

     陪政府而魚頭鯁概,子文之喜愠都忘;陟諫垣而鐵面風棱,長孺之招麾莫顧。

     窮通盡付於青蒼; 忠愛只舒於悃素。

     鸞坡两入,演青綸而日贊淵猷; 烏府重登,簪白筆而霜嚴憲度。

    多年中外丕揚,一節後先疎附。

     六籌戎陣,餘威杨柳之塲; 五試民庸,遺愛甘棠之樹。

     剛腸標晚歲之長松,特操屹中流之砥柱。

     三榮完福,人稱陸地之神僊; 九老英逰,时踵香山之步武。

     比皐重設於閒堂,晚景将安於逸趣。

     遠廣平於闕下,紫宸懷敢諫之英風;起司馬於洛中,蒼生望及辰之霖雨。

     暮年而可道具經綸,数月預聞政將調緌。

     每谓壽星長照,百年尚擬於龜齡; 何期箕尾遽推,一 枕忽迷於蝶羽。

     噫! 雲鎻寒山,月沈遠浦。

     跼天蹐地罔旣凄怜; 陸海癯山曷滕悲慕。

     一生之風栽節操,冰雪同情; 千秋之事業勲名,縑緗不朽。

     精英雖已斂於山河,聞望尙昭垂於宇宙。

     悠悠景仰休風,瞿瞿愈增悲…(3)。

     静惟頂踵,恨涓滴之未酬; 遐望音容,慨羹墙之如覩。

     今則,灵鳴吿迁,行途暫駐。

     澗毛沼沚,聊將薄奠数盃; 地義天經,庶表昪倫万古。

     嗚呼痛哉!

     Phiên âm

      TẾ VŨ TƯỚNG CÔNG VĂN

      (Diên Hà Bảng nhãn Lê Quý Đôn soạn)

     Ô hô! Xư âm(4) ám đạm, mãn thiên phong vũ hà cừu; Tử ấp(5) thê lương, cánh dạ cầm viên nhược tố.

     Trường ta ngã phủ chi hạt quy? Hạo thán thương thiên chi mạc dụ?

     Thống duy:

     Địa bộ cao hoa; Thiên tư siêu ngộ.

     Trướng lý lệ tam đông chi học, tân cần Mã chẩm Xa nang(6); Hung trung sưu nhị Dậu(7) chi tàng, yêm quán Lục trù Đỗ khố(8).

     Bát văn(9) thành vận, nghệ phố cao siêu; Thiên cổ trì danh, từ lâm độc bộ.

     Thổ phương hãn ư thu cức, bằng đoàn Bắc hải chi phong; Sái lệ tảo ư từ trường, báo biến Nam sơn chi vụ(10).

     Quế chi tảo kiến đằng phương; Hòe ấm dự tri tất tố.

     Xuân vi xạ sách, tứ hải chiêm bảng thượng chi long; Đông các luân tài, quần anh nhượng văn trung chi hổ.

     Bồi chính phủ nhi ngư đầu ngạnh khái, Tử Văn chi hỉ uẩn đô vong; Trắc gián viên nhi thiết diện phong lăng, Trường Nhụ chi chiêu huy mạc cố.

     Cùng thông tận phó ư thanh thương; Trung ái chỉ thư ư khổn tố.

     Loan pha(11) lưỡng nhập, diễn thanh luân(12) nhi nhật tán uyên du; Ô phủ(13) trùng đăng, trâm bạch bút nhi sương nghiêm hiến độ.

     Đa niên trung ngoại phi dương; Nhất tiết hậu tiên sơ phụ.

     Lục trù nhung trận, dư uy dương liễu chi trường(14); Ngũ thí dân dung, di ái cam đường(15) chi thụ.

     Cương trường biêu vãng tuế chi trường tùng; Đặc tháo ngật trung lưu chi để trụ.

     Tam vinh hoàn phúc, nhân xưng lục địa chi thần tiên; Cửu lão(16) anh du, thời chủng Hương Sơn chi bộ vũ.

     Bì cao(17) trùng thiết ư nhàn đường; Vãn cảnh tương an ư dật thú.

     Viễn Quảng Bình ư khuyết hạ, tử thần hoài cảm gián chi anh phong; Khởi Tư Mã ư Lạc Trung, thương sinh vọng cập thời chi lâm vũ.

     Mộ niên nhi khả đạo cụ kinh luân; Sổ nguyệt dự văn chính tương điều lũ.

     Mỗi vị thọ tinh trường chiếu, bách niên thượng nghĩ ư quy linh; Hà kỳ Ky Vỹ(18) cự thôi, nhất chẩm hốt mê ư điệp vũ.

     Y! Vân tỏa hàn sơn, nguyệt trầm viễn phố.

      Cục thiên tích địa(19) võng kí thê linh; Lục hải cù sơn hạt thăng bi mộ.

     Nhất sinh chi phong tài tiết tháo, băng tuyết đồng tình; Thiên thu chi sự nghiệp huân danh, kiêm tương bất hủ.

     Tinh anh tuy dĩ liễm ư sơn hà; Văn vọng thượng chiêu thùy ư vũ trụ.

     Du du cảnh ngưỡng hưu phong; Cù cù dũ tăng bi trụ.

     Tĩnh tuy đỉnh chủng, hận quyên trích chi vị thù; Hà vọng âm dung, khái canh tường(20) chi như đổ.

     Kim tắc, linh minh cáo thiên, hành đồ tạm trú.

     Giản mao chiểu chỉ, liêu tướng bạc điện sổ bôi; Địa nghĩa thiên kinh, thứ biểu biện luân vạn cổ.

     Ô hô thống tai!

     Dịch nghĩa

     VĂN TẾ VŨ TƯỚNG CÔNG

     (Bảng nhãn Lê Quý Đôn ở Diên Hà soạn)

      Ôi! Bóng xư ảm đạm, mưa gió đầy trời oán trách ai? Quê cũ thê lương, chim vượn suốt đêm như muốn ngỏ. 

      Than dài tiền bối đã về đâu? Gào lớn trời xanh sao chẳng thấu?

      Nhớ Tướng công xưa:

      Thiên tính thông minh, thênh thang tiền lộ.

     Chăng màn ba đông gắng học, gian nan Mã chẩm Xa nang; Trong tâm Nhị Dậu cố tìm, thông suốt Lục trù Đỗ khố.

     Văn bát cổ thành vận, vườn tài nghệ cao siêu; Tiếng thơm dậy ngàn thu, rừng thơ văn độc bộ.

     Nhả ngọc châu nơi Hương, Hội, gió đông thỏa chí côn bằng; Tuôn giai cú chốn thi đàn, núi bắc rỡ màu hổ báo.

     Quế thơm sớm tỏa từ lâu; Bóng hòe dự tri ắt rõ.

     Vườn xuân cưỡi ngựa bắn tên, bốn biển xem rồng chiếm danh đầu; Đông các tuyển chọn anh tài, quần hùng phục tên đề bảng hổ.

     Giúp triều đình thì trung thành cương nghị, Tử Văn vui giận đều quên; Làm Gián quan luôn thiết diện vô tư, Trường Nhụ vẫy mời chẳng ngó.

     Vận cùng thông để mặc trời xanh; Niềm trung ái tràn đầy tạng phủ.

     Vườn loan hai lượt, diễn thanh luân soi sáng đạo uyên thâm; Ô phủ lại vào, dùng bạch bút để giữ nghiêm phép độ.

     Nhiều năm khen ngợi khắp trong ngoài; Khí tiết xưa nay đều ngưỡng mộ.

     Sáu phép dùng binh, vang danh dương liễu thao trường; Năm cách trị dân, mến đức cam đường cổ thụ.

     Bóng tùng mùa đông vững chãi chí kiên trinh; Trụ núi giữa dòng nêu cao gương tiết tháo.

     Tam vinh vẹn phúc, người xưng thần thánh cõi đời; Cửu lão vân du, thường dạo Hương Sơn cảnh tú.

     Giảng kinh lại mở nơi nhàn đường; Cảnh muộn sẽ tìm về dật thú.

     Rời Quảng Bình đến cửa khuyết, chốn thâm cung mang khí khái gián quan; nhậm Tư mã ở Lạc Trung, thương sinh đợi cơn mưa vào vụ.

     Tuổi cuối đời tài lão luyện kinh luân; Trong mấy tháng phép trị dân ổn thỏa.

     Mỗi lúc thọ tinh chiếu sáng, nghĩ trăm năm tuổi hạc da mồi; Nào hay Ky Vỹ chóng bay, theo cánh bướm mải mê mộng ngủ.

     Ôi! Mây phủ hàn sơn, trăng chìm viễn phố.

     Khum trời rón đất, nỗi thê lương chẳng thể cạn lời; Biển rộng núi cao, tình luyến mộ không phương bày tỏ.

      Thanh cao một đời khí phách, băng tuyết đồng tình; Công danh sự nghiệp ngàn năm, văn chương bất hủ.

      Tinh anh tuy đã nhập với núi sông, tiếng tăm vẫn vang dài cùng vũ trụ.

      Xa xăm càng thiết thảm sầu; Vòi vọi ngưỡng trông đức độ.

      Lặng nhớ mọi điều chung thủy, hận ơn sâu chưa đền đáp tơ hào; Xa trông tiếng nói dáng đi, khi ăn ngủ cũng canh tường thấy rõ.

Đến nay: Hồn thiêng giã từ, bến đời tạm đỗ.

      Lễ sơ vật mọn, tướng sĩ bày rượu nhạt vài chung; Địa nghĩa thiên kinh, hậu thế ngưỡng nhân luân vạn cổ.

     Ôi đau đớn thay!

 

     Chú thích

 (1) Huân trì: hai thứ nhạc cụ thời xưa thường thổi hòa âm với nhau. Chỉ tình anh em bạn bè hòa kính.

(2) Câu này lấy ý từ Luận ngữ-Công Dã Tràng: Nguyện xa mã, ý khinh cừu, dữ bằng hữu cộng, tệ chi nhi vô hám (Tôi nguyện có xe mà đi, có ngựa mà cưỡi, có áo chiên mịn mà mặc, và để chúng bạn cùng hưởng, dẫu đến hư nát cũng chẳng buồn).

(3) Ở đây có chữ trụ (bộ nhục 月 bên trái, chữ chủ 主 bên phải) nghĩa là “thân thẳng đứng” nhưng chúng tôi không tìm thấy trong phần mềm.

(4) Xư âm: bóng cây xư. Xư là một loại cây không dùng được vào việc gì, nên dùng để tự nói nhún mình (như nói “kẻ bất tài này”).

(5) Tử ấp: lấy từ điển cố tang tử trong Kinh Thi: Duy tang dữ tử, tất cung kính chỉ (Chỉ có cây dâu và cây thị do cha mẹ trồng là ta ắt phải cung kính). Ngày xưa người ta trồng dâu và thị để truyền cho con cháu có lá dâu nuôi tằm và gỗ thị làm vật dụng. Vì thế về sau tang tử dùng chỉ quê cha đất tổ.

(6) Mã chẩm: gối tròn của Ôn Công. Tư Mã Ôn Công tức Tư Mã Quang, tự Quân Thực, người đất Thiểm Châu nhà Tống. Ông là người ham học, khi nằm đọc sách dùng gối gỗ tròn gọi là “cảnh chẩm” (gối đánh thức) phòng khi ngủ quên gối tròn lăn đi, tỉnh dậy tiếp tục đọc sách; Xa nang: túi đựng đom đóm của Xa Dận. Xa Dận người đất Nam Bình nhà Tấn, tự Vũ Tử, thuở nhỏ chăm học, đêm ngày không biết mệt mỏi. Nhà nghèo thường không có dầu để thắp, mùa hè phải bắt đom đóm cho vào một cái túi lấy ánh sáng đọc sách. Sau làm đến chức Lại bộ Thượng thư.

(7) Nhị Dậu: hai núi Đại Dậu Sơn và Tiểu Dậu Sơn, tương truyền hang đá trong núi có hàng ngàn quyển sách.

(8) Lục trù: hòm sách của Lục Cơ. Lục Cơ, người Ngô Quận nhà Tấn, tự Sĩ Hành, tinh thông Nho thuật, nổi tiếng văn thơ; Đỗ khố: kho sách của Đỗ Hựu. Đỗ Hựu người thời Vạn Niên nhà Đường, tự Quân Khanh. Ông thích đọc sách, có soạn bộ Thông điển gồm hai trăm quyển khảo những sự việc từ nhà Đường trở về trước.

(9) Bát văn: tức Bát cổ văn, một thể văn dùng trong khoa cử thời Minh Thanh, mỗi thiên gồm tám bộ phận cấu thành: phá đề, thừa đề, khởi giảng, nhập thủ, khởi cổ, trung cổ, hậu cổ, thúc cổ. Đề mục chủ yếu lấy từ Tứ thư, nội dung cũng phải căn cứ vào Tứ thư tập chú của Chu Hy thời Tống.

(10) Báo biến: Kinh Dịch có câu Quân tử báo biến (đấng quân tử như beo đổi vằn), ý nói văn vẻ sặc sỡ hiện ra bên ngoài. Ở đây dùng chỉ tài văn chương.

(11) Loan pha: nơi vua ngự.

(12) Thanh luân: tơ xanh, chỉ lời nói, mệnh lệnh của vua hoặc những điều do vua chế định. Kinh Lễ có câu Vương ngôn như ti, kỳ xuất như luân (lời vua nói như tơ, ảnh hưởng ra như sợi lớn).

(13) Ô phủ: Hán thư có ghi: “Những cây bách trong phủ Ngự sử thường có hàng ngàn con quạ, sáng bay đi tối bay về.” Về sau dùng chỉ phủ Ngự sử.

(14) Dương liễu chi trường: chỉ tài thiện xạ, thiện chiến. Hán thư chép: “Dưỡng Do Cơ là một người thiện xạ nước Sở, lá dương liễu cách trăm bước bắn bách phát bách trúng.”

(15) Cam đường: Chu Thiệu Công tuần hành các nước phía nam để trị chính khuyến nông, nghỉ dưới cây cam đường. Sau khi đi, người dân nhớ ơn vua nên yêu quý cây cam đường.

(16) Cửu lão: chín ông già. Tục thông chí chép: Bạch Cư Dị khi đang làm Hình bộ Thượng thư xin về ở ẩn chùa Hương Sơn, tự xưng Hương Sơn cư sĩ, kết giao với Hồ Cảo, Cát Đông, Trịnh Cứ, Lưu Chân, Trương Hồn, Địch Kiêm Mô, Lư Trinh, Yên Tập đều là những danh sĩ cao tuổi. Người đời hâm mộ vẽ một bức tranh chín cụ già gọi là Cửu lão đồ; Trong Sự văn loại tụ lại có Lý Phỏng đời Tống khi cáo quan về ở tại kinh đô cùng với Trương Hiếu Vấn, Lý Vận, Tống Ký, Vũ Doãn Thành, Tăng Tán Ninh, Ngụy Thạch, Dương Vi Chi, Chu Ngang kết bạn già gọi là Cửu lão hội.

(17) Bì cao, cũng gọi cao bì: da hổ. Ông Trương Tái nhà Tống ngồi trên trướng da hổ giảng kinh Dịch, đời sau gọi người giảng học là “Tọa ủng cao bì”.

(18) Ky Vỹ: hai ngôi sao trong nhị thập bát tú. Trang tử có câu: Phó Duyệt đắc chi, dĩ tương Võ Đinh, yêm hữu thiên hạ, thừa đông duy, kỵ ky vỹ, nhi hóa liệt ư tinh (Phó Duyệt có đạo mới giúp được Võ Đinh thống trị thiên hạ, khi chết ngồi trên sao Đông duy, cưỡi sao Ky sao Vỹ ở cùng các ngôi sao khác), về sau dùng chỉ cái chết.

(19) Cục thiên tích địa: kinh Thi có câu: Vị thiên cái cao, bất cảm bất cục; Vị địa cái hậu, bất cảm bất tích (nói trời là cao, chẳng dám không khum chân; nói đất là dày, chẳng dám không đi chậm), ý nói lo sợ vì loạn lạc hoặc có tai biến.

(20) Canh tường: Hậu Hán thư chép: “Xưa, sau khi vua Nghiêu chết, ông Thuấn tưởng nhớ, khi ngồi cũng thấy nơi tường, khi ăn cũng thấy nơi canh.”

 Th.s Nguyễn Đông Triều

 

Các nhà tài trợ

   

Đăng nhập

Giảng viên, nhà nghiên cứu có thể đăng nhập để gửi bài cho trang web VHNN tại đây.



Thành viên trực tuyến

Hiện có 1422 khách Trực tuyến

Cùng một tác giả