Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Home Nghiên cứu Hán Nôm Tản mạn về nhân vật công chúa vai phụ trong truyện Nôm bình dân

Tản mạn về nhân vật công chúa vai phụ trong truyện Nôm bình dân

Email In

            1. Nhân vật là yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm văn học. Đây chính là “phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng”(1). Thông qua nhân vật trong tác phẩm, người đọc sẽ nắm bắt được ý đồ, quan niệm, tư tưởng… của tác giả về một hoặc nhiều khía cạnh nào đó của hiện thực.

            Mỗi thể loại văn học có một dạng nhân vật riêng. Thần thoại, truyền thuyết có nhân vật thần tiên hoặc bán thần tiên. Truyện cổ tích, ngụ ngôn có nhân vật động vật nhân hoá. Tiểu thuyết, truyện có nhân vật người. Kể cả thơ cũng có nhân vật trữ tình… Chúng ta cũng bắt gặp dạng nhân vật này xuất hiện trong thể loại kia nhưng thường chỉ đóng vai trò ở tuyến nhân vật phụ. Đặc biệt, truyện Nôm bình dân (TNBD) có cả nhân vật người, thần tiên, động vật nhân hoá, đôi khi cũng có nhân vật trữ tình. Ở điểm này, chúng tôi đồng ý với giáo sư Phương Lựu, xét khái niệm nhân vật ở phạm vi nghĩa rộng nhất của nó: “Trong một số bài thơ trữ tình và truyện ngụ ngôn chỉ miêu tả phong cảnh thiên nhiên hoặc các sinh vật khác, nhưng cũng đều được nhìn dưới góc độ con người-cái tôi trữ tình-hoặc tượng trưng cho con người.”(2) Cho nên nói chung, những hình tượng này vẫn có vai trò và ý nghĩa như nhân vật con người.

            Về loại hình nhân vật, các nhà nghiên cứu đều thống nhất chia thành các nhóm sau: nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm (xét theo vai trò nhân vật); nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật lý tưởng, nhân vật tư tưởng (xét theo hệ tư tưởng)... Loại hình nhân vật trong TNBD khá phong phú, tuy nhiên, trong bài viết này, chúng tôi muốn nói tới nhân vật nàng công chúa vai phụ ép duyên cùng chàng trai vừa thi đỗ Trạng.

            Tinh thần khoa cử ngày xưa ăn sâu vào tim óc mọi người. Chàng trai nào đỗ cao lập tức trở thành đối tượng được mọi người quan tâm, kính nể, trở thành tâm điểm chú ý của các cô gái con nhà giàu sang quyền quý. Cho nên, một trong những môtif quen thuộc của TNBD là chàng trai sau khi đỗ Trạng sẽ được/ bị ép lấy công chúa. Chính vì thế, TNBD thường xuất hiện hình ảnh nàng công chúa vai phụ. Tất cả chàng trai đều là những người chồng sắc son chung thuỷ nên thẳng thừng từ chối lời cầu hôn “béo bở” này. Nhưng, cũng do duyên trời định, hễ chàng trai nào được ép gả công chúa thì hầu như sau này đều cưới một nàng công chúa làm vợ hai, thậm chí là vợ ba.

            Đặc điểm của các nàng công chúa này là đều có nhan sắc tuyệt vời, đôi khi cũng có tài năng. Công chúa nước Nguỵ (Phạm Công Cúc Hoa) thì “mày ngài mắt phượng dung nghi ai tầy”. Công chúa Hung Nô (Phạm Công Cúc Hoa) với “tài hoa khác vời, dung nhan cá lặn nhạn rơi”. Công chúa nước Tống (Tống Trân Cúc Hoa) đẹp “tợ tiên non bồng”… Tuy nhiên, nếu nhân vật nữ vai chính đều là nhân vật chính diện thì nhân cật công chúa vai phụ không ít người xấu xa, ích kỷ.

            2. Hình tượng công chúa vai phụ trong TNBD thường không được miêu tả tính cách rõ ràng và ít có điểm chung. Hơn nữa, xét thấy một số tác phẩm có nhiều nhân vật công chúa vai phụ khác nhau, nên trong bài này, chúng tôi không xét theo tiêu chí về đặc điểm tính cách mà xét theo từng tác phẩm cụ thể.

            Tác phẩm có nhiều nhân vật dạng này nhất là Phạm Công Cúc Hoa, có đến năm người. Những tưởng chàng Phạm Công đào hoa được ép gả nhiều người đẹp như thế là “thế gian chi đệ nhất hạnh phúc”. Thế nhưng chàng phải gánh chịu nhiều gian khổ vì lòng tự ái và tính kiêu kỳ của các nàng.

            Đầu tiên là công chúa nước Nguỵ. Trong buổi triều kiến sau khi đỗ Trạng nguyên, Phạm Công được công chúa mời rượu với lời nguyện ước “thiên tải lương duyên, đôi ta kết hợp phỉ nguyền thừa long” thật ngọt ngào. Tuy có lời hứa gả và lệnh bảo mời rượu của vua cha nhưng qua đó đủ thấy sự chủ động của công chúa. Có thích thì mới chủ động trao lời yêu thương! Nào ngờ, niềm vui vì tưởng rằng sắp được “phỉ nguyền thừa long” của công chúa ngay lập tức đã bị dập tắt khi Phạm Công “hắt” chén rượu sau lưng. Một hành vi từ chối quyết liệt và quá phũ phàng đối với một cô gái, hơn nữa lại là một công chúa. Quả thật, công chúa thấy thế thì “mặt bừng tía tai”, vừa giận vừa thẹn vì cảm thấy bị xúc phạm, bị khinh rẻ. Nàng tâu với vua cha “giam Trạng ở nơi chương toà” đợi ngày xử tội. May nhờ bá quan văn võ xin tha chết, Phạm Công bị lưu đày sang Hung Nô.

            Có thể chúng ta đều cảm thấy không thiện cảm với nàng công chúa nước Nguỵ. Vì nàng mà Phạm Công phải chịu án lưu đày, để rồi sau đó phải hứng chịu thêm biết bao khổ ải nữa trên đường viễn xứ. Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Lòng chung thuỷ của Phạm Công thật đáng khen, song, hành động của chàng thì thật đáng trách. Chẳng lẽ một người học cao hiểu rộng như chàng lại không có cách xử sự nào phải lẽ hơn sao? Như Nguỵ vương đã nói: “Làm sao rượu đã trao tay, chẳng uống thì chớ nỡ rày đổ đi”. Nói gì thì công chúa cũng đâu đáng tội. Đáng tội chăng là nàng đã quá vô tư, quá hy vọng vào tình yêu. Phạm Công đổ chén rượu đi là đổ cả tấm chân tình công chúa dành cho chàng. Án lưu đày cũng có phần “xứng đáng”! Không thể chối cãi công chúa hẹp hòi, nhưng những ai thông hiểu nỗi lòng và bản tính người con gái thì, tuy xót thương Phạm Công, chắc chắn cũng sẽ dễ dàng cảm thông cho công chúa.

            Dường như tài năng của Phạm Công là mối nhân gây hoạ, không chỉ gây nợ với người mà còn tạo ra oan trái cho cả bản thân mình. Bị đày đến nước Hung Nô, chàng lại thi đỗ Trạng nguyên. Công chúa Hung Nô cũng “suýt” nữa là có cơ may trở thành bà quan trạng. Đương nhiên, nàng cũng bị chối từ tình ái. Khi biết Phạm Công đã có gia đình, công chúa “hỏi dồn”:

                                                Vợ chàng bao tuổi, hai con ở nhà

                                                Chàng bao nhiêu tuổi đăng khoa

                                                Vợ chàng lại nhớn hơn là mấy mươi

                                                Hỏi chàng có muốn ta coi

                                                Hay là chẳng muốn ngỏ lời cho minh?

            Quan tâm đến người mình yêu nên quan tâm cả vợ con của người yêu? Hay là một bản “điều tra lý lịch”? Công chúa nghi ngờ Phạm Công kiếm cớ đã có vợ con để từ chối hôn nhân với mình. Việc ấy chứng tỏ nàng là một người không mấy thông minh, không hiểu chuyện. Hay vì quá yêu nên nàng không đủ tỉnh táo nhìn nhận sự việc? Đường đường là một vì công chúa “tài hoa khác vời” lại có dung nhan “cá lặn nhạn rơi”, là người trong mộng của bao văn nhân dũng sĩ, công tử vương tôn, nếu Phạm Công chưa vợ thì tội tình gì phải dại dột nói dối để chối từ!

            Người làm vua có quyền nổi giận nên thường hay nổi giận. Công chúa bị từ chối không giận mà vua Hung Nô lại “nổi giận bời bời” truyền bắt giam Phạm Công “gông cùm treo kẹp chẳng tha” để mà “tháng ngày ép buộc đèo bòng thất gia”. Mãi thấy Phạm Công không lay chuyển, vua Hung Nô đã nhẫn tâm chặt tay, khoét hai con mắt, rút mày, xẻ tai, đục cả hai hàm răng của chàng. Dường như vua Hung Nô được các tác giả TNBD miêu tả là người độc ác nhất khi trong Lý Công, công chúa Bạch Hoa cũng bị vua Hung Nô cắt tóc cắt mũi, hai tai và hai chân. Hình phạt thảm khốc Phạm Công gánh chịu là do vua Hung Nô gây ra nhưng công chúa không thể không có trách nhiệm. Công chúa nước Nguỵ không đáng trách bằng vì dù sao Phạm Công cũng chỉ bị đày. Còn ở đây là nhục hình thảm khốc. Lòng nhân hậu của người phụ nữ ở đâu khi nàng không thấy xót thương cho một vị Trạng nguyên vì lòng chung thuỷ phải chịu nhục hình. Chắc chắn khi chọn chồng, nàng cũng sẽ chọn người chung thuỷ. Thế nhưng tại sao người chung thuỷ như Phạm Công lại phải chịu nhục hình? Ít ra nàng phải lựa lời xin tha hoặc xin giảm tội. Đằng này, nàng hoàn toàn im lặng.

            Hai nàng công chúa ở trên, một người trực tiếp gây ra tai hoạ, một người dửng dưng ngồi nhìn tai hoạ đến với người mình đã từng yêu, nói chung đều không phải là người tốt. Còn nàng công chúa thứ ba sẽ là người như thế nào đây? Phạm Công sau khi được Ngọc Hoàng cứu cho phục hồi cơ thể, lưu lạc đến nước Triệu lại gặp khoa thi. Những sự việc kinh khủng đã qua không làm chàng nhụt chí anh hào:

                                                Phạm Công ngẫm nghĩ vân vi:

                                                “Qua đây nhân tiện ta thì thi chơi

                                                Làm trai sinh ở trên đời

                                                Áo xiêm cũng phải nhuộm mùi nước non”

            Đúng là có tài thì ở đâu cũng có đất dụng võ, có tài thì nhất định sẽ gặp gái thiền quyên. Chàng đỗ Trạng nguyên, vua đòi gả công chúa. Tam quốc Trạng nguyên lại “nước mắt ròng ròng” từ chối lời cầu hôn. Ngày xưa, “trai năm thê bảy thiếp”, trai tài nhiều thê thiếp là lẽ tự nhiên. Vì thế mà chẳng ông vua nào hay nàng công chúa nào hỏi xem chàng trai đã có vợ chưa trước khi đòi gả. Sau khi chàng trai từ chối với lý do đã có vợ lại bị trừng phạt, đôi khi bị xử chết. Như trường hợp Phạm Công ở nước Triệu. Chàng bị vua truyền chỉ “bỏ vạc dầu không tha”. Cái chết cận kề trước mặt, may sao công chúa đứng ra can ngăn:

                                                Con nay hổ phận má hồng

                                                Trạng nguyên đã có đèo bòng trước kia

                                                Mong cho thi đỗ mà về

                                                Nở nang mày mặt vinh huê cửa nhà

                                                Còn như công chúa ngự toà

                                                Thiếu gì loan phượng mà ta ép người

                                                Xin cha lượng cả khoan thai

                                                Tha cho quan Trạng về nơi gia đình

            Trước những lời khuyên ngăn hợp tình hợp lý của công chúa, vua Triệu rút lại lệnh gia hình, lại còn phong cho Phạm Công chức khôi khoa và hứa hẹn sau này sẽ nhường ngôi trị vì đất nước.

            Trước kia, ở Nguỵ và Hung Nô, Phạm Công gặp hai nàng công chúa không biết thương người, chỉ biết có tình yêu ích kỷ, khi không được yêu thì đem lòng ganh ghét. Rất may chàng chỉ bị đày, bỉ xẻo chứ không bị xử trảm. Nếu không thì chàng đâu còn cơ hội gặp được nàng công chúa tốt bụng này. Chẳng những nàng xin vua cha tha tội chết cho Phạm Công mà nàng cũng không để chàng phạm tội bất nghĩa. Sự biết lẽ và tấm lòng khoan dung của nàng giúp Phạm Công còn sống để gặp nàng công chúa thứ tư, người chấp nhận hy sinh vì chàng, vì vợ con chàng. Đó là công chúa Xuân Dung nước Trịnh. Có thể nói nàng là nhân vật nữ vai phụ đẹp nhất cả dáng vẻ và tâm hồn.

            Sau khi dẹp xong giặc Bắc Kinh, vua Trịnh đòi gả công chúa nhưng Phạm Công xin treo ấn từ quan xuống âm ty tìm vợ. Theo phép cúng hồn, người đồng thiếp xuống âm ty phải có người cầm gương soi để xem hồn đang đi đến đâu. Người cầm gương phải cầm liên tục không được nghỉ tay trong suốt thời gian người đồng thiếp xuất hồn. Sứ rao tìm người cầm gương đã trải qua ba ngày nhưng không ai dám đến nhận làm việc ấy. Thật bất ngờ, khi nghe biết tấm lòng quan Trạng, công chúa trong lòng cảm thấy “ngùi ngùi”, cộng với “tình thương quan Trạng trong lòng xót xa”, nàng tình nguyện xin cha cho cầm gương. Tình thương của công chúa chắc chắn không phải chỉ dành riêng cho Phạm Công, đó còn là phần thưởng cho lòng chung thuỷ hiếm có của chàng, và dành cho cả nàng Cúc Hoa bạc mệnh. Xét riêng về tình yêu thì đó không phải là thứ tình yêu ích kỷ mà đúng nghĩa là hy sinh vì tình yêu, một tình yêu cao thượng. Đức hy sinh, tinh thần cao thượng của nàng thực sự được khẳng định qua hành động tự nguyện giúp người mình yêu đi tìm vợ. Tình yêu ấy thật thiết tha chân thực và làm da diết lòng người:

                                                Thấy không thời cũng về nhà chàng ơi

                                                Thương chàng thiếp phải ngồi liền

            Suốt thời gian ba tháng đầu ngồi cầm gương, nhan sắc mỹ miều đã “xanh xao” võ vàng nhưng nàng vẫn kiên trì dõi theo từng bước chân Phạm Công dưới địa ngục. Đến khi Phạm Công tìm gặp Cúc Hoa (có lẽ phải sau bốn tháng), công chúa vui mừng tâu với cha: “Trạng nguyên chồng vợ gặp nhau vừa rồi, Diêm Vương cho cả tái hồi, độ ba giờ nữa tới nơi cõi trần”. Nàng đã hoàn thành ý nguyện cao cả cho người mình yêu. Tình yêu, lòng tốt và sự kiên trì cuối cùng được đền đáp xứng đáng bằng địa vị “đồng phu” và cách giải quyết công bằng của Phạm Công: “Duyên sau nghĩa trước phải cho vuông tròn”.

            Cuối cùng lòng chung thuỷ của Phạm Công không thể thắng nổi “số đào hoa”. Âu cũng là duyên nợ ba sinh, Phạm Công là người có duyên, công chúa Xuân Dung là người mang nợ phải trả. Có thế đời chàng họ Phạm mới bị đẩy đưa nhiều như vậy. Nhưng đây vẫn chưa là nàng công chúa cuối cùng. Người cuối cùng Phạm Công gặp là con gái Thuỷ Tề, trên đường đi tìm Cúc Hoa. Cũng bị từ chối lời cầu hôn nhưng nàng không hề oán giận, trái lại còn chỉ đường cho Phạm Công. Là công chúa Thuỷ Tề, có lẽ nàng biết mình không thể sánh duyên với Phạm Công nên không gây khó dễ cho chàng.

            Cuộc đời Phạm Công diễm phúc nhiều mà bất hạnh cũng lắm. Mừng sao bất hạnh cuối cùng cũng được hoá giải và có “vợ trước vợ sau”, “vợ cũ vợ mới” đề huề, hạnh phúc, vinh hiển. Vậy mà vẫn có người, tuy ít hơn chàng số phận đào hoa, nhưng hơn hẳn chàng con đường tình ái: Châu Tuấn (Thoại Khanh Châu Tuấn). Cả hai nàng công chúa mà chàng gặp gỡ cuối cùng đều trở thành vợ chàng.

            Châu Tuấn là người nước Tống. Sau khi đỗ Trạng, vua Tống đòi gả công chúa cho chàng. Công chúa không trực tiếp xuất hiện mà chỉ được nhắc tới qua lời vua nói với quan Trạng Châu Tuấn:

                                                Trẫm có một gái tợ tiên non Bồng

                                                Không trai nối dõi nghiệp rồng

                                                Trẫm đưa cho Trạng ưng không một lời

                                                Ngày sau trẫm lại nhường ngôi

            Lời nói “ưng không một lời” chứng tỏ vua là người dứt khoát. Người dứt khoát thường khảng khái, có tính thiện. Thế nhưng ông vua ở đây lại “cười” cho lòng thuỷ chung của Châu Tuấn, và mặc dù “biết cho Quốc trạng người ngay” nhưng vì “tội chê công chúa phải đày phương xa”, chàng bị đày sang nước Tề trong mười lăm năm. Hứa hôn cũng do nhà vua, nhường ngôi cũng do nhà vua, mà lưu đày cũng do nhà vua. Trước sau không thấy nói công chúa là người tính tình tốt xấu thế nào. Sau này, vua Tống hối hận, sai sứ sang Tề rước Trạng về nhường ngôi thì được biết Châu Tuấn đã làm vua nước Tề. Tống vương bèn nói lại chuyện “thuyết hài nhơn duyên”. Công chúa Tống đươc Tề vương sắc phong làm vợ ba.

            Trở lại chuyện Châu Tuấn bị lưu đày. Trên bước đường bôn ba thiên lý, Châu Tuấn đến nước Tề. Không cần thi cử, chẳng cần khôi khoa, chàng được vua Tề đón rước vào cung thật nồng hậu chẳng giống người bị lưu đày. Chẳng những thế, nhà vua còn bảo:

                                                Ước được quan Trạng trị vì nước ta

                                                Công chúa tuổi mới mười ba

                                                Dung nhan đẹp đẽ nhạn sa cá chìm

                                                Hãy còn xuân sắc thiếu niên

                                                Trẫm đưa cho Trạng chớ hiềm chuyện chi

            Thông thường việc gì đạt được dễ dàng quá thì cái hoạ cũng treo ngay trước mặt. Trước là khô lân chả phụng, sau thì cũi sắt vạc dầu. Hậu quả của việc từ chối cưới công chúa là bị bắt giam, bị bỏ đói vài ngày nếu không thay đổi sẽ giết chẳng tha. Công chúa là người “vốn có lòng lành”, nàng lựa lời xin cha tha chết cho Châu Tuấn:

                                                Lương duyên vốn tự nhiên thành

                                                Ép dầu ép mỡ ai đành ép duyên

                                                Người xưng là có vợ hiền

                                                Tống Hoằng xưa có tiếng khen đến rày

                                                Trạng nguyên vốn thiệt người ngay

                                                Cha đành giết Trạng e gây hoạ nhà

                                                Xin cha khá thả Trạng ra

                                                Chẳng thương thì đuổi cũng là có nhơn

                                                Làm chi gây dữ gây hờn

                                                Giết người vô tội mà mang tiếng đời        

            Những lời lẽ rất mực khôn khéo và hợp đạo lý chứng tỏ nàng chẳng những biết chuyện mà còn có lòng nhân hậu. Có một người con như thế, đáng lẽ Tề vương phải cảm thấy tự hào. Đằng này, vua nhất quyết không nghe lời can gián. Công chúa đành viết thư khuyên Châu Tuấn “giả vờ” đồng ý để rồi “hạ hồi phân giải”. Nàng rất khôn ngoan khi bảo Châu Tuấn “chịu đỡ cho rồi” nhưng trong thư lại nói “sau dầu sum hiệp một nhà, phận đành trên dưới thiếp hoà tính xong”. Nói điều đó trong lòng nàng đã ngầm có ý rằng Châu Tuấn là chồng giả còn nàng là vợ thật, dù là vợ hai.

            Tâm lý phụ nữ thật lạ. Mặc dù khuyên Châu Tuấn vờ đồng ý để tránh cái chết, nhưng khi thấy Châu Tuấn không màng chuyện chăn gối thì công chúa “chẳng xiết ưu phiền”, “trách chàng chặt dạ chẳng vì ái ân”. Hay nàng không ngờ Châu Tuấn lại cứng rắn, nỡ vô tình đến thế. Mà dù Châu Tuấn có vô tình đến đâu chăng nữa, nàng cũng rất quan tâm và thấu hiểu tâm tư chàng:

                                                Hay là thương nhớ hiền thê mẹ già

                                                Làm sao chàng khá nói ra

                                                Tôi tuy phụ nữ chí là nam nhi

                                                Ví dầu dường sá hiểm nguy

                                                ... Trước là đi rước mẹ già

                                                Sau là rước chị một bề cho xong

            Sau này, khi đã chính thức là vợ hai, công chúa càng tỏ rõ lòng hiếu thảo đối với mẹ chồng và lòng trân trọng đối với vợ cả. Như thế cũng là tỏ rõ tình yêu chân thành, chung thuỷ với chồng vậy.

            Nàng công chúa trong Mã Thành tân truyện tuy là nhân vật phụ nhưng xuất hiện khá sớm trong tác phẩm và có cuộc đời trải qua nhiều biến cố như nhân vật chính. Ngay từ đầu Hồng vương đã hạ lệnh tổ chức cuộc thi Trạng nguyên kén tài Phò mã. Mã Thành đỗ đầu, được phong Quốc trạng “hầu bên ngai vàng”. Như vậy Mã Thành mặc nhiên trở thành chồng công chúa mặc dù đã được hứa hôn với Triệu Kim Phi-con một người bạn thân của cha chàng. Sự việc chưa tới đâu thì quân Phiên sang xâm loạn. Trạng nguyên và quan Giá nghị được lệnh ra quan ải trấn áp. Ở triều, Thừa tướng thông với giặc cướp ngai vàng. Hồng vương bôn quốc. Hoàng hậu và công chúa cũng bỏ trốn. Phải đợi đến khi quan Giá nghị và Trạng nguyên từ quan ải trở về mới an được loạn. Hồng vương phê chuẩn cho Mã Thành kết hôn cùng Triệu Kim Phi và đồng ý cho công chúa làm vợ nhì. Trong TNBD, duy nhất Mã Thành tân truyện có tình tiết khác biệt về kết cấu. Cũng có chia ly, đoàn tụ nhưng chia ly để làm nhiệm vụ với đất nước chứ không phải gặp tai hoạ hay trắc trở về tình duyên, còn đoàn tụ hoàn toàn do mẹ cha sắp đặt chứ không có đấu tranh giành hạnh phúc. Đáng nói, công chúa lẽ ra là vợ cả nhưng vì đến sau phải trở thành vợ hai.

            Đặc biệt hơn cả là mối nhân duyên giữa Lâm Sanh và công chúa nước Tống (Lâm Sanh tân thơ). Theo bản Nôm chúng tôi hiện có, sự kiện hội ngộ không diễn ra giữa Lâm Sanh và Xuân Nương (tuyến chính) mà diễn ra giữa Lâm Sanh và công chúa (tuyến phụ). Thử xem đoạn sau:

                                                Đêm ngày nguyệt dạo hoa chơi

                                                Chực nhìn ngó thấy ngục môn rạng ngời

                                                … Nàng bèn bước tới ngục trung

                                                Xem thấy Lâm sĩ đang ngồi thở than

                                                Mặt buồn dã dượi võ vàng

                                                Bốn rồng chầu chực tứ phương sáng ngời

                                                Công chúa xem thấy mới hay

                                                Tơ hồng đã định mừng nay cho chàng

            Chúng ta thấy công chúa hoàn toàn chủ động trong vấn đề hôn nhân. Nhìn thấy trong ngục “Lâm sĩ đang ngồi thở than” có “bốn rồng chầu chực tứ phương sáng ngời”, biết chàng là người có tài, công chúa chẳng những xin cha tha chết cho Lâm Sanh mà còn vui mừng vì “tơ hồng đã định”. Biết Lâm Sanh có tài, công chúa là người biết nhìn người. Xin cha tha chết cho chàng, công chúa là người nhân hậu. Trao gửi con tim cho người xứng đáng, công chúa là người sáng suốt. Thế nên, cuộc gặp gỡ này giống như cuộc gặp gỡ giữa các nhân vật chính trong các tác phẩm khác. Nếu xem toàn bộ sự kiện diễn ra giữa Lâm Sanh và công chúa là một tác phẩm nhỏ thì công chúa có vai trò là nhân vật nữ vai chính. Có điều, vì mối tình giữa Lâm Sanh và công chúa không có giai đoạn tai biến nên cuộc đoàn tụ giữa hai nhân vật này cuối tác phẩm chỉ có giá trị như một hành động “đền ơn đáp nghĩa”.

            Có thể nói, Tống Trân Cúc Hoa là tác phẩm khắc hoạ rõ nét nhất nhân vật công chúa vai phụ. Tác phẩm này có hai nàng công chúa, công chúa nước Việt đại diện phe phản diện, công chúa Bạch Hoa (trùng tên công chúa Bạch Hoa trong Lý Công) nước Tần đại diện phe chính diện. Tống Trân từ chối lời ép duyên của vua nước Việt, nhà vua không bắt tội nhưng công chúa lại tâu với cha trị tội:

                                                Trạng nguyên tình phụ mình rồng tóc mây

                                                Trạng về bái tạ chớ chầy

                                                Đã đậu thì bắt đi đày cho xa

                                                Đường đi ba tháng sơn hà

                                                Được mười đông trọn sẽ tha cho về

            Công chúa thật ích kỷ, hồ đồ. Nàng chỉ biết “suy” mà không biết “xét”. Ép duyên bị từ chối mà bảo là “tình phụ”. Thật là một lời vu khống. Vua cha lại là người nuông chiều con thái quá. Chẳng trách công chúa hẹp hòi, độc ác như vậy.

            Ngược lại hoàn toàn với công chúa nước Việt, công chúa nước Tần khi bị từ chối, chẳng những không oán giận mà còn xem lời ép duyên của cha là sợi dây tơ hồng buộc chặt hai người ở kiếp sau:

                                                Chàng về phượng chạ loan chung

                                                Bao giờ trọn nghĩa tương phùng chàng ơi

                                                Kiếp này chưa đẹp duyên hài

                                       Nguyện xin kiếp khác xe đôi chữ đồng              

Sau khi Tống Trân mãn hạn đày về nước, công chúa tương tư đến độ “chiêm bao mơ tưởng ở trong giường nằm… mặt phai nét ngọc da dầm màu sương”. Vua cha bảo kén chồng trong nước, nàng không chịu: “Xin cho con trọn đạo hằng bấy nao, chẳng tham chức trọng quyền cao… đưa con sang mấy thoả thuê cùng chồng.” Một người con gái không được đáp trả lời cầu hôn mà vẫn chặt dạ thuỷ chung như nhất. Nếu biết tình cảnh này, chắc chắn Tống Trân chẳng nỡ làm ngơ nữa. Khổ thay, chàng ở tận chân trời xa xôi đâu có biết! Nhưng cơ trời đã cho chàng biết. Cái rủi bất ngờ dẫn đến cái may như ý, trên đường vượt biển đi tìm Tống Trân, công chúa bị nạn trôi giạt vào rừng. May gặp Tống Trân đi săn, nàng mới cạn tỏ lòng mình. Nhờ đó, Tống Trân thấu hiểu nỗi niềm nàng công chúa trung trinh từng bị mình từ chối. Lúc này, tình thương dành cho người chung thuỷ đã vượt qua lòng chung thuỷ, chàng liền rước công chúa vào triều ra mắt vua.

3. Trở lên là một vài ý phân tích hình tượng nhân vật công chúa vai phụ ép duyên cùng chàng trai trong TNBD. Họ đều là những người đẹp tuyệt trần, đều yêu chàng trai tài giỏi vừa đỗ Trạng. Nhưng tình yêu của họ biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau. Đều bị từ chối lời cầu hôn nhưng người cao thượng thì vô tư, độ lượng, chấp nhận hy sinh vì tình yêu; người ích kỷ lại nhỏ nhen, hẹp hòi, tìm cách hãm hại cho bõ tức. Qua đó có thể thấy, tuy đây là nhân vật phụ nhưng cũng có đóng góp quan trọng vào diễn tiến cốt truyện. Đồng thời cũng cho chúng ta thấy rõ hơn chế độ đa thê thời xưa. Người phụ nữ và cả xã hội xem chuyện đàn ông cưới nhiều vợ là chuyện bình thường, thậm chí là phải như thế, nhất là đối với những người quyền quý, có tài năng. Cho nên, khi chàng trai vừa đỗ Trạng thì nhà vua đã vội vàng đòi gả con gái. Về phía các công chúa, hầu như nàng nào cũng xem việc lấy được quan Trạng là điều diễm phúc nhất trên đời, vì các nàng có thiếu thứ gì đâu, chỉ cần có một tấm chồng xứng đáng. Kể cả khi biết chàng trai đã có vợ, các nàng vẫn tự nguyện làm vợ thứ mà “đâu có dám tranh quyền chính thê”. Cũng nhờ thế, khi được làm vợ thứ rồi, các nàng đều giữ đúng phận và cả nhà đều sống vui vầy hoà thuận.

Chú thích

(1) Hà Minh Đức (chủ biên), Lý luận văn học, Nxb. Giáo dục, 1997, tr. 126

(2) Phương Lựu (chủ biên), Lý luận văn học, Nxb. Giáo dục, H., 2002, tr. 109-110

 

Các nhà tài trợ

   

Đăng nhập

Giảng viên, nhà nghiên cứu có thể đăng nhập để gửi bài cho trang web VHNN tại đây.



Thành viên trực tuyến

Hiện có 855 khách Trực tuyến

Cùng một tác giả