Khoa Văn học và Ngôn ngữ

Home Nghiên cứu Văn học Việt Nam Tiểu thuyết đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1954

Tiểu thuyết đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1954

Email In

Phan Mạnh Hùng, "Tiểu thuyết đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945 – 1954", Tập san Khoa học Xã hội & Nhân văn, số 55 (2012), tr.3 – 13.

 

1.      Giới thiệu chung

Nghiên cứu văn học giai đoạn chống Pháp 1945 - 1954 đang tồn tại một thực trạng: “giới nghiên cứu lâu nay vẫn thường chủ yếu chú ý đến thành tựu của văn nghệ Việt Bắc, và chừng mực nào đó đến các vùng khác như Liên Khu Bốn, Liên Khu Năm và Nam Bộ. Mối quan tâm này không sai nhưng chưa đủ. Trong giai đoạn kháng chiến quyết liệt, chính trong lòng hai thành phố lớn tạm bị Pháp chiếm đóng - Hà Nội và Sài Gòn - vẫn có tiếng súng trừ gian diệt ác, những cuộc bãi công, bãi thị, biểu tình. Và các cây bút yêu nước vẫn lên tiếng một cách gan góc, dũng cảm”(1). Nam Bộ, đặc biệt là đô thị Sài Gòn giai đoạn chín năm kháng Pháp (1945 - 1954) có một đời sống văn học hết sức sôi động, góp tiếng nói quan trọng vào công cuộc đấu tranh giải phóng của toàn dân tộc. Cho đến nay, nghiên cứu về văn học ở đô thị Nam Bộ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ghi dấu ấn trong các công trình tiêu biểu: Văn chương tranh đấu miền Nam (1969), Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945 - 1950 (1972) của Nguyễn Văn Sâm; Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh (1998) của nhóm tác giả Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Công Bình (chủ biên)... Những nỗ lực của các nhà nghiên cứu đã dần làm sáng tỏ bức tranh văn học đa dạng chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật và tư tưởng tiến bộ. Trong bức tranh đa dạng của các thể loại văn học đô thị, tiểu thuyết chiếm một vị trí quan trọng, là một trong những thể loại trung tâm làm nên đời sống văn học. Và cho đến nay, công việc nghiên cứu vẫn cần được tiếp tục để hoàn thiện hơn nữa di sản văn học quý giá này.

Cách mạng tháng Tám thành công, lịch sử sang một trang mới. Văn học theo đó cũng có những chuyển biến. Một trong những thay đổi dễ nhận thấy là sự hình thành một thế hệ người cầm bút mới ở Nam Bộ và một diện mạo mới của văn học trong không khí đấu tranh chống Pháp.

Thời cuộc thay đổi, giới cầm bút trước 1945 ở Nam Bộ không mấy ai tiếp tục duy trì công việc viết lách. Hồ Biểu Chánh (1895 - 1958), từ một người viết rất dồi dào, sau khi tham gia “chính phủ Nam Kỳ tự trị” của bác sĩ Nguyễn Văn Thinh - một chiêu bài của người Pháp nhằm tái chiếm Nam Bộ - đã chuyển sang viết khảo cứu về Nho giáo và Phật giáo. Phú Đức (1901 - 1970) hầu như sáng tác rất ít. Nguyệt Hồng trên đường xương máu của ông, về tựa đề có vẻ là một tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng nhưng nội dung hoàn toàn khác. Tác phẩm này cũng không được độc giả chú ý nhiều. Có thể thấy, cái mốc 1945 đã đánh dấu một thời kỳ mới không chỉ của lịch sử mà cả trong văn học. Đời sống biến đổi nhanh chóng, nhiều vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của nhà văn. Lớp nhà văn thành danh trước Cách mạng tháng Tám ở Nam Bộ không mấy người bắt kịp được với thời cuộc. Mặt khác sở thích, nhu cầu tinh thần của độc giả chắc chắn cũng có sự thay đổi khác trước. Trong không khí sục sôi kháng Pháp của nhân dân miền Nam đã xuất hiện một thế hệ nhà văn mới, tiêu biểu cho sức trẻ và khí thế tranh đấu của toàn dân như: Dương Tử Giang (1915 - 1956), Vũ Anh Khanh (1926 - 1956), Thiên Giang (1911 - 1985), Lý Văn Sâm (1921 - 2000), Phi Vân (1917 - 1977), Khổng Dương (? - ?), Phạm Thu Cảnh (? - ?), Việt Quang (? - ?), Bùi Nam Tử (? - ?), Thẩm Thệ Hà (1923 - 2009), Sơn Khanh (1922 - 1980), Anh Huy (? - ?), Trúc Giang (? - ?), Nguyễn Bảo Hóa (1920 - 1988), Hồ Hữu Tường (1910 - 1980),… tác phẩm của họ đã tạo ra diện mạo phong phú cho văn học Nam Bộ nói chung và tiểu thuyết nói riêng trong giai đoạn 1945 - 1954. Một giai đoạn để lại nhiều dấu ấn của thời đại và giá trị nghệ thuật trong tiến trình văn học dân tộc thế kỷ XX.

Trong sự bao quát, phản ánh đời sống xã hội Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954, tiểu thuyết ở đô thị giai đoạn 9 năm kháng Pháp chủ yếu tập trung vào những vấn đề nổi bật, đồng thời cũng là các vùng đề tài thu hút những người cầm bút như vấn đề chiến tranh và cách mạng, vấn đề cuộc sống xã hội muôn màu nơi thành thị và thôn quê. Những vấn đề này, trong nhiều tác phẩm cụ thể, được nhà văn thể hiện trong mối quan hệ hữu cơ, trong tính tổng thể. Cụ thể là, khi nhà văn viết về vấn đề chiến tranh cách mạng tất yếu buộc họ phải chạm đến những khía cạnh đời sống nơi đô thị và nông thôn. Ngược lại, khi viết về cuộc sống đô thị và thôn quê, nhà văn cũng không thể né tránh một vấn đề trung tâm của đời sống xã hội đương đại, chi phối sâu sắc tình cảm, sự lựa chọn, thế ứng xử của mỗi con người là vấn đề các khía cạnh của chiến tranh, đấu tranh cách mạng.

Tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh, yêu nước và cách mạng ở đô thị Nam Bộ có thể nói là có số lượng khá lớn và là thành tựu quan trọng góp phần tạo nên diện mạo và một số đặc trưng của nền văn học kháng chiến ở Nam Bộ. Nhiều tác phẩm có giá trị, tiêu biểu như: Vó ngựa cầu thu (1949), Gió biên thùy (1949), Người yêu nước (1949) của Thẩm Thệ Hà; Cây ná trắc (1948), Bạt xíu lìn (1949), Nửa bồ xương khô (1949) của Vũ Anh Khanh; Chiếc vòng ngọc thạch (1948), Sau dãy Trường Sơn (1949), Nga và Thuần (1950) của Lý Văn Sâm; Trong mùa chinh chiến (1949) của Phạm Thu Cảnh; Nguồn lửa hận (1949) của Liên Chớp; Người vợ tù mong một ngày về (1949), Trốn tù (1949), Gió mặn (1949) của Bùi Nam Tử; Tranh đấu (1949) của Dương Tử Giang; Hờn chinh chiến (?) của Việt Quang; Bộ áo cà sa nhuộm máu (1949), Mị Lan Hương (1950), Chàng đi theo nước (1953) của Nguyễn Bảo Hoá; Thu Hương (1949), Chị Tập (1949) của Hồ Hữu Tường;…

Bên cạnh đó, tiểu thuyết viết về đề tài cuộc sống nông thôn và thành thị cũng đã góp phần làm phong phú bức tranh văn học. Những tác phẩm viết về cuộc sống nông thôn và thành thị đơn cử có: Dân quê (1948), Tình quê (1948), Cô gái quê (1948) của Phi Vân; Cánh đồng của Trúc Giang; Giai cấp (1949), Tàn Binh (1949), Loạn (1949) của Sơn Khanh; Ái tình và nghệ thuật (?), Cung đàn lỗi nhịp (?) của Ngọc Sơn; Sống (1949) của Hải Đường, Gió mới (1949) của Thanh Thuỷ; Hai dòng con (1954), Thủ tiết (?) của Hoàng Thị Như Mai; Tâm sự một mớ tóc (?), Cô Lan (1952) của Anh Huy;…

Cho đến nay, nhiều tác phẩm trong số vừa thống kê đã trở thành những sáng tác tiêu biểu cho nền văn học Cách mạng, chứa đựng tình cảm yêu nước và tinh thần nhân văn sâu sắc.

Sự phân chia thành các mảng đề tài như trên là dựa trên sự khu biệt ở những nét lớn và dĩ nhiên là có tính tương đối. Qua đó, chúng ta có thể phác thảo được một bức tranh và số lượng tiểu thuyết ở các đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954. Nhìn vào thống kê đó, chúng ta nhận thấy một điểm đặc biệt là thời gian xuất hiện của nhiều tác phẩm tập trung chủ yếu vào năm 1948 và 1949. Nếu nhìn qua những thể loại khác như truyện ngắn, thơ ca, chúng ta cũng thấy một tình hình tương tự. Điều này không hẳn là một sự ngẫu nhiên mà chắc có những căn nguyên từ thực tế: sự tích luỹ vốn sống của các nhà văn sau cách mạng tháng Tám đã đến thời điểm chín muồi, sự khát khao độc lập, thống nhất của nhân dân miền Nam đã góp phần tạo nên không khí văn chương sôi động. Nhà văn dĩ nhiên là có nhiều hứng thú và có trách nhiệm phải nói lên tiếng nói của thời đại. Thẩm Thệ Hà, nhà văn - người đương thời, khi bàn về không khí văn nghệ đô thị Nam Bộ những năm 1949, trong bài viết Tính sổ một năm văn nghệ viết năm 1951 đã cho rằng: “Nói đến văn nghệ, ta lại nhớ đến phong trào sáng tác rộn rực ở Nam Việt năm 1949. Có thể nói đó là một năm văn nghệ toàn thịnh nhất ở miền Nam. Ta đã tìm thấy ở đây cái phong vị văn chương của đất Bắc ngày tiền chiến tranh với nguyên tắc sáng tác tập đoàn và những cuộc tranh biện văn chương tao nhã. Các nhà văn đã gầy dựng thành từng nhóm (nhóm Chân trời mới, nhóm Tân Việt Nam, nhóm Đại Chúng, nhóm Sống Chung) và mỗi nhóm sáng tác theo một khuynh hướng rõ rệt, theo một hệ thống tư tưởng nhất định”(2). Sự sôi động của không khí văn chương Nam Bộ được nhật báo Thần Chung ở Sài Gòn nhận định: “Nhìn ra miền Bắc sau khi khói lửa bùng nổ ở Hà Nội (19 - 12 - 1946) các ngành hoạt động văn hóa hoàn toàn đình trệ... chúng ta không còn thu nhặt được những tác phẩm văn chương nào. Ở kinh đô Huế cũng thế. Tại miền Nam, trái lại, phong trào văn học bành trướng việc sáng tác và xuất bản mở rộng một kỷ nguyên mới”(3).

2.  Những nguồn cảm hứng chính trong tiểu thuyết

Trong hoàn cảnh lịch sử đầy những biến động giai đoạn 1945 - 1954, tiểu thuyết ở đô thị Nam Bộ đã tập trung khai thác các đề tài nổi cộm như: vấn đề đấu tranh cách mạng, đời sống xã hội nơi thôn quê và thành thị. Những đề tài này được người cầm bút thể hiện qua những cảm hứng chủ đạo như: Cảm hứng yêu nước và cách mạng, Cảm hứng phê phán, Cảm hứng về tình yêu. Cảm hứng chủ đạo trong tiểu thuyết Nam Bộ có vai trò quan trọng trong việc hình thành chủ đề, đồng thời chi phối cả hệ thống nghệ thuật biểu hiện. Qua đó thể hiện tiếng nói, tình cảm của nhân dân Nam Bộ, góp phần đa dạng hóa, hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.

2.1. Cảm hứng yêu nước và Cách mạng

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta là nguồn cảm hứng lớn cho những người cầm bút. Nam Bộ trong giai đoạn 9 năm kháng Pháp là một chiến trường quan trọng của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Hơn ai hết, các nhà văn là những người nhạy cảm với tình hình, thời cuộc, đã thể hiện cảm hứng yêu nước và cách mạng trong trang viết của mình. Điều này dễ nhận thấy trước hết qua số lượng tác phẩm lấy cảm hứng từ đề tài chiến tranh cách mạng giai đoạn 1945 - 1954. Cảm hứng này đã thể hiện lập trường và tiếng nói yêu nước, không chỉ của người cầm bút mà rộng ra là của nhân dân. Nó thực sự là một mặt trận quan trọng chống lại kẻ thù, góp phần tạo cơ sở cho niềm tin vào sức mạnh dân tộc, cổ vũ động viên các phong trào đấu tranh anh dũng của nhân dân Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung đi đến thắng lợi. Tác dụng tranh đấu của văn chương thể hiện tiếng nói yêu nước và cách mạng như Nguyễn Văn Sâm đã chỉ ra: “Ta có thể bảo rằng chính vì nhờ nền văn chương này mà những năm 1945 - 1950 người chống Pháp rất nhiều, khiến người Pháp hiểu rõ hơn tinh thần dân Việt Nam, tinh thần một dân tộc không chịu sống yên trong nô lệ, đã thường nổi dậy suốt trong những năm cai trị của họ”(4).

Cảm hứng yêu nước trong văn học không phải đến thời điểm này mới có. Trước cách mạng tháng Tám, ở Nam Bộ, những tiểu thuyết mang cảm hứng yêu nước và dân tộc được thể hiện trong các bộ tiểu thuyết lấy đề tài từ lịch sử. Khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử với các đại diện nhà văn Tân Dân Tử (1875 - 1955), Phạm Minh Kiên (? - ?), Hồ Biểu Chánh, Phú Đức. Cơ sở xã hội, những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của tiểu thuyết lịch sử chính là âm hưởng của phong trào duy tân, sự phản ứng lại những ảnh hưởng của truyện Tàu trong đời sống tinh thần người Nam Bộ và nhu cầu tìm tòi cách tân của nhà văn trong quá trình hiện đại hoá văn học đầu thế kỷ XX. Trong hoàn cảnh đất nước còn nằm dưới ách ngoại nhân, các nhà văn thể hiện tình cảm yêu nước bằng cách trở về với quá khứ, miêu tả các chân dung nhân vật lịch sử nhằm cổ vũ, động viên nhân dân đứng lên dành độc lập. Ở một khía cạnh nào đó, trong hoàn cảnh cụ thể đầy giới hạn, sức kích thích cổ vũ của tiểu thuyết lịch sử có phần hạn chế, nhưng nó là một biểu hiện của truyền thống yêu nước, của mối quan hệ giữa văn học và đời sống.

 Bước sang giai đoạn 1945 - 1954, khuynh hướng tiểu thuyết lịch sử không thật nổi bật. Tuy vậy, vẫn có những tác phẩm lấy chất liệu từ lịch sử và vẫn tạo được một sự ảnh hưởng nhất định trong đời sống, góp phần bổ sung, làm phong phú diện mạo các tác phẩm thể hiện tinh thần yêu nước và cách mạng. Các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Bảo Hoá như: Ải Chi Lăng (1947), Mị Lan Hương (1951), Chàng đi theo nước (1953) đã trình hiện một kiểu tiểu thuyết lịch sử tranh đấu đầy ấn tượng. Nguyễn Văn Sâm cho rằng: “đứng trên lập trường dân tộc, kích động lòng ái quốc, nung chí người dân Nguyễn Bảo Hoá đã thành công, ông cũng đã thành công trong việc tìm ra trong sự kiện lịch sử một bài học: sự bất khuất, ước muốn vùng lên của dân tộc chúng ta”(5).

Cảm hứng yêu nước và cách mạng là một biểu hiện mới mẻ trong nội dung và nghệ thuật của tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954. Nếu trước Cách mạng tháng Tám, cảm hứng yêu nước và dân tộc là tiếng nói thầm kín, bóng gió thì qua thời kỳ này cảm hứng yêu nước và cách mạng được thể hiện tập trung, trực diện. Không phải tập trung vào đề tài lịch sử, những bài học của quá khứ mà trong những đề tài thế sự, tức những sự việc của thời hiện tại. Do vậy, nó mang đậm tính thời sự, thể hiện tiếng nói của nhà văn về “người cùng thời”, mang sức mạnh trực tiếp, tươi mới, dễ đi vào tình cảm của công chúng.

Cảm hứng yêu nước và cách mạng thể hiện qua tiếng nói khẳng định, ngợi ca những hành động, suy nghĩ của những người yêu nước; khẳng định những tấm gương hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Đó là không khí của những ngày đầu kháng Nhật, nơi đó có Tảo, Bão, Đình, Niền trong Cây ná trắc. Trong cuộc chiến đấu gian khổ, Niềm đã hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, để lại một ước mơ bình dị, đời thường nhưng quá xa vời đối với anh: tình yêu với Nhàn. Những lời cuối cùng của Niềm nói với Tảo trước lúc nhắm mắt như trao gửi một niềm tin: “Anh săn sóc giùm mả ba em và khi nào thái bình, anh có gặp Nhàn, anh bảo rằng em vẫn nhớ nàng cho đến lúc chết, mặc dầu nàng đã có chồng” (Cây ná trắc). Nguyễn Văn Sâm đã viết về nhân vật Niềm với những dòng cảm động: “Anh có cái lo lắng của người dân quê yêu mến mả mồ tổ phụ, anh giống họ ở chỗ yêu sâu đậm ít bộc lộ nhưng trung thành. Người yêu chê bỏ đi lấy chồng Niềm buồn chớ không oán giận; rồi khi cần nỗi niềm kia được gác riêng qua để Niềm làm tròn nhiệm vụ với nước non đã nuôi sống, dung dưỡng mình. Cái đẹp là ở chỗ đó”(6). Sự bình tĩnh của Niềm trước cái chết khiến ta nghĩ đến Lìn trong Bạt Xíu Lìn: “Lìn lấy hai viên đạn để giữa lòng bàn tay, đưa lên miệng hôn rồi đưa cho Lương hôn và bảo: Trước khi từ giã cõi đời em xin cầu nguyện cho tổ quốc Việt, dân tộc Việt mau ca khúc khải hoàn” (Bạt Xíu Lìn). Huyện trong Nửa bồ xương khô cũng được tác giả miêu tả với cảm hứng ngợi ca. Huyện đã hy sinh tình cảm riêng cho đại cuộc.

Cảm hứng yêu nước và cách mạng đã thể hiện được những bước chuyển về nhận thức của những cá nhân từ nỗi niềm riêng tư đến cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Đó là tâm thế của Bão, Vũ và Phượng (Người yêu nước), Tâm (Dân quê), Giác (Tình quê) Ngọc Nga (Tranh đấu), Toàn bộ Tranh đấu là hành trình của Nga đến với cách mạng. Nga vốn sinh trưởng trong gia đình giàu có. Hàng ngày phải chứng kiến những cảnh bất công. Cuộc đời của cô thật sự thay đổi khi chứng kiến “một cảnh tượng lạ lùng đập vào tim óc” khiến cô “kinh ngạc như lạc vào một thế giới lạ” cảnh người đàn ông trẻ bị đóng trăng ngồi trên đất và liên tiếp bị viên cai đạp lên chân, đá vào ngực, đánh vào hông đến nỗi khạc ra máu chỉ vì anh suýt làm hắn ngã khi rút bàn chân bị hắn đạp lên. Trong khi đó mấy ông hương quản đang xúm nhau ăn nhậu linh đình. Để rồi sau đó, cô dần nhận ra những mặt khác của xã hội, trái với những gì cô tìm thấy trong sách vở. “Trước đây tôi xem việc mẹ tôi chửi bới người thiếu nợ và cha tôi làm khó tá viên, tá điền, họ mất mùa vẫn bắt họ chạy mượn đong lúa ruộng cho đủ, là một việc thường. Nhưng bây giờ tôi thấy áy náy khó chịu lắm”. Sự thay đổi nhận thức của Ngọc Nga bắt đầu từ trong cái nhìn đối với những người trong gia đình, từ sự nhận thức ra cuộc sống giàu sang cô đang hưởng được xây dựng từ mồ hôi nước mắt của người dân quê. Cô tìm đọc những tư tưởng tiến bộ, mở trường dạy học. Ngọc Nga chính thức bước vào con đường hoạt động cách mạng khi trải qua nhiều biến cố cuộc đời mà việc chồng bị bắt rồi gặp chị Dung là một bước ngoặt, “Tham gia vào cuộc đấu tranh này, chúng tôi sung sướng thấy mình đã tranh đấu từ lâu vì yêu công lý và nhân đạo, và ngày nay mình tiếp tục tranh đấu để mưu một đời sống hợp công lý, nhân đạo cho cả một dân tộc, trong đó có mình. Và cuộc tranh đấu này là một giai đoạn cần thiết cho cuộc tranh đấu chung” (Tranh đấu).

Tiểu thuyết mang cảm hứng yêu nước và cách mạng đã có những tác động trực tiếp đến quần chúng, đấu tranh trực diện với kẻ thù. Đó có thể xem là một thành tựu đáng được ghi nhận của tiểu thuyết công khai trong đô thị ở Nam Bộ. Nó đã góp phần đặt nền móng cho sự đổi mới cách nhìn, sự lý giải về mối quan hệ giữa con người cá nhân với cộng đồng trong tiểu thuyết mang cảm hứng sử thi trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ thời kỳ 1954 - 1975 và có những đóng góp hết sức quan trọng cho tiến trình văn học dân tộc.

2.2. Cảm hứng phê phán

Cảm hứng phê phán là một trong những cản hứng quan trọng tạo nên nét đặc sắc cho tiểu thuyết đô thị Nam Bộ. Cảm hứng phê phán thường gắn liền với sự quan tâm của các nhà văn tới những xung đột xã hội, xung đột nội tâm riêng tư của con người. Khi nào cuộc sống xuất hiện và tồn tại những mối mâu thuẫn giữa các giai cấp, giữa cái cũ và cái mới, giữa cái thiện và cái ác, giữa cái lạc hậu trì trệ với cái tiến bộ còn tồn tại thì lúc đó, cảm hứng phê phán sẽ có cơ sở để hình thành và phát triển. Cảm hứng phê phán trong tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954 tập trung ở những tác phẩm với đề tài viết về cuộc sống nông thôn và thành thị.

Trong một số tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn Nam Bộ, các nhà văn thường phê phán tầng lớp địa chủ phong kiến dùng thủ đoạn để bóc lột tá điền nghèo khổ. Từ khoảng đầu thế kỷ XX cho đến 1945, trong tác phẩm của một số nhà văn Nam Bộ như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bửu Mộc (? - ?), Nguyễn Thế Phương (1906 - 1908), Ngọc Sơn (? - ?), Nguyễn Bá Thời (? - ?)… đã thể hiện cảm hứng phê phán, bóc trần những mặt trái của đời sống đô thị, của sự bất công xã hội mà tiêu biểu là sự bóc lột của địa chủ đối với tá điền.

Tiểu thuyết Nam Bộ 1945 - 1954 viết về đời sống nông thôn và thành thị đã mô tả được những bức tranh xã hội rộng lớn, với những mối mâu thuẫn xã hội gay gắt. Tiểu thuyết viết về cuộc sống nông thôn đã thể hiện cảm hứng phê phán sâu sắc. Trong Tranh đấu, nhà văn Vũ Anh Khanh đã mô tả những hành vi bỉ ổi của hương chức làng xã, cảnh đánh đập tra khảo, chiếm đoạt ruộng đất của tá điền, vu oan chồng để cưỡng bức vợ: “Vậy chớ cậu hai con ông Tổng đó làm sao? Vợ tá điền, tá viên nào có sắc mà thoát khỏi tay cậu!. Anh nào nhắm mắt thì thôi, bằng mà hó hé thì ở tù rục xương” (Tranh đấu). Viết về cuộc sống của những người dân quê có lẽ nhà văn Phi Vân là người để lại những trang viết nhiều dấu ấn và gây cho người đọc sự xúc động nhất. Đó là những miền quê yên tĩnh như những người dân quê chất phác, đau khổ, chịu đựng đến câm lặng trong Dân quê, Tình quê và trước đó là Đồng quê. Cuộc đời của người dân nơi ấp Bình Thạnh trong Dân quê là điển hình cho cuộc sống lam lũ của người nông dân Nam Bộ nơi ruộng đồng. Nơi đó người dân nghèo sống dưới ách thống trị của bọn hội đồng, hương chức làng xã tàn ác. Thông qua những nhân vật như hội đồng Thế, Chánh hương quản, phó hương quản Thành trong Dân quê, hương kiểm Sơn trong Tình quê, nhà văn đã lên án, vạch trần bản chất xấu xa của lớp người sống trên mồ hôi nước mắt của kẻ khác. Đó là một lớp người tinh ranh, gian xảo, nắm được tâm lý của người nông dân và lợi dụng sự thiếu hiểu biết, hoàn cảnh khó khăn của họ để trục lợi. Những nhân vật này không chỉ bị nhà văn phê phán về mặt xã hội ở khía cạnh bóc lột sức lao động của dân nghèo, mà còn bị phê phán ở mặt đạo đức. Nhờ có địa vị, tiền bạc và uy thế của một ông chủ đất có quyền “sinh sát” tá điền, bọn họ đã bắt bớ, chiếm đoạn ruộng đất, cưỡng hiếp những người vô tội. Hội đồng Thế cũng là chủ điền ấp Bình Thạnh mưu toan cướp ruộng của giáo Thiện bằng cách bỏ hèm rượu vào ruộng của ông giáo nhằm vu cáo tội nấu rượu lậu. Em rể giáo Thiện là thợ Tám phải nhận tội thay. Nhân việc Hương quản dan díu với vợ Khạo Lành và bị y chém trọng thương, Thế đổ tội cho giáo Thiện và nhân đó lập mưu cưỡng hiếp vợ thợ Tám. Tội ác của Thế còn thể hiện qua lời tuyên bố với viên Hương quản: “Tá điền của tôi đó, đàn bà có, con gái có… có đứa nào dám cưỡng lại tôi? Vợ tôi chết cả năm nay mà có bao giờ nghĩ đến chuyện cưới vợ khác” (Dân quê). Ngày vía bà, hội đồng Thế xuất tiền cúng một chầu hát và tổ chức mở sòng bạc cho dân quê vui chơi. Hương quản vào ấp Bình Thạnh thị sát đã được hội đồng Thế hối lộ “một đêm tự do” trong nông điền của ông ta. Thế tự hào: “Té ra thầy cũng chưa biết thâm ý của tôi… Tá điền tôi đang cờ bạc thả cửa, chúng mê ăn thua bỏ nhà bỏ cửa cho vợ con, đêm nay tôi với thầy tha hồ vào đó… làm mưa làm gió”. Phi Vân viết những dòng cuối của chương Thế lực trong Dân quê đầy chua xót: “Và cũng đêm ấy, có một hạng người cô thế lại một phen chịu nhục, chống cự cũng không được mà kêu la cũng không xong, đành cắn răng ôm hận giữa ruộng đồng…”. Hội đồng Thế là một sự tiếp nối của các mẫu hình điền chủ Nghĩa trong Đồng quê của Phi Vân; Vĩnh Thái trong Khóc thầm, điền chủ Nghĩa trong Con nhà nghèo, Hương hào Hội trong Cha con nghĩa nặng của Hồ Biểu Chánh trước 1945. Tuy vậy, So với cảm hứng phê phán của các nhà văn Nam Bộ trước 1945 mà tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh thì cảm hứng phê phán trong tiều thuyết giai đoạn 1945 - 4954 đã có những biến đồi, bổ sung, cho thấy những điểm tiến bộ. Ngay trong sáng tác của Phi Vân, từ Đồng quê cho đến Dân quê, Tình quê, Cô gái quê cũng đã cho thấy sự biến đổi đó. Điểm khác biệt thể hiện trong cách lý giải và đề xuất phương hướng cải tạo các mối mâu thuẫn nhằm thay đổi đời sống người nông dân. Viết về người nông dân Nam Bộ, Hồ Biểu Chánh vẫn chỉ dừng lại miêu tả sự cam chịu của họ, còn nhân vật người nông dân của Phi Vân thì đã biết phản kháng. Sự phản kháng của họ cũng khác với cách phản kháng của chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Những thanh niên của đồng quê Nam Bộ đã tiếp xúc với cách mạng, với tư tưởng mới như Tâm và Quyến (Dân quê), Giác và Nhạn (Tình quê) đã mang đến luồng ánh sáng mới, hy vọng đổi đời nơi người dân quê chất phác.

Cảm hứng phê phán cũng thể hiện khá rõ trong các tiểu thuyết viết về cuộc sống của con người nơi thành thị. Viết về cuộc sống đô thị hẳn các nhà văn có nhiều thuận lợi. Đô thị với những thiết chế xuất bản, báo chí, đời sống chính trị sôi động đã tạo những thuận lợi nhất định cho nhà văn. Trong nhiều tác phẩm, các nhà văn đã tập trung miêu tả cuộc sống thành thị với cảm hứng phê phán những lối sống thực dụng, buông thả, không lý tưởng, coi đồng tiền là trên hết, bất chấp luân thường, đạo lý.

Tiểu thuyết Cô Lan của Anh Huy, Hai dòng con của Hoàng Thị Như Mai… là sự cảnh báo về sự xuống cấp về mặt đạo đức, sự tha hóa của tầng lớp trí thức trước làn sóng vật chất và văn minh phương Tây. Lan trong Cô Lan là người có học nhưng cuối cùng gặp phải những trắc trở trong cuộc đời cũng bởi cô coi thường các giá trị truyền thống để chạy theo lối sống thực dụng, mờ mắt trước đồng tiền và cuộc sống xa hoa nơi phố thị. Lan sống trong một vòng luẩn quẩn không lối thoát. Mẹ nàng vốn là một gái bán hương, vì cuộc sống mưu sinh đã làm vợ bé ông Mộc, chủ nhà nghỉ Mộc Hương. Cuộc sống mẹ con Lan thay đổi từ đó. Lan sống trong nhung lụa, lớn lên xinh đẹp. Thế rồi nàng yêu Trúc, con riêng của Mộc. Trúc qua Pháp du học, Lan ở nhà buồn bã tìm đến rượu và thú vui khiêu vũ. Nàng bị giáo sư khiêu vũ chuốc rượu và cưỡng hiếp. Nàng được ông Mộc đưa đến nhà bác sĩ Hại để bỏ cái thai. Sau đó Lan bị Hại cưỡng dâm nhiều lần. Cuộc đời của Lan bắt đầu trượt dốc và nàng trở thành món đồ chơi của Mộc. Toàn bộ cuộc sống tủi nhục của Lan được cô viết thành thiên phóng sự xã hội Một thế giới hỗn loạn. Trong thế giới ấy, mọi giá trị đạo đức truyền thống dường như bị đảo lộn hoàn toàn. Sự sa ngã của con người trước đồng tiền cũng được các nhà văn đặc biệt chú ý miêu tả với cảm hứng phê phán. Trong rất nhiều cuốn tiểu thuyết, đồng tiền phi nghĩa lắm lúc là tác nhân gây nên bi kịch của gia đình, bi kịch cá nhân. Cuộc sống vật chất cũng đã làm cho Cẩm Tâm trong Hai dòng con từ một cô gái hiền lành trở thành kẻ phá nát sự nghiệp của cha, đẩy hai người anh đến cảnh khốn cùng. Bản thân Cẩm Tâm cũng phải nhận lấy cái chết đau đớn và để lại các con còn thơ dại. Điều đáng nói là qua hình tượng nhân vật Lan, Cẩm Tâm tác giả cũng đã chỉ ra sự lầm lạc của họ phần là do hoàn cảnh xã hội tạo nên và cần phải cải tạo xã hội. Đó là một cái nhìn sâu sắc, tiếng nói đầy trách nhiệm của nhà văn đối với cuộc sống con người và xã hội. Trong lời giới thiệu thiên phóng sự Một thế giới hỗn loạn của Ly Thôn (bút danh của Lan), cũng là lời của nhà văn Anh Huy đã cho thấy phần nào ý hướng đó: “Cô Lan, nhân vật chánh trong thiên phóng sự này là hình ảnh của một số gái Việt và có lẽ cũng là hình ảnh của tôi, đang cùng sống trong một hoàn cảnh ngặt nghèo nếu không gọi là số kiếp … Giờ đây mời bạn hãy đi sâu vào lòng xã hội để cùng tôi chiêm nghiệm ít cảnh đời. Ước ao đây chỉ là một chuyến đò đang qua một khúc sông đêm để đi đến một bến mai tươi sáng” (Cô Lan).

2.3. Cảm hứng về tình yêu

Tình yêu là một đề tài muôn thuở, là một nguồn hứng khởi vô tận cho sáng tạo nghệ thuật nói chung và văn chương nói riêng. Tình yêu trong tiểu thuyết đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954, đặc biệt trong những tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng thường được nhà văn thể hiện với cảm hứng ngợi ca, khẳng định thông qua những mối tình của các đôi trai gái thuộc các thành phần khác nhau trong xã hội.

Nhiều cuốn tiểu thuyết đã xây dựng những mối tình của những con người thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu trong xã hội Nam Bộ như: mối tình của Sơn và Phương Lan trong Vó ngựa cầu thu, Phượng và Vũ trong Người yêu nước, Ngọc Nga và Trọng trong Tranh đấu, Huyện và Chung trong Nửa bồ xương khô, Tuấn và Dung trong Gió mới, Sa và Hoàng trong Vợ một người tù mong một ngày về, Liên và Tân trong Hờn chinh chiến, Trang và Nghĩa trong Con đường nghĩa vụ, Hoàng Ngô và Thuỳ Nga trong Ái tình và nghệ thuật,… Bên cạnh đó là những tác phẩm miêu tả những mối tình của những con người lao động bình dân nơi đồng ruộng thôn quê như: mối tình của Tâm và Quyến trong Đồng quê, Giác và Nhạn trong Tình quê, Huyền và Vá trong Cánh đồng… Tình yêu của các cặp trai gái thường là đến từ hai phía. Song có một điều đặc biệt là dù cho những nhân vật này là những người bình dân hay là những thanh niên có học thuộc tầng lớp trên của xã hội thì họ vẫn nép mình trong những lối suy nghĩ truyền thống. Họ tự đặt mình trong truyền thống với những lễ nghĩa, với những cách hành xử và các mối quan hệ phức tạp. Nhưng, dù chuyện tình cảm của cá nhân có nép mình trong truyền thống hay mang tính chất hiện đại đi chăng nữa, thì nó cũng là những câu chuyện sống động như chính cuộc đời thực, như chính tình cảm thực của con người Nam Bộ. Thông qua việc miêu tả tình yêu cá nhân, các nhà văn Nam Bộ đã thể hiện một tình cảm nhân văn và nhân đạo sâu sắc đối với con người.

Tình yêu trong tiểu thuyết mang chủ đề yêu nước và cách mạng được các nhà văn thể hiện với cảm hứng mạnh mẽ. Nó không đơn thuần là tình yêu, trách nhiệm của người công dân đối với đất nước mà còn là tình yêu trai gái tự nhiên. Ngoài việc nhà văn miêu tả sự yêu đương tự do của những cá nhân, thì tình yêu đó được đặt trong mối tương quan và trách nhiệm đối với cộng đồng, xã hội. Con người trong tiểu thuyết được miêu tả sẵn sàng hi sinh tình yêu riêng tư cho hạnh phúc chung của toàn dân tộc. Tình yêu nhiều khi đóng vai trò là động lực tinh thần giúp cá nhân vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành nhiệm vụ đối với đất nước. Đó là mối tình của Vũ và Phương trong Người yêu nước. Vũ vốn sống cuộc đời sung túc, không biết đến cuộc sống của những người cần lao cho đến khi gặp Bão và được Bão giác ngộ. Vũ yêu Phượng say đắm và có điều kiện để có cuộc sống hạnh phúc bên nàng, nhưng Vũ đã gác lại để làm nhiệm vụ của người trai đối với tổ quốc. Phượng không buồn, trái lại rất vui vì có được người tình lý tưởng. Nàng từ bỏ cuộc sống ấm êm để bước theo con đường cứu nước mà Vũ đã chọn. Như lời trong bức thư từ chiến trường Phượng gửi cho Vũ: “Trong những lúc bôn ba với cuộc đấu tranh thường trực, em đã đặt cao lý tưởng của mình trên mọi thị hiếu cá nhân, lấy làm sung sướng với công việc mình làm. Em vẫn tự nhủ: ‘hãy như anh Vũ, phải có gan làm lại lịch sử’. Em đã mượn cái tinh thần người xa để giữ vững tinh thần mình, em đã tin ở người ấy cũng như em vẫn tin ở ngày mai vinh quang của xứ sở” (Người yêu nước). Đó là mối tình của Ngọc Nga và Trọng trong Tranh đấu. Ngọc Nga từ chối viên chủ tỉnh theo sự sắp đặt cùa gia đình để đến với Trọng, chàng trai mồ côi nghèo khổ. Về sau, nàng đã sát cánh bên Trọng trong cuộc chiến đấu gian khổ lâu dài của dân tộc. Là mối tình của Huyện và Chung trong Nửa bồ xương khô. Khi hay tin Chung đã hy sinh ngoài mặt trận Huyện vẫn bình tĩnh, gia nhập đoàn nữ cứu thương mong tìm được mộ chàng. Nhưng thật ra Chung vẫn còn sống. Trước hoàn cảnh chiến tranh, khi tổ quốc cần, Huyện đã vượt lên trên khuôn khổ của tình yêu bình thường để hiến mình cho tổ quốc. Hay đó là sự chung thuỷ của Sa trong Vợ một người tù mong một ngày về. Chồng của Sa là Hoàng bị bắt vì tội làm “quốc sự”. Từ ngày chồng bị bắt, Sa luôn phải hứng chịu những lời xỉa xói của những người xung quanh, nhưng nàng tin tưởng vào sự lựa chọn đúng đắn và việc làm chính nghĩa của chồng. Sa gạt bỏ những lời ong bướm để nuôi con chờ chồng trở về, “suốt ngày nàng cặm cụi làm việc và tạm vui với hạnh phúc nhỏ bé bên đứa con trai. Nàng đã tiều tuỵ đi nhiều, mắt nàng sâu, nếu nhìn kỹ sẽ thấy đôi mắt ấy chỉ sống qua một tia sáng lờ mờ như lúc này vùi đầu bên bếp lửa. Nàng không cho phép mình gục ngã, bởi nàng còn đứa con - Hùng chính là chân lý để nàng sống tiếp” (Vợ một người tù mong một ngày về). Những mối tình nơi miệt vườn của Tâm và Quyến trong Đồng quê, Giác và Nhạn trong Tình quê, Huyền và Vá trong Cánh đồng cũng đã ươm mầm cho hạnh phúc tranh đấu. Rồi họ sẽ đến với cách mạng, ngày hội của non sông. Những mối chân tình, lý tưởng trong tiểu thuyết xuất hiện trong không khí những ngày đầu kháng Pháp đã tạo nên một sự khích lệ rất lớn đối với quần chúng đặc biệt là đối với các tầng lớp thanh niên.

Chính tình yêu là liều thuốc giảm đau của con người trong sự tàn phá của chiến tranh. Với chiến tranh thì không có ngoại lệ nào. Liên và Tân (Hờn chinh chiến) đều phục vụ trong quân đội. Liên là y tá chiến trường. Tân là quân nhân chủ lực chiến đấu ở chiến khu miền Đông. Tân bị thương, khuôn mặt biến dạng và không muốn gặp lại người yêu vì sợ mình sẽ là gánh nặng cho cuộc đời nàng. Tân đổi tên là Huyền Lâm và nằm diều trị ở khu bệnh xá nơi Vân Nga làm việc. Nga phát hiện ra Huyền Lâm chính là Hoàng Tân và báo cho Liên biết. Liên vui mừng gặp lại Tân nhưng sau đó trong lòng nàng có một nỗi thất vọng, hụt hẫng. Tân cũng đã nhận ra điều đó và cố tạo một bức màn ngăn cách giữa hai người dù sống chung trong một nhà. Tâm trạng của Liên khác hẳn Hường. Hường đón Biên với sự vui mừng, tự hào dù anh đã trở thành người tàn phế. Hình ảnh vợ chồng người bệnh binh Hường và Biên đã làm cho Liên thay đổi. Liên chợt nhận ra “mình chẳng những phản bội Tân mà còn phản bội một thứ gì vô cùng cao cả. Và sự phản bội ấy đã làm cho nàng yếu hèn đi, trống rỗng đi như một kẻ hèn hạ nhất trên đời” (Hờn chinh chiến). Nàng chủ động phá tan bức màn ngăn cách bấy lâu nay với Tân, “nàng đã hiểu lý do tranh đấu, lý do phụng sự của mình, nàng đã giác ngộ trước cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, nàng đã nhận định được giá trị và vai tuồng tối trọng của chiến sĩ tiền phong - hạng người như Tân -  thì sao nàng không vì lý do cao cả ấy, vì cái chân giá trị ấy của Tân mà đối với chàng một cách phải lẽ hơn?” (Hờn chinh chiến). Tình yêu của Liên cũng đã giúp Tân không gục ngã và chính Liên cũng thấy mình hạnh phúc, có ích với sự nghiệp cứu nước khi nhận lại từ Tân niềm tin yêu vô hạn. Từ một góc nhìn khác về chiến tranh, Con đường nghĩa vụ đặt ra cho Trang và Nghĩa những sự lựa chọn. Trong lúc Trang đến với cách mạng dân tộc thì Nghĩa lại chọn cách phục vụ hiến binh Nhật để hưởng cuộc sống giàu sang. Tình cờ Trang bị bắt và Nghĩa là người thông dịch trong cuộc khảo cung. Chính tình yêu và sự giác ngộ đã khiến Nghĩa đi đến hành động giết tên võ quan Nhật và cùng Trang trốn thoát trở về với cuộc đấu tranh của dân tộc.

Những mối tình thủy chung, trong sáng cùng những hi sinh hạnh phúc cá nhân cho lợi ích chung của dân tộc được các nhà văn nhiệt thành ngợi ca, cổ vũ. Họ là những cá nhân ít có sự tính toán thiệt hơn khi đặt tình cảm cá nhân, tình cảm gia đình bên cạnh trách nhiệm và nghĩa vụ đối với đất nước. Nếu có cơ hội, họ sẵn sàng hiến dâng tuổi trẻ và tình yêu để cứu nước. Tình cảm, tình yêu của họ, vì thế là những bài ca đẹp, thể hiện một lý tưởng và nhân cách sống cao thượng của con người.

Việc miêu tả, thể hiện tình yêu nam nữ trong tiểu thuyết viết về đề tài yêu nước và cách mạng nhiều lúc không phải là chủ đích chính của các nhà văn. Thế nhưng, chính những mối tình của các nhân vật, thường là mối tình của nhân vật chính, sẽ giúp phần rất lớn cho sự thành công của tác phẩm. Lúc đó nhân vật sẽ được khám phá ở nhiều góc độ khác nhau, từ vị trí vai trò đối với cộng đồng xã hội cho đến thế giới nội tâm phong phú nắm bắt bên trong. Nhân vật nhờ đó mà trở nên sinh động, gần với đời thực, trở thành những con người đang hiện diện đâu đó trong cuộc sống hiện tại, có sức lay động mọi người đứng lên cứu nước.

3. Mấy nét về nghệ thuật tiểu thuyết

Tiểu thuyết ở đô thị giai đoạn 1945 - 1954 đã miêu tả được nhiều khía cạnh sôi động của đời sống bằng những cảm hứng chủ đạo hết sức sâu sắc. Những nội dung và cảm hứng ấy đã được các nhà văn thể hiện qua những phương thức nghệ thuật tương ứng tạo nên những thành tựu nhất định của tiểu thuyết. Nghiên cứu những giá trị của tiểu thuyết Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, theo chúng tôi cần đặc biệt chú ý đến cái nhìn lịch sử cụ thể. Trong hoàn cảnh chiến tranh, mọi nguồn lực vật chất và tinh thần hầu như tập trung cho nhiệm vụ trung tâm là giải phóng dân tộc. Văn học, theo đó cũng có những hy sinh, mất mát. Cố nhiên, không ai buộc người cầm bút phải từ bỏ ý đồ cách tân về nghệ thuật, tìm tòi vào những bí ẩn của đời sống tinh thần con người, cái làm nên nghệ thuật và dấu ấn của người nghệ sĩ. Thế nhưng, trong hoàn cảnh đau thương của dân tộc, nhà văn cảm thấy trách nhiệm trí thức của mình là phải nói tiếng nói lương tri của thời đại, tiếng nói của số đông quần chúng. Nghệ thuật vì thế đã tìm cho mình một hình thức phù hợp đi vào đời sống, cổ vũ tinh thần của quần chúng. Tính chất thời sự, tươi mới của hiện thực buộc nhà văn phải viết nhanh để bắt kịp nó, và do vậy rất hiếm những tác phẩm dài hơi. Người cầm bút cũng chưa có độ lùi nhất định để chiêm nghiệm những vấn đề của đời sống hiện thực, cho nên nội dung của không ít tác phẩm chưa thực sự có chiều sâu. Nhưng nhìn chung, những trang viết mà các nhà văn để lại trong chín năm ấy vẫn có sức sống riêng với những tìm tòi về phương thức thể hiện nhân vật, phương thức kết cấu, phương thức sử dụng ngôn ngữ. Văn chương dễ gây xúc động vì nó thật, nó ghi lại được những thời khắc quan trọng, những chuyển biến về tinh thần của người Việt Nam trong một giai đoạn có thể nói là một đi mà ít có cơ hội quay trở lại. 

Trước hết, tiểu thuyết ở đô thị Nam Bộ đã xây dựng được một kiểu “nhân vật tâm trạng(7). Các tác giả tập trung miêu tả hành trình tâm lý của nhân vật một cách biện chứng. Đó là hành trình tự nhận thức để rồi đến với cách mạng của Ngọc Nga trong Tranh đấu, của Vũ trong Người yêu nước, của Dung và Tuấn trong Gió mới, của Tâm trong Đồng quê, của Giác trong Tình quê. Nhân vật có sự chuyển biến trong tư tưởng và hành động. Nhiều nhân vật vốn xuất thân từ gia đình khá giả như Vũ, Nga, Tâm… và họ đều mang một mặc cảm tội lỗi vì đã sống trong nhung lụa trong khi nhân quần xung quanh họ thì đói rách. Từ nỗi cảm thông với những số phận con người nghèo khó đã đưa họ tiếp xúc với tư tưởng tiến bộ rối đến hành động cách mạng. Từ tình yêu con người dẫn họ đến tình yêu nước. Có những nguyên do dẫn đến sự chuyển biến này, có thể là do tình cờ tiếp xúc với tư tưởng cách mạng, hoặc do bị đẩy vào tù và được những người chính trị phạm giác ngộ, hoặc do chứng kiến những hoàn cảnh bất công trước mắt khiến dẫn đến tự thức và hành động. Cái làm nên nét hấp dẫn của nhân vật trong tiểu thuyết chính là tình cảm và những tư tưởng tiến bộ hướng đến việc giải phóng con người, giải phóng dân tộc. Đặc biệt trong tiểu thuyết đã xuất hiện kiểu nhân vật tương đối gần gũi với kiểu nhân vật mà sau này trở thành phổ biến trong văn chương chống Mỹ: nhân vật “người Đảng”. Nhân vật “người Đảng” đã giác ngộ và đi theo cách mạng và quay trở lại tác động, giác ngộ cho những nhân vật khác. Trong Người yêu nước: Bão giác ngộ cho Vũ; Vũ giác ngộ cho Phượng; Phượng lại giác ngộ cho cha mình; trong Dân quê, tám Thợ đã giác ngộ cho Tâm. các nhân vật như Vũ, Sơn, Tâm có những nét gần gũi với A Châu trong Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, Thế trong Đất nước đứng lên và Quyết trong Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Chị Ba Dương trong Một chuyện chép ở bệnh viện của Bùi Đức Ái… Với các nhân vật trong đề tài viết về chiến tranh, yêu nước thì chiến tranh là hoàn cảnh thử thách phẩm chất của nhân vật. Nhân vật mang trong mình tình yêu bao la đối với tổ quốc, ngay cả khi phải hy sinh, từ bỏ hạnh phúc cá nhân, riêng tư. Nhân vật trong tác phẩm hiện lên như những chiến sĩ kiên cường bất khuất, luôn hành động vì độc lập, tự do cho nhân dân. Họ hành động quyết liệt, đi đến tận cùng của bổn phận với sứ mạng thiêng liêng ấy.

Về mặt kết cấu của tiểu thuyết, đa phần sử dụng loại kết cấu đơn giản. Kết cấu theo hình thức ghi nhật ký có Người vợ tù mong một ngày về, … Kết cấu vòng tròn có Hai dòng con, Cô Lan. Cốt truyện của nhiều tác phẩm tương đối nhẹ nhàng, gợi mở, chú ý nhiều tính chất luận đề. Nhiều tác phẩm kết thúc có hậu như Gió mới, Người vợ tù mong một ngày về…. Chúng tôi muốn nêu ra một vấn đề trên phương diện vật chất của văn bản ở đây là vấn đề kiểm duyệt và tự kiểm duyệt. Trong nhiều tác phẩm, nơi những trang viết đã xuất hiện nhiều chỗ, nhiều đoạn khá dài bị kiểm duyệt cắt bỏ. Điều đó khiến chúng ta phải suy nghĩ, liệu những chỗ bị cắt bỏ có phải là những chỗ có vấn đề nhạy cảm về chính trị?

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết được người viết mở rộng về phía khẩu ngữ, tăng cường ngôn ngữ đời sống và tạo ra sắc thái độc đáo của ngôn ngữ văn học vùng Nam Bộ. Những sáng tác của Phi Vân, mức độ sử dụng từ ngữ mang sắc thái Nam Bộ hết sức đậm đặc, làm bức tranh quê của ông đậm chất Nam Bộ.

4. Kết luận

Tiểu thuyết đô thị Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954 phần lớn là tiếng nói yêu nước, tấn công vào kẻ thù. Trên phương diện lịch sử xã hội, nó có những đóng góp quan trọng trong việc khích lệ lòng yêu nước của nhân dân, động viên mọi người đứng lên dành độc lập dân tộc. Trên phương diện văn hoá, tiểu thuyết Nam Bộ 1945 - 1954 đã có những đóng góp quan trọng vào tiến trình hiện đại hoá văn học. Nhà nghiên cứu phê bình văn học Nguyễn Thị Thanh Xuân cho rằng: “văn học kháng chiến chống Pháp hết sức khiêm tốn trong tham vọng chiếm giữ một vị trí trong lịch sử văn học Việt Nam, nhưng mặt khác, nó lại có một khả năng thâm nhập vào công chúng rộng rãi, nó thể hiện tính dân chủ và tính công phá trực diện”(8). Sức mạnh, vẻ đẹp của những trang viết ấy thiết nghĩ là có căn nguyên ở sự bén rễ sâu vào nhịp đập của đời sống thời đại đồng thời quay trở lại phục vụ, tác động tích cực vào việc cải tạo đời sống.

Cho đến nay, việc nghiên cứu văn học Nam Bộ 1945 - 1954 nói chung và mảng tiểu thuyết nói riêng ở các đô thị vẫn cần tiếp tục được đẩy mạnh và cần được khẳng định. Khi bàn về vai trò và tác dụng của văn học yêu nước trong các thành thị tạm chiếm ở Nam Bộ giai đoạn 1954 - 1975, nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá viết: “Thời gian đi qua đã 30 năm, đến nay chúng ta có căn cứ để nhận xét: khuynh hướng văn học này không chỉ có giá trị phục vụ kịp thời trực tiếp hoặc gián tiếp chống Mỹ và tha thiết kêu gọi người đọc - nhất là thanh niên - “Tìm về dân tộc”, góp phần tích cực vào sự nghiệp thống nhất đất nước, mà không ít tác phẩm có giá trị lâu dài, chịu đựng được sự thử thách của thời gian. Giá trị này được cấu thành bởi tư tưởng yêu nước sâu sắc và chất lượng nghệ thuật khá cao. Những tác phẩm của các cây bút tiêu biểu kể trên chắc chắn sẽ góp phần làm giàu cho kho tàng văn học Việt Nam hiện đại. Nó xứng đáng được xem xét, đánh giá một cách trân trọng trong các công trình văn học sử”(9). Với tư cách là một mắt xích quan trọng trong tiến trình liên tục của lịch sử văn học dân tộc, văn học chống Pháp ở trong các thành thị Nam Bộ giai đoạn 1945 - 1954 càng xứng đáng được nhìn nhận, trân trọng.

Ngoài ra, cũng cần phải khẳng định những đóng góp quan trọng của những người cầm bút chân chính trong giai đoạn 1945 - 1954. Họ không chỉ ghi lại những thời khắc quan trọng của lịch sử dân tộc, mà quan trọng là họ đã thể hiện được phẩm chất đáng quý của người cầm bút trong hoàn cảnh ấy. Sự thành thật của ngòi bút trước thời cuộc khiến cho những trang viết dù trải qua thời gian tương đối xa nhưng vẫn có vị trí riêng trong lịch sử văn học dân tộc. Cái điều mà như nhà thơ Chế Lan Viên, nhân viết cho Tập văn của Đoàn Giỏi xuất bản năm 1987, từng bộc bạch: “Nhờ các nhà văn Nam Bộ, chúng ta đã khám phá, phát hiện ra miền Nam tổ quốc ta, khám phá phát hiện ra chất liệu đã làm nên cái miền đất “máu thịt của Việt Nam” (…) đọc các bài văn kia tôi thấy xúc động. Có gì đằng sau cái chất liệu kia… Tôi muốn nói đó là tâm hồn, đó là tấm lòng chân thành của tác giả. Cái đó giúp cho chất liệu đi qua mà không chìm không tan rã trong thời gian. Tác giả viết bằng trái tim trần và mình phải đọc bằng trái tim trần”. Và theo chúng tôi, muốn đọc, muốn nuôi dưỡng những giá trị tinh thần quý báu ấy “bằng trái tim trần”, trước hết cần thiết phải sớm tái công bố những trang văn ấy trong các bộ tuyển tập, hợp tuyển dày dặn, công phu để công chúng, nhà nghiên cứu có điều kiện tiếp cận, thưởng lãm (*).

 

Chú thích:

 

 (1), (9) Trần Hữu Tá: Những bổ khuyết cần thiết cho bức tranh toàn cảnh của văn học Việt Nam hiện đại, Nghiên cứu văn học, số 5-2005, tr.29, 30.

(2), (4), (5), (6) Nguyễn Văn Sâm: Văn chương tranh đấu miền Nam, Kỷ Nguyên xuất bản, Sài Gòn 1969, tr.462, 32, 57, 256.

(3) Nguyễn Văn Sâm: Văn chương Nam Bộ và cuộc kháng Pháp 1945-1950, Lửa Thiêng xuất bản, Sài Gòn.1972, tr. 44.

 (7) Trần Hữu Tá: Sức hấp dẫn của những trang văn ấy, In trong Bình luận văn học, niên giám 1997, NXB Khoa học xã hội, 1998, tr.41.

(8) Nguyễn Thị Thanh Xuân: Nhìn lại văn học kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ (1945-1954), In trong Bình luận văn học, niên giám 1997, NXB Khoa học xã hội, 1998, tr.20.

(*) Bài viết được thực hiện trong khuôn khổ đề tài NCKH cấp Trọng điểm ĐH Quốc TP. Hồ Chí Minh giai đoạn 2009-2012: Sưu tầm, khảo sát, đánh giá văn học Nam Bộ 1945-1954 do TS Võ Văn Nhơn chủ nhiệm.

 

 

 

 

 

Các nhà tài trợ

   

Đăng nhập

Giảng viên, nhà nghiên cứu có thể đăng nhập để gửi bài cho trang web VHNN tại đây.



Thành viên trực tuyến

Hiện có 1301 khách Trực tuyến

Cùng một tác giả