Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Home Nghiên cứu Văn học Việt Nam 3 trắc diện làm nên chân dung Thẩm Thệ Hà

3 trắc diện làm nên chân dung Thẩm Thệ Hà

Email In

Kỷ niệm 3 năm ngày mất của tác giả Người yêu nước

 

         Trước năm 1975, ở miềm Nam, Thẩm Thệ Hà (1923-2009) là một nhà văn nổi tiếng. Quê ở Gia Lộc Huyện Trảng Bàng Tỉnh Tây Ninh, ông từng viết về Núi Bà Đen rất ấn tượng, nhất là đối với những ai đã một lần tới thăm thắng cảnh nầy. Tôi là người xuất thân từ đất Trảng Bàng và có may mắn học với thầy THẨM THỆ HÀ, giáo sư văn chương danh tiếng lúc bấy giờ. Lúc đó ở Trảng Bàng chưa có trường trung học công lập chỉ có một trường tư thục (Minh Đức) và một trường bán công (Đặng văn Trước). Tôi học ở ngôi trường thứ 2, và học 2 năm liền với thầy Thẩm Thệ Hà lớp Đệ ngũ và Đệ tứ (như lớp 8 và lớp 9 ngày nay).

            Vì thế cảm nhận đầu tiên của tôi về nhà văn Thẩm Thệ Hà là cảm nhận ở trắc diện thứ nhất : người thầy. Trong sổ tang của thầy, tôi viết một câu ngắn gọn – và có lẽ ngắn nhất trong số những lời dành cho nhà văn Thẩm Thệ Hà giờ phút cuối : Thẩm Thệ Hà, người thầy, nhà văn một đời tôi kính trọng.

            Dĩ nhiên câu văn tinh gọn ấy xuất phát từ suy nghĩ và tình cảm của tôi nhưng có cảm giác như không suy nghĩ. Đó là cái gì chân thật nhất của mình, thốt ra một cách tự nhiên, có vẻ như không có gì đắn đo hay lựa chọn.

            Ở trắc diện thứ nhất, Thẩm Thệ Hà là một người thầy dạy văn mẫu mực, thậm chí là lý tưởng. Cách giảng bài của thầy phải nói là rõ ràng, mạch lạc, hệ thống. Giọng của thầy ấm, sôi nổi, rất thuyết phục. Thú thật hồi đó, chúng tôi không biết thầy là người yêu nước, từng tham gia các phong trào đấu tranh chống thực dân, chỉ nhớ rật rõ, thầy say mê giảng về Nguyễn Đình Chiểu, phân tích sâu sắc cuộc bút chiến giữa Tôn Thọ Tường và Phan Văn Trị  để học sinh chúng tôi nhận thức rằng đi theo con đường của Phan Văn Trị là chính nghĩa, còn đầu hàng giặc kiểu Tôn Thọ Tường là điều xấu xa.

            Trong giờ Văn, thầy thường tổ chức những buổi thuyết trình về tác phẩm văn học, giao cho học sinh tự nghiên cứu, tìm tài liệu, tự viết bài thuyết trình, sau đó trình bày trước lớp. Thú vị và sôi nổi nhất là phần phê bình. Sau khi thuyết trình viên nói xong, chính thầy đã dạy chúng tôi cách phê bình, tranh luận một cách khoa học và có văn hóa. Còn nhớ như in thầy hướng dẫn chúng tôi khi nhận xét về ai, trước hết phải nêu ưu điểm trước, khuyết điểm sau, và bao giờ cũng giữ lời nói nhã nhặn, ôn tồn, khiêm tốn. Thầy thường dẫn câu cái tôi là cái đáng ghét để nhắc nhở học sinh đừng có nói về mình nhiều quá.

            Nhưng nói đến trắc diện người thầy của Thẩm Thệ Hà mà không nhắc đến bộ sách giáo khoa do thầy biên soạn, nhà xuất bản Sống Mới ấn hành, sẽ là một thiếu sót đáng tiếc. Lúc bấy giờ những cuốn Giảng văn  từ lớp Đệ thất (lớp 6) đến Đệ tứ (lớp 9) của thầy rất được các giáo sư Việt văn lựa chọn cho học sinh của mình học tập (lúc đó ở miền Nam, bộ Giáo dục chỉ đưa ra chương trình cụ thể, các thầy viết sách dựa vào chương trình đó; do đó có nhiều bộ sách khác nhau, người dạy được quyền chọn bộ sách nào để dạy tùy ý mình). Theo tôi, hay nhất là cuốn Giảng Văn Đệ tứ và cuốn Phương pháp làm văn nghị luận của thầy, có ảnh hưởng sâu sắc đến học sinh và những người dạy văn thời bấy giờ.

            Tôi theo nghề dạy học, dĩ nhiên là học tập rất nhiều ở thầy. Nhưng quan trọng nhất là 2 bài học lớn : một, để xứng đáng là con người, ta không thể đứng về phía phi nghĩa, bất chính; hai, đừng bao giờ đòi hỏi cái gì tuyệt đối.

           Các tác giả Thanh Việt Thanh (trong Thẩm Thệ Hà, thân thế và văn nghiệp, nhà xb Thành phố Hồ Chí Minh, 1993), Hoàng Tấn (trong chân dung Thẩm Thệ Hà, 1992) đều nhận diện Thẩm Thệ Hà qua 3 lãnh vực : nhà thơ, nhà văn, nhà giáo. Nhưng so sánh và thẩm định lại, tôi muốn nhấn mạnh đến trắc diện thứ 2 góp phần vẽ nên bức chân dung động đạt và toàn diện nhất về Thẩm Thệ Hà, đó là trắc diện nhà báo. Thực ra Thẩm Thệ Hà bước vào làng văn đầu tiên với tư cách nhà thơ. Từ năm 1937, ông đã có thơ đăng ở các báo và tạp chí ở Hà Nội và Sàigòn dưới bút danh Thảnh Kỉnh. Nhưng đến cuối đời vẫn chưa in tập thơ nào. Vì thế xin phép kết hợp thơ Thẩm Thệ Hà ở trắc diện thứ III.

            Còn ở lãnh vực báo chí, ông đã làm chủ bút tạp chí Bạn Trẻ  khi chỉ là một học sinh Ban Trung học, và đã qui tụ nhiều cây bút ở miềm Nam như Hường Hoa, Khổng Dương, Đoàn Giỏi... Có thể nói Thẩm Thệ Hà cộng tác với rất nhiều tờ báo lúc bấy giờ : Văn hóa, Việt bút, Tiếng chuông, Tin Sớm, Ánh sáng, Dân tộc, Tin lửa, Nhân loại, tạp chí Phổ thông... Còn nhớ khi còn là một học sinh trung học, tôi thường đọc những bài viết của nhà văn Thẩm Thệ Hà ở tạp chí Phổ thông. Đây là tạp chí in khổ nhỏ (như Kiến thức ngày nay bây giờ), do nhà thơ Nguyễn Vỹ làm chủ bút. Trên tờ báo này, Thẩm Thệ Hà thường có những bài phân tích văn chương rất bổ ích về  Truyện Kiều  của Nguyễn Du, chẳng hạn như loạt bài nói về nghệ thuật tả tiếng đàn của Tố Như, nghệ thuật miêu tả tâm lý bậc thầy của tác giả Đoạn trường tân thanh, những bài viết thâm thúy về Nguyễn khuyến, Nguyễn Công Trừ, Hồ Xuân Hương...

            Sau năm 1945, Thẩm Thệ Hà tích cực tham gia Phong trào báo chí Thống nhất, nơi tập hợp mọi thành phần yêu nước, kể cả xu hướng chính trị khác nhau, miễn là tán thành quan điểm Thống nhất Tổ quốc. Theo nhận định của nhà văn Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà là cây bút có chuyển biến nhanh, thích nghi với thời cuộc một cách hiệu quả. Còn Hoàng Tấn, người bạn chiến đấu của Thẩm Thệ Hà, nhận xét ông là ngưởi điềm đạm, thận trọng. Khi muốn cộng tác với một tờ báo nào, ông luôn luôn tìm hiểu kỹ về “ông chủ”.

            Trong cuộc đời làm báo, Thẩm Thệ Hà từng phụ trách về Văn hóa, văn nghệ và mục thơ của tuần báo Việt Bút  (năm l948). Đây là tờ báo phát hành 2 số mỗi tuần với 4 biên tập viên thường trực là Tam Ích, Nam Quốc Cang, Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà. Cũng trong thời gian này, Thẩm Thệ Hà gặp Vũ Anh Khanh, đưa họ Vũ về Trảng Bàng ăn Tết và tới thăm Tha La xóm đạo, giúp Vũ Anh Khanh cho ra đời bài thơ nổi tiếng một thời “ Đây Tha La xóm đạo / Có trái ngọt cây lành...”

            Năm 1949 (tức năm Kỷ Sửu), Thẩm Thệ Hà bàn với Vũ Anh Khanh ra một đặc san xuân lấy tên là XUÂN CON TRÂU . Đó là thời điểm Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng chính phủ ở Sàigòn. Vì thế khi kiểm duyệt, Nha thông tin yêu cầu đổi tên tờ đặc san là Xuân Quê Hương.  Bằng tiểu xảo ấn loát, trang bìa vẫn là hình 2 con trâu đọ sừng và dòng chữ :

                                                            XUÂN quê hương

                                                            Năm   CON TRÂU

            Mới nhìn qua, ai cũng thấy nổi bật 3 chữ in to. Vì thế các em bé bán báo lúc bấy giờ cứ rao hàng thật rõ to “ Xuân Con Trâu đây !”  Nhờ vậy tờ Xuân Con Trâu bán chạy như tôm tươi. (Theo Văn nghệ Thành phố Hồ Minh, số 47, năm 1992).

            Năm 1960, trên tờ Tiểu thuyết thứ bảy, với tư cách nhà báo chuyên nghiệp, Thẩm Thệ Hà thực hiện một cuộc phỏng vấn thú vị với học giả Tam Ích (có khi viết là  X.X.X) . Sau đó, trên tờ Thời Đại  số xuân, Thẩm Thệ Hà có một bài viết khá dài về nữ sĩ Ngân Giang với tiêu đề Tại sao các nhà văn học sử lại bỏ quên một nữ sĩ tài hoa ? Về sau, ở miền Bắc, khi có dịp đọc bài viết này, nhà thơ Ngân Giang rất cảm kích, đã sáng tác bài thơ Đường luật gửi tặng Thẩm Thệ Hà – được coi là “người mắt xanh trong thiên hạ”.

            Chính trong hoạt động báo chí, Thẩm Thệ Hà có dịp quen biết thêm nhiều cây bút yêu nước nổi tiếng đương thời như Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Nam Quốc Cang... Năm 1950, vào dịp về Trảng Bàng ăn Tết với Vũ Anh Khanh, 2 người được tổ chức cách mạng địa phương đưa vào chiến khu Bời Lời (hiện nay thuộc huyện Dương Minh Châu,Tây Ninh) để tham quan, và tham dự lễ Dân Quân Chính và Tết Quang Trung.

            Sau khi từ chiến khu trở về Sàigòn, Thẩm Thệ Hà gia nhập Ban điệp báo khu vực Sàigòn – Chợlớn – Gia Định, sáng lập nhà xuất bản Tân Việt Nam.

            Và từ địa chỉ mới này, chúng ta nhận ra trắc diện thứ 3:  Thẩm Thệ Hà nhà văn. Có thể nói mà không sợ quá đáng đây là trắc diện rực rỡ nhất hình thành bức chân dung tác giả của một loạt tiểu thuyết : Vó ngựa cầu thu; Gió biên thùy; Người yêu nước, Lưu động; Đời tươi thắm, Bạc áo hào hoa; Hoa trinh nữ...

            Bước vào làng văn bằng con đường làm thơ, Thẩm Thệ Hà có khá nhiều sáng tác đăng ở các báo trong Nam, ngoài Bắc dưới bút danh Thành Kỉnh là tên thật của ông. Thậm chí năm 1947, ông còn đoạt giải cuộc thi thơ xuân của báo Văn hóa  với bài Xuân thanh sắc.  Thơ Thẩm Thệ Hà trau chuốt, trữ tình và mang dư vị lãng mạn của một thời. Trong bài Trời nổi phong yên (1947), ta đọc được những dòng rất đẹp :

                                                Chiều nay hoa phượng đỏ in sân

                                                Lại ngỡ hoa lòng của cố nhân

                                                Bạn hỡi trong màu son thắm ấy

                                                Dường in tâm huyết kẻ phong trần.

           

           

 

 

 Thế nhưng tiểu thuyết mới là thế giới mà ông tung hoành thoải mái và thỏa chí. Có người quan niệm trí tuệ trưởng thành trong tĩnh lặng, còn tính cách trưởng thành trong bảo táp. Điều đó rất đúng với trường hợp nhà văn Thẩm Thệ Hà. Sau khi tờ Việt Bút bị rút giấy phép, ông thành lập nhà xuất bản Tân Việt Nam dưới sự bảo trợ tài chính của nhà tổng phát hành Nam Cường – trung tâm phát hành lớn nhất bấy giờ. Và tác phẩm đầu tiên của Tân Việt Nam chính là quyển Người yêu nước  của Thẩm Thệ Hà, cuốn tiểu thuyết đã làm xôn xao dư luận. Chỉ trong vòng 1 tháng sau khi phát hành, tác phẩm đã bán hết, phải tái bản vào đầu năm 1949. Bấy giờ các báo Ánh Sáng, Đoàn Kết, Nguồn Sống, Việt Báo...  đều có bài nhận xét. Tờ Việt Báo  viết : “Thẩm Thệ Hà theo quan niệm của M.Gorki : Tiểu thuyết tả thật là phải diễn lại sự thật thà thô sơ và phải diễn tả một cách có nghệ thuật và khoa học... Có thể nói đó là tác phẩm đặc sắc nhất của tác giả, và Thẩm Thệ Hà đã thành công ở công cuộc biểu dương nền văn chương tranh đấu”.

            Sau khi dự lễ ở chiến khu Bời Lời về, Thẩm Thệ Hà đẩy mạnh hoạt động của nhà xuất bản Tân Việt Nam với 2 ấn phẩm của Vũ Anh Khanh Bên kia sông và Ngủ Tử Tư . Sau đó phát hành Nửa bồ xương khô (tập 2) của họ Vũ và chuẩn bị in truyện dài Lưu động của Thẩm Thệ Hà. Sau khi phát hành độ nửa tháng, Nửa bồ xương khô bị tịch thu, còn Lưu động in xong, phải thiêu hủy 5000 bản trước khi bọn công an tới khám xét nhà in riêng của Tân Việt Nam. Và nhà xuất bản nầy bị cấm hoạt động vĩnh viễn. Vũ Anh Khanh bị địch truy bắt, phải rút vào chiến khu, còn Thẩm Thệ Hà phải ngưng hoạt động văn nghệ một thời gian, chuyển sang nghề dạy học.

            Nhận xét về tiểu thuyết của Thẩm Thệ Hà, tác giả Nguyễn Văn Sâm, giảng viên trường Đại học Văn khoa Sàigòn trước đây, cho rằng : “...Thẩm Thệ Hà là nhà văn trung gian giữa Dương Tử Giang, Vũ Anh Khanh, Lý Văn Sâm... Với Thẩm Thệ Hà, đường lối cần đã đành, nhưng phải do tác phẩm hoàn toàn có tính cách văn nghệ chuyên chở.” (Văn chương tranh đấu miền Nam, 1969). Đó là một nhận xét chính xác bởi vì Thẩm Thệ Hà sáng tác nhằm phục vụ tranh đấu, tiểu thuyết là một cách tham dự của nhà văn đối với kháng chiến. Nhưng ông không hy sinh yếu tố nghệ thuật của tác phẩm. Hơn nữa, ông viết văn theo một quan niệm khá rõ ràng. Trên tờ Tiểu Thuyết Thứ Bảy , số 7, năm 1960, ông đã phát biểu : “Tôi cho tiểu thuyết phải hoàn toàn về 3 phương diện CHÂN, THIỆN, MỸ. Thiếu một yếu tố, tiểu thuyết chưa hoàn thành sứ mạng của mình.”

            Thật ra trên tạp chí Bách Khoa  (1959), Thẩm Thệ Hà khi trả lời phỏng vấn, đã nói rõ về nội dung 3 chữ Chân, Thiện, Mỹ và nhấn mạnh : “Mỹ  tức là phải đạt được một nghệ thuật cao độ, nhà văn phải viết thật hay, diễn tả được một cách linh động các trạng thái phức tạp của cuộc sống và diễn tiến tế nhị của tâm lý con người.” Cũng trên tờ tạp chí này, Thẩm Thệ Hà chỉ trích loại văn chương khách quan phi ngã, phi luân lý, phi chính trị của Nhất Linh, Mặc Đỗ.

            Trung thành với quan điểm ấy, năm 1966, Thẩm Thệ Hà sáng lập nhà xuất bản Lá Dâu cùng với nhà văn Tô Nguyệt Đình. Và 2 quyển tiểu thuyết mới của ông được phát hành : Đời tươi thắm; Bạc áo hào hoa.

            Chính trong Đời tươi thắm, ta được thưởng thức vẻ đẹp của núi Bà Đen qua ngòi bút tinh tế của Thẩm Thệ Hà : “Người ta bảo núi Bà Đen là thắng cảnh của miền sơn cước Tây Ninh, thật không phải là quá đáng.

            Những buổi bình minh, mặt trời còn bẽn lẽn núp sau sườn núi, phong quang nhuộm những màu sắc đẹp lạ lùng. Hòn núi từ màu xám xịt đổi ra màu tím sẫm, từ màu tím sẫm đổi ra màu hồng, rồi từ màu hồng đổi ra màu vàng nhạt. Cho đến lúc mặt trời chễm chệ ngự trị trên chòm mây, ngọn núi mới trở lại màu xanh biếc thường ngày của nó.”

            Trong Đời tươi thắm, nhân vật Tuấn có bóng dáng của tác giả, “chàng có một chí hướng rất giản dị là sẽ trở nên một chiến sĩ tiền phong cho nền văn học cấp tiến...” Tuấn phê bình Emile Zola là quá tự nhiên chủ nghĩa, chỉ trích Khái Hưng (trong Hồn bướm mơ tiên)  là không tưởng. Và Tuấn đã giúp Thúy – có ý định đi tu – nhận thức được cả một sức sống đang vươn lên. “Đó là tượng trưng cho sức mạnh của cả một dân tộc, đang sửa soạn chuyển mình vùng dậy”.

            So với  Đời tươi thắm, Bạc áo hào hoa  có tiếng vang rộng hơn. Nhận xét về tác phẩm này, tờ Sự thật (1970) viết : “ Bạc áo hào hoa  là cuốn tiểu thuyết viết về tình yêu, tuổi trẻ, chiến tranh, một cuốn tiểu thuyết của một tác giả danh tiếng và được viết một cách thận trọng”. Còn trên tờ Tin Sáng  (29-5-1970), nhà văn Hà Liên Tử kết luận : “Bạc áo hào hoa  của Thẩm Thệ Hà đã khơi bùng lên niềm khát vọng hòa bình của mọi người dân yêu nước đã quá thống khổ vì chiến tranh tàn phá”.

                                                                        *

                                                                 *          *

            Đã từ lâu tôi có ý định thực hiện một bài viết về nhà văn Thẩm Thệ Hà, nhưng không thể viết nổi. Còn gần đây, tôi nghĩ Trảng Bàng - quê hương tôi – không phải chỉ có món bánh canh. Trảng Bàng phải có cái gì khác. Nhưng đó là gì ?

            Để trả lời được câu hỏi này, tôi về Trảng Bàng ở hơn một tháng và đi. Vào tận Lộc Hưng, xã có ngôi trường cấp III mới và bề thế; ra An Hòa, nơi nổi danh với Tha La xóm đạo. Tôi về An Tịnh, xã anh hùng thời chống Mỹ. Khi từ An Tịnh trở ra, tôi đi ngang địa chỉ nhà thầy Thẩm Thệ Hà năm xưa. Ngôi nhà có cái nền rất cao và hàng rào kiên cố nay không còn nữa. Tôi cố ý đi tới khu vực có ngôi trường Trung học bán công Đặng Văn Trước; ngôi trường cách đây gần 60 năm cũng không còn nữa.

            Đêm đó, tôi chợt tìm thấy câu trả lời. Ngôi nhà không còn; ngôi trường không còn, nhưng còn nhà văn Thẩm Thệ Hà. Trảng Bàng không chỉ có bánh canh. Trảng Bàng còn rất tự hào có nhà văn Thẩm Thệ Hà. Cái tên Thẩm Thệ Hà xứng đáng đặt cho một đường ở đây, ít nhất là con đường đi qua nhà ông, hay tên một ngôi trường thuộc địa phận Trảng Bàng.

            Nhưng không biết Trảng Bàng có thể làm điều đó không ?

 

                                                                                    Tháng 4/ năm 2012