Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home

Tùy bút – một thể loại văn xuôi hiện đại trong văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc

E-mail Print
There are no translations available.

 Trần Văn Minh(*)

 1-  ĐẶT VẤN ĐỀ

          Mỗi dân tộc có một nền văn hóa, với những nét bản sắc riêng. Đó là cái phần tinh hoa, tinh túy được kết tinh lại trải qua suốt quá trình tồn tại và phát triển của một cộng đồng. Tuy nhiên, xét trên đại thể, các nền văn hóa thường không tồn tại độc lập hay tách biệt mà luôn có ảnh hưởng qua lại, giao thoa với nhau. Trong điều kiện lịch sử, xã hội gần giống nhau, giữa những thành tố văn hóa của các dân tộc có thể có liên quan ít nhiều hoặc cùng chịu sự chi phối từ những nguyên tắc mang tính  phổ quát.

          Việt Nam và Trung Quốc nằm chung trong khu vực văn hóa các quốc gia có sử dụng Hán tự. Các giai đoạn của tiến trình lịch sử - xã hội ở hai nước mang nhiều nét tương đồng. Hệ tư tưởng Tam giáo đã thống trị thế giới tinh thần cả hai dân tộc trong suốt thời kỳ Trung đại. Về sau, văn minh phương Tây mới được du nhập và tiếp biến để làm nên những giá trị mới ở thời kỳ hiện đại. Xét riêng lĩnh vực văn học, có thể thấy quá trình hiện đại hóa đã diễn ra khá mạnh mẽ và triệt để từ đầu thế kỷ XX đến nay. Trong văn học hiện đại, ý thức cá nhân được khẳng định, kéo theo hàng loạt thay đổi về bút pháp và nghệ thuật thể hiện. Trên cơ sở kế thừa và cách tân, hệ thống thể loại văn chương dần trở nên đa dạng, linh hoạt và tự do hơn. Thơ ca truyền thống lược bớt yếu tố cách điệu, tượng trưng để tăng cường chất hiện thực, đời thường. Văn xuôi Trung đại (tản văn, tiểu thuyết chương hồi,…) cũng từng bước đổi mới về thi pháp, nhằm đáp ứng thỏa đáng những yêu cầu đặt ra từ cuộc sống hiện đại.

          Tùy bút là một thể loại văn xuôi giàu chất trữ tình, ra đời và có nhiều thành tựu đáng kể ở thời kỳ hiện đại. Sự hình thành, quá trình phát triển của nó trong văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc hoàn toàn không phải do ngẫu nhiên, tùy tiện mà là kết quả tất yếu từ một quá trình biện chứng, luôn tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Do đó, việc khảo sát hiện tượng văn học này không chỉ nhằm mục đích khẳng định những giá trị vốn có, mà quan trọng hơn, sau khi so sánh để chỉ ra những nét tương đồng và dị biệt, có thể rút ra những quy luật khách quan ngỏ hầu định hướng phù hợp cho sự phát triển các nền văn học của chúng ta ở tương lai.

2-   THỂ LOẠI TÙY BÚT TRONG NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

2.1-   Những vấn đề lý thuyết về thể loại

* Về khái niệm tùy bút

           Có vẻ như cách hiểu đơn giản theo cảm tính: tùy bút là những trang văn xuôi ở đó nhà văn tùy theo ngòi bút mà đưa đẩy - lâu nay đã được nhiều người yên tâm thừa nhận. Ngay cả Nguyễn Tuân - nhà văn sáng tác tùy bút hàng đầu của Việt Nam - cũng có lần thừa nhận: “Nguyên tắc quan trọng nhất của tùy bút là không có nguyên tắc gì cả”. Cách hiểu này đặt cơ sở trên một nét đặc trưng nghệ thuật của thể tùy bút là luôn coi trọng và phát huy tối đa cảm xúc, quan điểm chủ quan ở người nghệ sĩ. Tuy nhiên, những điểm bất cập và chưa thỏa đáng cũng nảy sinh từ chính sự giản đơn ấy.

            Bất kỳ sáng tác văn chương có giá trị nào cũng đều bắt đầu từ những cung bậc cảm xúc đậm màu sắc chủ quan, chứ không riêng gì tùy bút. Để cho ngọn bút có thần thì cảm xúc ở người nghệ sĩ phải chân thành, phải thăng hoa đến độ mãnh liệt. Mặt khác, một cách hiểu không thỏa đáng về khái niệm tùy bút sẽ rất dễ dẫn đến lẫn lộn giữa lối viết phóng khoáng, tự do với lối viết tản mạn, bịa đặt tùy tiện; đồng thời cũng không chỉ ra được bản chất và vai trò của yếu tố chủ quan trong tùy bút. Bởi vì:“Những sự việc, những con người trong tùy bút tuy có thể không kết thành một hệ thống theo một cốt truyện, hay theo một tư duy luận lý chặt chẽ, nhưng tất cả vẫn phải tuân thủ trật tự của dòng cảm xúc, cái lôgic bên trong của cảm hứng tác giả. Và tất nhiên là sự việc được kể lọc qua cách nhìn của chủ thể thẩm mỹ vẫn phải chân thực” [11; 1888].

          Nếu coi tùy bút là một cách viết hay một kiểu bút pháp thì chỉ mới dừng lại ở mức độ cảm tính trong nhận thức, chưa bao quát hết đối tượng. Tùy bút còn là một thể loại văn học có những đặc trưng rõ nét cả về nội dung và nghệ thuật biểu hiện, đủ sức tồn tại ngang hàng với những thể loại văn xuôi nghệ thuật khác. 

          Từ góc nhìn từ nguyên học có thể tìm thấy những giả thiết đáng tin cậy, góp phần vào việc xác định khái niệm và phân định loại hình của tùy bút. Trong Hán Việt từ điển giản yếu, từ “tùy bút” được Đào Duy Anh giải nghĩa là “tùy thời mà biên chép”. Nghĩa là thể loại này không chỉ bộc lộ cảm xúc chủ quan của người viết mà còn phải chịu sự chi phối từ hoàn cảnh khách quan. Còn từ “bút”, ngoài nghĩa cái dùng để viết, có thêm nét nghĩa nữa là biên chép. Vậy thì phải chăng từ “tùy bút” - trước khi được sử dụng để định danh cho một thể loại văn xuôi Việt Nam hiện đại - vốn đã được hình thành từ Thuyết Văn Bút thời Lục triều, trong lý luận văn học cổ điển Trung Quốc? Vào buổi sơ khai của việc phân loại, một số nhà lý luận Trung Quốc đã chia văn chương thành 2 loại: có vần và không vần. Ở chương Tổng thuật của tác phẩm Văn tâm điêu long, Lưu Hiệp có viết: “Kim chi thường ngôn, hữu Văn hữu Bút, dĩ vi vô vận giả Bút dã, hữu vận giả Văn dã” (Ngày nay thường nói: có Văn có Bút, cho không vần là Bút, có vần là Văn). Thời Lưu Tống, trong Nhan Quang Lộc tập, Nhan Diên Chi lại chia văn chương ra làm 3 loại: Ngôn, Bút, Văn. Trong đó, “Bút” có phạm vi rộng hơn, bao gồm cả truyện ký [5; 29,30].

          Dù mới chỉ là giả thiết, nhưng thiết nghĩ những thông tin trên đủ cơ sở để củng cố một mối hoài nghi mang ý nghĩa khoa học: không thể tiếp tục hiểu rằng “bút” là ngòi bút và “tùy bút” là tùy theo ngòi bút mà đưa đẩy. Từ trong nguồn gốc phương Đông, tùy bút đã được xác định là một thể loại văn xuôi thực sự tự do, phóng túng, không bị ràng buộc bởi những khuôn khổ có tính quy phạm, cả về nội dung tư tưởng và cách thức thể hiện.                                                  

          Qua nghiên cứu, chúng tôi còn nhận thấy có sự gần gũi giữa thể loại tùy bút của Việt Nam với thể loại essay trong văn học phương Tây. Nhà văn Pháp Michel Eyquem de Montaigne (1533-1592) được xem ông tổ của essay, có tác phẩm tiêu biểu: tập Essais (xuất bản năm 1580). Trong Từ điển văn học (bộ mới), tựa đề tác phẩm này được dịch là Tùy bút (11; 1000). Ở Tập bài giảng nghiên cứu văn học, Hoàng Ngọc Hiến đã phân tích thật thấu đáo những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của ét-xe (từ trang 19 đến trang 26). Ét-xe được dịch là tiểu luận - một tiểu loại thuộc thể ký: “Trong nghiên cứu văn học Việt Nam đương đại, ký là một thuật ngữ được dùng để gọi tên một thể loại văn học bao trùm nhiều thể hoặc tiểu loại: bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, tùy bút, tản văn, tạp văn, tiểu phẩm (ét-xe)”.

            Trên thực tế, trong hệ thống thể loại văn xuôi Việt Nam, sự góp mặt của tiểu luận (ét-xe) với tư cách một thể loại độc lập, bằng những thành tựu đặc sắc, là chưa được thừa nhận. Với tùy bút thì tình hình khác hẳn. Đóng góp của nó đã thực sự có ý nghĩa để làm nên sự phong phú, rạng rỡ cho diện mạo nền văn học hiện đại. Tất nhiên, không thể đồng nhất hoàn toàn ét-xe với tùy bút. Vẫn có thể chỉ ra những nét dị biệt (Ví dụ: ét-xe không có hư cấu, non-fictional). Nhưng trong nỗ lực xác định để khu biệt những đặc trưng nghệ thuật của thể loại tùy bút thì việc tham khảo, đối chiếu với ét-xe là một hướng nghiên cứu có ý nghĩa khoa học.

           Mặt khác, khi tra cứu phần giải thích từ “essay” trên Internet, chúng tôi nhận thấy hầu hết các định nghĩa đều thống nhất với nhau rằng: đây là một thể loại sáng tác văn chương ngắn gọn, súc tích; bộc lộ cảm xúc và quan điểm của cá nhân tác giả. Ví dụ: “A relatively brief literary composition, usually in prose, giving the author’s views on a particular topic”(17); “A short literary composition that reflects the author’s outlook point”(18); “A short literary composition on a single subject expressing a personal view”(19). Trong quan niệm về thể loại văn học của phương Tây, essay còn được xem là những sáng tác ra đời từ cách viết tự do, lệch chuẩn (free writing), không giống với nhiều dạng văn xuôi theo quy cách cố định:“Often brief in scope and informal in style, the essay differs from such formal expository forms as the thesis, dissertation, or treatise”(20). Không chỉ xuất hiện trong văn chương, cấu trúc essay còn được vận dụng ở nhiều lĩnh vực khác: “C’est un genre litéraire qui se prête bien à la réflexion philosophique, mais il y a également des essais d’autres domaines: essais historiques, essais scientifiques, essais politiques, etc...” (21).

           Những đặc điểm này - theo ý kiến của các nhà nghiên cứu - cũng chính là yêu cầu không thể thiếu ở tùy bút: “Nét nổi bật trong tùy bút là qua việc ghi chép những con người và sự việc cụ thể có thực, tác giả đặc biệt chú ý đến việc bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức đánh giá của mình về con người và cuộc đời” (4; 434).  Nhà phê bình Vương Trí Nhàn trong bài viết ở Tạp chí Văn học số 6-1997 cũng đã khẳng định: “Được gọi là tùy bút, là những tác phẩm mà ở đó nổi lên trên bình diện thứ nhất những phẩm chất riêng, cốt cách riêng của tác giả. Chỉ những người muốn làm rõ cái giọng điệu độc đáo của riêng mình, những người thích tự biểu hiện, tự phân tích, đồng thời là những bút pháp vừa giàu chất hình tượng, vừa có khả năng viết chặt chẽ như châm ngôn... những người đó mới đi vào tùy bút”.

           So với một số thể loại khác, đội ngũ sáng tác của tùy bút còn khá khiêm tốn: “Trong văn học Việt Nam từ trước Cách mạng đến nay, số lượng nhà văn đứng được ở thể tùy bút không nhiều” (4; 401). Nhưng rõ ràng với tư cách một thể loại văn chương, tùy bút đã có quá trình hình thành và phát triển, kế thừa và cách tân, với những đặc trưng nghệ thuật chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cả phương Đông và phương Tây. Còn có thể hiểu tùy bút như một kiểu bút pháp tự do, phóng túng, tài hoa, không thuộc sở hữu riêng của sáng tác văn chương. Cách hiểu này không phổ biến và chỉ có ý nghĩa gợi mở thêm hướng nghiên cứu.

* Xác định loại hình nghệ thuật của tùy bút

          Mặc dù là một thể loại văn xuôi mang rõ nét khá nhiều đặc trưng nghệ thuật, nhưng trên thực tế hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào riêng cho tùy bút. Trong các tác phẩm lý luận văn học, do những biểu hiện có tính chất trung gian, tùy bút bao giờ cũng được nhắc tới với tư cách là một tiểu loại của thể loại ký, bằng sự dè dặt nhất định. Quan điểm trong việc xác định loại hình của tùy bút cũng chưa thấy có được sự nhất trí cần thiết. Có thể nhận thấy nổi lên hai quan điểm vừa tương đồng vừa có chỗ chưa nhất trí với nhau về vấn đề này: 1- Tùy bút là một tiểu loại văn xuôi giàu chất trữ tình, nhưng phái sinh từ ký (một biến thể của tự sự);  2- Tùy bút là một thể văn xuôi thuộc loại trữ tình. Cả hai quan điểm trên đều thừa nhận sự tồn tại thường trực của chất trữ tình trong tùy bút, nhưng cách nhìn nhận về vai trò, mức độ của yếu tố tự sự thì có điểm khác nhau.

            Các tác giả của quyển Văn học Việt Nam thế kỷ XX xếp tùy bút vào loại ký:  Tùy bút là một thể thuộc loại hình ký có lối viết phóng khoáng, tự do và chủ quan nhất... So với các tiểu loại khác, tùy bút giàu chất trữ tình hơn cả, tuy vẫn không ít yếu tố chính luận và chất suy tưởng triết lý” [4; 434]. Trong quyển Lý luận văn học-vấn đề và suy nghĩ, Nguyễn Văn Hạnh cũng xếp tùy bút vào hệ thống các thể ký: Các thể ký chủ yếu có mặt cả trong văn học cổ điển và hiện đại là ký sự, bút ký, tùy bút, nhật ký”[8; 99]. Khác hẳn với các ý kiến trên, trong quyển Lý luận văn học, Nguyễn Xuân Nam lại dứt khoát xếp tùy bút vào loại trữ tình: “Tác phẩm trữ tình không phải chỉ có thơ trữ tình, mặc dù nó là tiêu biểu nhất. Ngoài thơ trữ tình còn có tùy bút, thơ văn xuôi, ca trù, từ khúc,...Tùy bút là thể loại văn xuôi phóng khoáng. Nhà văn theo ngọn bút mà suy tưởng, trần thuật, nhưng thực chất là thả người theo dòng liên tưởng, cảm xúc mà tả người, kể việc” [15; 188]. Trong quyển Tam diện tùy bút, quan điểm của Trần Thanh Hà có vẻ dung hòa, mềm dẻo hơn: Tùy bút thuộc thể ký, vì vậy nó cũng mang những đặc điểm cơ bản của thể loại này... Xét từ gốc gác và bản chất, ký không nhằm thông tin thẩm mỹ mà thông tin sự thật... Thế nhưng tùy bút không nhằm thông tin sự kiện mà thông tin tâm trạng. Trong tùy bút, sự thật bên ngoài chỉ chiếm một phần nhỏ mà chủ yếu là chủ thể bộc lộ nội tâm... Điều này làm cho tùy bút đậm chất trữ tình và chỉ có thể xếp nó vào loại trữ tình” [7; 10,11]. Xem tùy bút là một thể loại linh hoạt, không thể quy kết thỏa đáng vào một loại hình nghệ thuật nào, tác giả đã phần nào tiếp cận được bản chất của vấn đề.

           Văn chương bao giờ cũng phải mang tính khuynh hướng, thể hiện rõ nhất ở cách người nghệ sĩ tiếp cận và nghiền ngẫm hiện thực. Đằng sau mỗi bức tranh đời sống bao giờ cũng thấm đẫm những vui buồn, suy tư, day dứt rất chủ quan, nhất là trong tác phẩm thuộc loại trữ tình. Nhưng riêng với tùy bút - một thể loại thường khi xuất hiện những chất liệu còn phập phồng hơi thở của cuộc sống thực - thì việc xếp yếu tố khách quan xuống hàng thứ yếu, chỉ có ý nghĩa như một phương tiện để giãi bày, có vẻ chưa thỏa đáng. Bản thân các chi tiết, sự kiện, số phận,... đã tồn tại như một cấp độ ý nghĩa trong nhận thức, nhiều khi hết sức sâu sắc và có mối liên hệ nội tại với cái mạch trữ tình của tác phẩm. Đọc Hà Nội băm sáu phố phường của Thạch Lam, ta không chỉ có được cảm giác đang triền miên giữa một dòng cảm xúc đằm thắm, dịu nhẹ, thanh cao mà còn hiểu biết thêm, còn ngộ ra bao nhiêu là vẻ đẹp có màu sắc văn hóa của con người và tạo vật ở đất kinh kỳ.

           Mặt khác, dù có màu sắc trữ tình đậm đà, tùy bút vẫn chưa hội đủ điều kiện để được công nhận là một thể văn xuôi hoàn toàn thuộc loại trữ tình. Bởi theo V.E.Khalizep, trong tác phẩm trữ tình “không có sự tái hiện mở rộng và chi tiết về các sự kiện, hành vi và quan hệ qua lại của con người ... Như vậy là trong trữ tình, người ta trực tiếp thể hiện yếu tố chủ quan của đời sống con người” [14; 198]. Hêghen cũng khẳng định tính chất trực tiếp của tự biểu cảm là một trong những thuộc tính quan trọng nhất của trữ tình: “Anh ta (nhà thơ trữ tình) có thể tìm kiếm sự kích thích sáng tạo và tìm kiếm nội dung ở bên trong bản thân mình, tập trung vào những tình thế, trạng thái, xúc cảm và dục vọng nội tại của trái tim và tinh thần mình. Ở đây bản thân con người trong đời sống nội tâm chủ quan của nó trở thành tác phẩm nghệ thuật” [14; 327]. Trong khi đó, biểu cảm ở tùy bút thường ít nhiều có màu sắc gián tiếp, thông qua việc miêu tả chân thực và sinh động những bức tranh đời sống.

           Vì những lý do vừa nêu, có lẽ không thể tiếp tục hiểu một cách giản đơn rằng “bút” là ngòi bút và “tùy bút” là “tùy theo ngòi bút đưa đẩy”. Tùy bút - từ trong bản chất của thể loại - là những tác phẩm văn xuôi phái sinh từ ký (gần với tự sự) và được viết chủ yếu theo mạch cảm xúc chủ quan của tác giả (gần với trữ tình).

          Vậy thì tùy bút nằm ở đâu trong hệ thống phân loại văn học truyền thống? Có lẽ đặt nó ở vị trí trung gian giữa tự sự và trữ tình là phù hợp nhất. Bởi các loại hình văn học không bao giờ tồn tại một cách tách biệt với nhau, với những ranh giới không thể vượt qua. Các cách phân loại văn học chỉ mang tính tương đối (Arixtôt chia làm ba loại: tự sự, trữ tình và kịch; ở Việt Nam xuất hiện nhiều cách chia khác nhau: chia ba – truyện, thơ và kịch; chia bốn - tự sự, trữ tình, kịch và ký; chia năm - tự sự, trữ tình, kịch, ký và chính luận), vì không một lý thuyết màu xám nào có thể bao quát được trọn vẹn sự đa dạng, xanh tươi của loại thể văn học. Các thể loại trung gian, không thể quy hẳn về một phía nào luôn xuất hiện như một hiện tượng tất yếu; đó là trường hợp của thơ - văn xuôi, kịch - thơ, tùy bút, bút ký, v.v... L.V.Cherets có đề xuất cách tiếp cận, nhận diện các thể loại trung gian một cách thật xác đáng: “Nhiều khi các tác phẩm tự sự về cơ bản bao gồm những đoạn mang tính chất trữ tình: những suy nghĩ mang tính cảm xúc của tác giả xâm nhập vào câu chuyện về các biến cố ... Văn học đã biết không ít tác phẩm mà yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình được kết hợp ở mức ngang quyền như nhau. Người ta gọi chúng là những tác phẩm tự sự - trữ tình” [14; 348].

          Đến đây, thiết nghĩ đã có đủ cơ sở để khẳng định: tùy bút là một thể loại văn xuôi thuộc loại tự  sự - trữ  tình. Vấn đề có thể sẽ phức tạp hơn khi vận dụng quan điểm này để xem xét những tác phẩm cụ thể. (Ví dụ: làm sao để phân biệt tùy bút với bút ký - một tiểu loại ký cũng thường mang không ít màu sắc trữ tình?). Nhưng thiết nghĩ, không thể vì muốn có được một sự tường minh về lý thuyết mà lại gò ép thực tiễn sinh động vào những khuôn mẫu không thực sự phù hợp. Cơ sở lý luận vốn có về loại thể văn chương cần được quan niệm như một hệ thống mở thì mới dung hợp hết những hình thức tồn tại trung gian hoặc mới được sáng tạo ra.

2.2-   Sự hình thành và phát triển của thể loại tùy bút trong nền văn học

Việt Nam hiện đại

          Thể loại tùy bút đã có đóng góp to lớn cho nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nhưng vì phải tồn tại ở thế nép mình vào ký, nên lâu nay nó chưa có được sự quan tâm đúng mức từ các nhà nghiên cứu. Trong khi có thể tìm thấy nhiều định nghĩa về tùy bút, của cả người sáng tác và nhà lý luận phê bình, thì công việc xác định toàn bộ quá trình hình thành, phát triển của thể loại này hình như vẫn còn bỏ ngỏ, hoặc chưa được nghiên cứu thật đầy đủ.   

Theo Nguyễn Văn Hạnh, loại và thể văn học “hình thành và phát triển một cách lịch sử trong các nền văn học dân tộc, do đó, mang những đặc điểm lịch sử và dân tộc rõ nét. Có những thể loại có ở thời kỳ lịch sử này, ở nền văn học dân tộc này, nhưng lại không có ở thời kỳ lịch sử khác, trong nền văn học dân tộc khác” [9; 190]. Là thể loại văn xuôi mang màu sắc chủ quan đậm nét hơn cả nên tùy bút chỉ có thể phát triển mạnh mẽ, có được nhiều thành tựu nổi bật ở thời kỳ hiện đại, trên cơ sở những tiền đề cần thiết về bối cảnh, tâm lý xã hội và thực tế sáng tác văn học. Trong tùy bút, bản ngã của người nghệ sĩ được phép bộc lộ hết mình; mọi cung bậc cảm xúc tinh tế của cái tôi cá nhân có điều kiện giãi bày gần như ở thơ trữ tình. Những phẩm chất đó chỉ được chấp nhận trong bối cảnh xã hội hiện đại, khi mà ý thức cá nhân được khẳng định và sự độc đáo của cá tính được coi trọng như một giá trị nhân văn đích thực. Mặt khác, mọi sự phát triển muốn bền vững đều phải đặt nền móng trên hai nguyên tắc cơ bản: kế thừa và cách tân. Sự góp mặt của thể loại tùy bút trong nền văn chương dân tộc cũng không là ngoại lệ. Nó phát triển mạnh mẽ ở thời hiện đại, nhưng những tác phẩm được viết bằng một thứ văn xuôi linh hoạt, phóng túng, ở đó ưu trội lên mạch cảm xúc chủ quan của người nghệ sĩ, dung hợp được cả hai phương thức tự sự và trữ tình,... đã thấy xuất hiện từ thời kỳ văn chương trung đại.

* Trong văn học trung đại

          Có thể khẳng định ngay rằng: ở phương diện lý thuyết thể loại, chưa có sự tồn tại của tùy bút với đầy đủ những nét đặc trưng nghệ thuật của nó trong văn xuôi Việt Nam thời trung đại. Bởi hoàn cảnh lịch sử và cơ sở tâm lý xã hội lúc bấy giờ chỉ dung hợp được loại văn chương phi ngã. Phần chủ yếu trong cảm xúc và tư tưởng của nhân vật văn học chẳng qua chỉ là biến thái khác nhau từ những chuẩn mực tam cương ngũ thường, tam tòng tứ đức,…Nhưng bao giờ cũng vậy, người nghệ sĩ chân chính không chỉ tồn tại trong đời với thuần túy một tư cách là thư ký trung thành của thời đại. Dù bị câu thúc giữa vòng vây của thi pháp trung đại, không ít cây bút văn xuôi vẫn tìm được phương cách để giãi bày tâm sự, xúc cảm cá nhân. Không thể phát triển thành dòng thành mạch như ở thời hiện đại, yếu tố trữ tình - một đặc trưng cơ bản của thể loại tùy bút - vẫn luôn tồn tại ở trạng thái tiềm ẩn, nhất là trong sáng tác của các nhà nho tài tử.

          Trong văn xuôi trung đại, ký là thể loại mang yếu tố trữ tình rõ nét hơn cả. Đồng thời với việc ghi chép trung thực những biến cố lịch sử, tái hiện chân thực bức tranh đời sống, miêu tả sinh động cảnh sắc thiên nhiên,...bao giờ các tác giả cũng ít nhiều bộc lộ quan điểm đánh giá, những suy ngẫm chủ quan và những rung động nảy sinh từ chính trái tim mình… Có thể khảo sát tính chất, mức độ của yếu tố trữ tình xuất hiện trong ký trung đại qua một số tác phẩm tiêu biểu: Thanh Hư động ký của Nguyễn Phi Khanh (1384), Trần Khiêm Đường niên phả lục của Trần Tiến (1764), Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác (1783) và Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (khoảng cuối thế kỷ XVIII),…

          Ở Thanh Hư động ký, qua những biểu hiện của quan điểm, cảm xúc cá nhân trong khi khắc họa nhân vật và miêu tả cảnh vật, tác giả đã có chỗ vượt lên được hạn chế chung của ký đầu thời trung đại để bình phẩm một cách chủ động với ít nhiều sắc thái cảm xúc riêng. Đến Trần Khiêm Đường niên phả lục, tác phẩm đầu tiên thuộc thể loại ký tự thuật, ý thức cá nhân đã phát triển đến một trình độ cần thiết, nhà văn lấy chính mình làm đối tượng tự sự - thêm một bước tiến đáng kể về thể loại để đến với tùy bút hiện đại. Phải mất gần 20 năm sau, “cột mốc xứng đáng đánh dấu cho một tác phẩm ký nghệ thuật đích thực đầu tiên rõ nét nhiều yếu tố tùy bút hiện đại của văn học nước ta” mới xuất hiện, đó chính là tác phẩm Thượng kinh ký sự. Ở tác phẩm này,“tinh thần then chốt” của tùy bút đã được thể hiện: “người viết đã trực tiếp phản ánh được thực tại bằng cảm quan thể nghiệm của chính mình... Mọi cảnh ngộ, sự việc trong tập ký đều được quy tụ về cá nhân người viết”. Sau ít năm, với sự “đa dạng cả về bút pháp lẫn đề tài”, Vũ trung tùy bút là tác phẩm “gần với thể tùy bút hiện đại hơn cả” [6; 24-26].

          Trong tác phẩm Chuyện văn, chuyện đời, Nguyễn Văn Hạnh cũng đã chỉ rõ: “Khái niệm tùy bút được nêu lên trực tiếp trong Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ” [9; 218]. Như vậy, phải đến đầu triều Nguyễn, mới thấy xuất hiện trong văn chương trung đại Việt Nam một tác phẩm mang khá rõ nét đặc điểm cơ bản của thể loại tùy bút. Tuy nhiên, vì thực tiễn sáng tác chưa đủ để đúc kết thành cơ sở lý luận về thể loại nên khái niệm tùy bút lúc bấy giờ có lẽ được sử dụng chỉ để gọi tên một lối viết tự do, phóng túng, không phải chịu sự câu thúc về đề tài, bút pháp vốn khá nghiêm ngặt trong văn chương trung đại. Đồng thời với thuật sự, tác giả có gửi gắm vào trang viết cả những nỗi niềm tâm sự, những suy tư về cuộc đời, về nhân tình thế thái. Vũ trung tùy bút được sáng tác bằng bút pháp linh hoạt, vừa phản ánh chân thực đời sống vừa bộc lộ mạch cảm xúc đậm màu sắc chủ quan và mang dấu ấn phong cách cá nhân. Đây là một cái mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển của thể loại tùy bút ở nước ta.

          Sau các tác phẩm ký bằng chữ Hán, vào những năm cuối thế kỷ XIX, đã thấy xuất hiện tác phẩm ký bằng chữ quốc ngữ; trong đó yếu tố chủ quan của người viết (cả về tư tưởng và cảm xúc) dần được bộc lộ đậm nét. Tiêu biểu hơn cả là Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi 1876 của Trương Vĩnh Ký. Tác phẩm không chỉ có giá trị tư liệu mà còn đánh dấu một bước phát triển mới về mặt thể loại. Dấu ấn cá nhân có thể tìm thấy qua cách sử dụng ngôn ngữ linh hoạt, “phần nào diễn tả được trọn vẹn ý đồ tư tưởng và tình cảm của người viết” [4; 376], dù đang buổi sơ khai của văn xuôi quốc ngữ.

*  Mặc dù đã thấy xuất hiện những tác phẩm có hơi hướng tùy bút, nhất là ở giai đoạn cuối, khi nhu cầu khẳng định cái tôi cá nhân được làn gió Tây học thổi bùng lên, nhưng trong suốt mười thế kỷ văn chương trung đại Việt Nam, tùy bút chưa được công nhận là một thể loại riêng biệt. Dù sao, đó cũng là tiền đề cần thiết từ thực tế sáng tác đối với sự hình thành và phát triển của thể loại tùy bút ở thời kỳ hiện đại.

* Trong văn học hiện đại:

                Từ 1900 đến 1930

           Trong khoảng hai thập niên đầu thế kỷ XX, khi nhiều tờ báo bằng chữ quốc ngữ lần lượt ra đời (Gia Định báo-1865; Nông cổ mín đàm-1901; Đại Việt công báo-1905; Đông cổ tùng báo-1907; Đông Dương tạp chí-1913; Nam Phong tạp chí-1917; An Nam tạp chí-1922), thể loại đã có điều kiện phát triển với phương tiện sáng tác và bút pháp mới. Có thể kể một số tác phẩm tiêu biểu như: Hương Sơn hành trình ký (1914) của Nguyễn Văn Vĩnh; Mười ngày ở Huế (1918) và Một tháng ở Nam Kỳ (1919) của Phạm Quỳnh. Tuy có bước thay đổi đáng kể về văn tự nhưng “tính quá độ và kế thừa của ký cận đại cũng thể hiện: giọng biền ngẫu, bản ngã cá tính còn dè dặt; miêu tả cụ thể nhưng vẫn thiên về sự, về ngoại cảnh hơn là về tình, về nội tâm” [6; 16]. Đây là bước khởi đầu của thời kỳ chuyển tiếp từ ký trung đại sang ký hiện đại.

                        Từ khoảng cuối năm 1920, khi Nam Phong tạp chí khởi đăng Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác (thuật lại cuộc viễn du trong sáu năm của tác giả qua Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Triều Tiên) thì “ký đã bắt đầu trình làng như một thể loại độc lập” [4; 376]. Trong những năm tiếp theo của thập kỷ 20, bắt đầu khởi sắc với hàng loạt tác phẩm của Nguyễn Bá Trác, Phạm Quỳnh, Đông Hồ, Tương Phố, Nguyễn Đôn Phục,... đăng trên Nam Phong tạp chí. Bên cạnh những tác phẩm thiên về tính chất biên khảo, ghi chép phong tục (của Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Bá Học...), đã xuất hiện “các tác phẩm mang hơi hướng tùy bút, đậm chất trữ tình”(của Tương Phố, Đông Hồ,...) [4; 377]. Giàu chất trữ tình và đậm hơi hướng tùy bút hơn cả, phải kể đến Giọt lệ thu của Tương Phố. Viết từ năm 1923, đăng báo năm 1928, Giọt lệ thu là áng văn chương diễm tình có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn độc giả Việt Nam nhiều thế hệ.        

              Từ 1930 đến 1945

                         Trong điều kiện lịch sử, xã hội thuận lợi, đến giai đoạn này những tác phẩm tùy bút có giá trị mới lần lượt ra đời và khẳng định sự góp mặt xứng đáng vào nền văn học Việt Nam hiện đại. Xã hội buổi giao thời đã nảy sinh hàng loạt mâu thuẫn: giữa phương Đông với phương Tây, giữa cổ truyền với hiện đại, giữa cái cũ và cái mới, giữa cá nhân và cộng đồng,... Lý tưởng thẩm mỹ của thời đại đã thay đổi. Quan niệm đề cao con người cá nhân của phương Tây như làn gió mới, thổi bùng lên khát vọng giải phóng, khát vọng tự do. Sự thức tỉnh của ý thức cá nhân trước hết xuất hiện ở tầng lớp trí thức Tây học, vì họ sớm có điều kiện được tiếp xúc với đời sống văn minh. Đã có sự gặp gỡ giữa chất phóng túng, cao ngạo của nhân cách kẻ sĩ “bất năng khuất” với cái tôi phá phách, nổi loạn của các trường phái triết học tư sản mới du nhập vào (chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa siêu nhân, chủ nghĩa xê dịch,...).

                          Không khí thời đại có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống văn học. Sự bùng nổ của thơ Mới và văn xuôi Tự lực văn đoàn đánh dấu bước trưởng thành kỳ diệu của cái Tôi cá nhân. Nếu lúc vừa mới thoát thai vào những năm đầu thế kỷ, cái Tôi ấy bơ vơ “như lạc loài nơi đất khách” thì giờ đây nó đã thật cứng cáp, mạnh mẽ vì ý thức đầy đủ những quyền năng của mình trong cuộc đời thực cũng như trong thế giới xúc cảm muôn màu muôn vẻ: “Tôi muốn mỗi ngày trong cuộc sống của tôi phải cho tôi cái say sưa của rượu tối tân hôn. Mỗi ngày tới lại đem lại cho tôi một ngạc nhiên, bắt trí tò mò làm việc. Khi nào người ta không biết sửng sốt nữa thì chỉ còn có cách trở lại nguyên bản của mình là bụi bặm” (Nguyễn Tuân).

                          Thể loại tùy bút đã xuất hiện trong nền văn học Việt Nam hiện đại giữa bối cảnh lịch sử, xã hội đặc biệt như thế.

                         Vậy thì tác phẩm nào là tùy bút đầu tiên? Về vấn đề này, trong bài viết “Thạch Lam, từ quan niệm về cái Đẹp đến những trang văn Hà Nội băm sáu phố phường” (in trong sách Thạch Lam - về tác gia, tác phẩm) Nguyễn Thành Thi đã có những nhận định đáng chú ý: “Tức là phải xem Thạch Lam cùng với Nguyễn Tuân là hai nhà văn có công đặt nền móng xây dựng thể văn này, đưa nó đến bước trưởng thành có thể vẻ vang ngang các thể loại khác”. Để đi đến kết luận như thế, ở đoạn trước đó, nhà nghiên cứu có kiến giải khá cặn kẽ: “Thời Thạch Lam nổi tiếng trên văn đàn với các tập truyện ngắn của ông, tùy bút còn là một thể văn mới mẻ và hầu như chưa có thành tựu đáng kể... Nguyễn Tuân, nhà văn tùy bút số một hồi ấy cũng mãi đến khoảng 1941-1943 mới lần lượt trình chánh giữa làng văn mấy tập tùy bút nổi tiếng của mình. Cứ theo như năm xuất bản thì “Hà Nội băm sáu phố phường” in thành sách vào tháng 7-1943. Nhưng Thạch Lam mất vì bệnh lao phổi tháng 6 năm 1942, tập tùy bút này vì thế chỉ có thể hoàn thành muộn nhất vào cuối năm 1941, đầu năm 1942. Vậy nếu nói dè dặt nhất, thì cũng có thể khẳng định rằng Thạch Lam đã viết tùy bút đồng thời hoặc sau Nguyễn Tuân không xa (tập tùy bút sớm nhất của Nguyễn Tuân là “Chiếc lư đồng mắt cua” năm 1941 và “Tùy bút I” cũng năm 1941)” [2; 199].  

                          Có thể ghi nhận trong đoạn văn vừa trích dẫn hai luận điểm chính: 1- Hà Nội băm sáu phố phườngChiếc lư đồng mắt cua - những tác phẩm tùy bút đầu tiên, cùng được sáng tác vào khoảng năm 1941;  2- Thạch Lam và Nguyễn Tuân là hai khai quốc công thần ở thể loại tùy bút.

                          Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với Nguyễn Thành Thi về vai trò tiên phong, chủ lực của Thạch Lam và Nguyễn Tuân ở thể loại tùy bút. Bởi cả hai, chứ không phải ngòi bút nào khác, đã góp được những viên đá tảng để đắp nền và mở đường cho một thể văn xuôi tuy còn mới mẻ nhưng hứa hẹn tương lai thật sáng sủa. Còn đối với việc xác định đâu là tác phẩm tùy bút đầu tiên, dưới đây xin được góp thêm mấy ý kiến.

                         Không phải “mãi đến khoảng 1941-1943” nhà văn Nguyễn Tuân mới “lần lượt trình chánh giữa làng văn mấy tập tùy bút của mình”. Giở lại Nguyễn Tuân toàn tập, tập 1, sẽ thấy ngay rằng tác phẩm tùy bút đầu tiên có tiêu đề Chơi thành Cổ Loa đã xuất hiện trên An Nam tạp chí số 5, mãi từ tháng 1-1932. Tiếp theo, nếu không kể Một chuyến đi là tùy bút - du ký thì trong hai năm 1938,1939 Nguyễn Tuân viết đến 9 tùy bút: Cháy (1938), Những ngày nhạt nhẽo (1938), Về quê (1938), Làm lại cuộc đời (1938), Muốn sống (1938), Phong vị tỉnh xép (1939), Mê sách (1939), Vui thêm được một ngày nữa (1939), Tấc gang mà lại gấp mười quan san (1939).

                         Như vậy là từ năm 1932, Nguyễn Tuân đã có “trình chánh” những trang tùy bút của mình rồi. Trong khi đó, mặc dù bắt đầu cầm bút từ năm 1932 nhưng ở thời kỳ đầu Thạch Lam chủ yếu là viết báo. Theo Phạm Thế Ngũ, “tác phẩm đầu tay của Thạch Lam hình như là đoản thiên Cô áo lụa hồng (Phong hóa, 1935, số ngày 4 -10)”. Cho nên, nếu cần truy nguyên tùy bút đầu tiên thì theo chúng tôi, đó phải là tác phẩm Chơi thành Cổ Loa (1932) của Nguyễn Tuân. Đây là một tùy bút rất ngắn. Trong khuôn khổ 4 trang sách in (từ trang 131 đến trang 134 - Nguyễn Tuân toàn tập, tập 1), tác giả miêu tả cảnh rêu phong hoang phế của Cổ Loa thành; từ đó, bộc lộ những hoài niệm về tấn bi kịch trong truyền thuyết và nỗi ngậm ngùi, xót xa trước sức hủy hoại của thời gian. Cũng còn viện dẫn điển tích (Du Tử bùi ngùi biết quay về phương nao...), cũng còn dấu vết câu văn biền ngẫu (...lá vàng theo gió cuốn, bụi đỏ lại bay mù...; Đường lối đã thuộc, dấu tích đã nhớ...), nhưng rõ ràng mạch trữ tình đã dào dạt lên ở bình diện thứ nhất và cái tôi cá nhân uyên bác với những rung cảm tinh tế được chân thành, tự nhiên bộc lộ. Giọng điệu văn chương cũng biến hóa hết sức linh hoạt, như vừa say vừa tỉnh. Say với cảnh với tình và tỉnh táo, thâm thúy khi ngộ ra cái lẽ biến thiên diệu huyền của tạo hóa: “Đường lối đã thuộc, dấu tích đã nhớ, ta chỉ còn đem cặp mắt thu cái tàn đô của Cổ Loa, rồi đứng trước nếp thành cổ, nhớ lại người xưa, đem con tim khối óc mà cảm khái cuộc đời đổi thay!”.

                         Như vậy, tính đến 1945, nền văn học Việt Nam đã cơ bản hoàn tất quá trình thai nghén và sinh thành thể loại tùy bút. Chỉ trong vòng 15 năm mà tiến trình hiện đại hóa đã sải những bước dài. Cùng với thơ mới, truyện ngắn, phóng sự, tiểu thuyết, tùy bút là thể loại có đóng góp đáng kể để làm nên một thời đại văn chương rực rỡ. Lê Dục Tú đã có nhận định: “Phóng sự và tùy bút là hai tiểu loại ký tiêu biểu làm nên những thành tựu nổi bật của ký giai đoạn 1930-1945” [4; 408].

               Từ 1945 đến 1975

           Giai đoạn 1945-1975 đã ghi nhận thêm bước phát triển đáng kể của thể loại tùy bút. Đề tài sáng tác phong phú hơn, bút pháp đa dạng hơn, đội ngũ sáng tác đông đảo hơn. Hiện thực khốc liệt của 30 năm chiến tranh vệ quốc, có ngờ đâu, lại là điều kiện tốt nhất để nảy sinh, thử thách và khẳng định biết bao giá trị có ý nghĩa nhân văn sâu sắc trong các mối quan hệ xã hội (giữa cá nhân với cộng đồng, giữa dân tộc với thời đại, giữa chính nghĩa với phi nghĩa,...). Chính cái thế giới tâm hồn mênh mông thẳm sâu của con người Việt Nam trong thử thách hiểm nghèo của lịch sử là mảnh đất màu mỡ, là nguồn chất liệu vô tận để hình thành nên những trang tùy bút đặc sắc, mang âm hưởng một thời đại bi hùng. Đội ngũ sáng tác tùy bút thời kỳ này khá đa dạng với sự góp mặt của hai thế hệ: 1- Những cây bút có sáng tác trải dài qua hai thời kỳ trước và sau 1945 (Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Chế Lan Viên, Xuân Diệu,...); 2- Những cây bút trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến (Thép Mới, Nguyễn Thi, Nguyễn Trung Thành, Nguyễn Khải, Đỗ Chu, Phan Tứ, Khánh Vân,...). Trừ Nguyễn Tuân ra, không thấy có thêm nhà văn nào chuyên viết tùy bút. Ngoài ra, còn phải kể đến đóng góp của những cây bút sáng tác trong vùng tạm chiếm như: Vũ Bằng, Bình Nguyên Lộc, Hoàng Phủ Ngọc Tường,…

                Từ sau 1975

                                                                                                                                            Ngoài các nhà văn đã khẳng định tên tuổi ở giai đoạn trước vẫn còn đều đặn sáng tác (Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyên Ngọc,...), những cây bút có tác phẩm tùy bút tiêu biểu ở thời kỳ này là: Băng Sơn, Võ Văn Trực, Nguyễn Ngọc Tư,…

                       Không khó khăn để nhận ra rằng từ 1975 đến nay, thể loại tùy bút đã kịp thời thích nghi với những yêu cầu của hiện thực thời hậu chiến để tiếp tục phát triển và có thêm thành tựu mới. Trữ tình công dân dần được thay thế bằng nhiều cung bậc trầm tư của cái tôi cá nhân. Không chỉ ghi lại tâm tư tình cảm trong đời sống thực, tùy bút còn lắng vào bề sâu tâm hồn, tâm linh, tiềm thức con người Việt Nam để khám phá ở đó những giá trị bền chặt của văn hóa và truyền thống dân tộc.

*   Mãi đến thập niên 30 của thế kỷ XX, tùy bút mới thực sự hiện diện với tư cách một thể loại văn xuôi hiện đại, rồi từng bước khẳng định sự góp mặt xứng đáng bằng nhiều tên tuổi lớn, nhiều tác phẩm có giá trị. Nhưng trước đó, trong các tác phẩm ký trung đại, đã thấy xuất hiện ngày càng rõ những nét diện mạo cơ bản của nó. So với một số thể loại khác, đội ngũ sáng tác và thành tựu của tùy bút còn khá khiêm tốn. Nhưng rõ ràng nó đã có một quá trình hình thành và phát triển, kế thừa và cách tân, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cả văn học phương Đông và phương Tây. Trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam hiện đại, ở mỗi giai đoạn thường có một vài thể loại nổi trội lên, để ưu tiên đáp ứng yêu cầu và tính chất của hoàn cảnh lịch sử. Nhưng với tùy bút thì tình hình có vẻ hơi khác: một cách lặng lẽ, vừa xông xáo vừa điềm tĩnh, nó thích nghi được cả trong thời chiến lẫn thời bình, cả sử thi hoành tráng lẫn thế sự đời thường. Đặc biệt, tùy bút luôn tỏ rõ ưu thế trong việc khẳng định và tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

3-  THỂ LOẠI TÙY BÚT

     TRONG NỀN VĂN HỌC TRUNG QUỐC HIỆN ĐẠI

3.1- Về khái niệm Tản văn thể tùy bút

          Trong nền văn học Trung Quốc, tùy bút được coi là một dạng thức tồn tại và có nguồn gốc sâu xa từ tản văn truyền thống: “Một loại tản văn, viết theo cảm hứng tự do, không câu nệ theo một thể cách nào. Nội dung rất rộng rãi, hoặc nói lên điều tâm đắc sau khi đọc sách, hoặc kể một sự việc, một danh nhân, hoặc nêu những kiến văn về nhiều phương diện (), văn chương hoạt bát” [12; 210].

Mặc dù tản văn là một trong những bộ phận hợp thành quan trọng của nền văn xuôi, đã được nhiều học giả dày công nghiên cứu, tuy nhiên quan niệm về tùy bút (hay tản văn thể tùy bút) vẫn chưa có được sự nhất trí cần thiết. Có người đem hợp nhất hai loại: tiểu phẩm văn và tùy bút, cho rằng chúng có thể lẫn vào nhau. Nhưng theo Lưu An Hải, Tôn Văn Hiến trong Lý luận văn học thì tùy bút và tiểu phẩm văn có ranh giới khá rõ: “Tùy bút và tiểu phẩm văn xét về nội hàm và ngoại diên đều có khác biệt cơ bản: tùy bút thường dài hơn, không tinh xảo, đẹp đẽ, ngắn gọn như tiểu phẩm văn vậy. Tùy bút và tiểu phẩm văn đều chú trọng thể hiện cá tính, nhưng tùy bút tản mạn và lý tính hơn, không thanh khiết, cô đọng như tiểu phẩm văn. Tùy bút nghiêng về “bút”, tiểu phẩm lại nghiêng về “phẩm”. “Bút” là ghi chép lại, còn “phẩm” là thưởng thức” [10].

Đầu thế kỷ XX (thời kỳ Ngũ Tứ), thể loại tùy bút của phương Tây mới được đưa vào giới thiệu ở Trung Quốc. Trong tác phẩm Quan niệm cải lương về văn học của tôi, Lưu Bán Nông là người sử dụng từ “essay” sớm nhất. Lỗ Tấn cũng có lần cắt nghĩa: “Nếu như vào mùa đông, ngồi trên ghế một cách an nhàn bên cạnh lò sưởi, hoặc là vào mùa hè lúc uống ly trà đắng, tùy tiện tâm sự bày tỏ lòng mình cùng bạn thân, nếu đem chép lại những lời này ra giấy thì đó gọi là essay”. Trong Thanh tân đích tiểu phẩm văn tự, Úc Đạt Phu có lý giải cụ thể và so sánh chi tiết hơn: coi tùy bút là một dạng tản văn được hình thành chủ yếu do ảnh hưởng từ essay của phương Tây. Dần về sau, giới Tân văn học đã tìm được sự dung hợp giữa tản văn nghệ thuật truyền thống với essay, tạo nên một hình thức độc đáo: Tản văn thể tùy bút.

3.2- Quá trình hình thành

Trong văn học Trung đại

          Mặc dù mãi đến đầu thế kỷ XX thể loại tùy bút mới chính thức ra đời trong nền văn học hiện đại Trung Quốc, nhưng yếu tố trữ tình - nét đặc trưng nghệ thuật cơ bản của nó - đã tiềm ẩn trong tản văn thời kỳ Trung đại với mức độ ngày càng đậm đà, rõ nét hơn.

          Theo Dư Quan Anh trong Trung Quốc văn học sử, “Tập văn ghi chép và luận thuyết đầu tiên của Trung Quốc cổ đại là Thượng thư” [1; 21]. Tác phẩm gồm 100 thiên. Ba thiên Bàn canh (vốn là ba bài diễn thuyết ngắn) và đặc biệt là thiên cuối cùng có tựa Tân thệ bộc lộ “tình cảm tràn trề” của tác giả. Đến giai đoạn văn học Bắc triều, Thủy kinh chú của Lịch Đạo Nguyên tuy là một bộ sách địa lý nhưng được viết bằng thể văn du ký, giàu chất trữ tình (có người gọi là ký sơn thủy). Đơn cử đoạn tả cảnh Tam Hiệp trong Chú thích về sông Trường giang: “Từ Tam Hiệp trở đi trong vòng bảy trăm dặm, hai bờ núi liền một mạch, không hở chỗ nào, trùng trùng điệp điệp, che kín bầu trời, không phân biệt được ngày đêm, không thấy được mặt trời mặt trăng. Khi mùa hạ nước dâng, ngược xuôi cách trở…Mùa xuân, mùa đông sóng nước lăn tăn, dòng sông quanh co, cảnh vật in bóng đôi bờ…Mỗi khi gặp buổi sáng sương sa, rừng cây lạnh lẽo, khe nước tiêu điều, thường nghe vượn hú buồn da diết vang trong hốc núi mãi không sao dứt”.

          Trong bộ trường thiên tản văn Xương Lê tiên sinh văn tập (40 quyển) của Hàn Dũ, chất tự sự và chất trữ tình đã có sự hòa hợp rõ nét. Không ít bài văn ngắn mà ở đó trữ tình đã dào dạt lên thành mạch cảm xúc chính: “Đất Yên, đất Triệu ngày xưa khen có nhiều kẻ sĩ cảm khái bi ca. Đổng tiên sinh đỗ tiến sĩ, luôn bất đắc chí với các quan trên, mang cái tài lỗi lạc, bực bội đến đất kia, tôi biết thế nào ông cũng hợp. Xin Đổng tiên sinh hãy cố gắng đi ! Việc ông không gặp thời, tất cả những người hâm mộ đạo nghĩa, quý trọng điều nhân, đều yêu mến thương tiếc; huống gì những kẻ ở đất Yên, đất Triệu mà lòng nhân nghĩa là bản tính của họ !... Xin Đổng tiên sinh hãy gắn đi !”(Tống Đổng Thiệu Nam tự).

          Mặc dù chất trữ tình luôn bàng bạc trong tản văn truyền thống, nhưng theo Tiền Chung Thư, yếu tố tùy bút chỉ xuất hiện tương đối rõ nét ở những tác phẩm ký thời kỳ Bắc Tống: “Rất nhiều bài ký và tùy bút của Tô Thức mới là tản văn văn học chân chính hoặc là tản văn có tính chất văn học. Những bài ký sơn thủy của Liễu Tông Nguyên hoặc “Nhạc Dương lâu ký” của Phạm Trọng Yêm, “Túy ông đình ký” của Âu Dương Tu…phần lớn đều dùng thủ pháp truyền thống tình hòa với cảnh để diễn tả tư tưởng tình cảm của tác giả (…) nhưng bố cục kết cấu lại luôn biến đổi theo yêu cầu chủ đề” [1; 74].

          Phải đến văn học thời kỳ Gia Khánh, Đạo Quang (thế kỷ XVIII), nhu cầu giải phóng cá tính mới được đặt ra một cách gay gắt (tiêu biểu là trong sáng tác của Củng Tự Trân). Xã hội phong kiến ở giai đoạn suy vong, mục ruỗng đã lộ rõ bản chất tàn bạo, đối lập với quyền sống, quyền hạnh phúc của con người. Do đó, đội ngũ văn nghệ sĩ - thành phần nhạy cảm nhất - đã kịp thời nắm bắt và thể hiện thành công khát vọng cháy bỏng về tự do cá nhân trong đời sống xã hội cũng như trong thế giới tinh thần của con người. Theo Đoàn Lê Giang trong công trình nghiên cứu Tư tưởng lý luận văn học cổ điển Trung Quốc, từ thời Lục triều (cụ thể, trong tác phẩm Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp), khái niệm “bút” được dùng để gọi chung những thể văn không vần. Nhưng mãi đến thời Minh mới thấy từ “tùy bút” xuất hiện trong sáng tác của Viên Mai (hiệu là Tùy Viên Lão Nhân, 1716-1798). Ngoài tác phẩm Tùy Viên thi thoại gồm những đoản văn đặc sắc bàn về bản chất của thơ và yêu cầu đối với người nghệ sĩ, ông còn sáng tác Tùy Viên tùy bút. Quan niệm nghệ thuật của Viên Mai hết sức phóng túng, tự do. Ông đề cao tính linh - bộc lộ tình cảm chân thật của cá nhân một cách tự nhiên: “thích nhất là những sáng tác nói lên tình cảm” (Dư tối ái ngôn tình chi tác) và luôn khẳng định vai trò của phong cách cá nhân trong sáng tạo nghệ thuật: “Làm thơ không thể không có cái tôi, không có cái tôi thì cái tệ mô phỏng sao chép càng lớn”  (Tác thi bất khả dĩ vô ngã, vô ngã tắc tiễu tập phu diễn chi tệ đại) [5; 125-126].

Rõ ràng, mặc dù chưa xuất hiện tản văn thể tùy bút với tư cách một thể loại văn xuôi hẳn hoi, nhưng đã có những tiền đề cho sự ra đời của nó trong tiến trình văn học cổ - trung đại Trung Quốc. Đó là nỗi bức bách và nhu cầu bộc lộ, giãi bày những cung bậc cảm xúc trữ tình cá nhân; là khát vọng giải phóng ngòi bút, mở rộng biên độ những giới hạn có tính quy phạm của thi pháp tản văn trung đại,… Công cuộc hiện đại hóa nói chung và sự ra đời của thể loại tùy bút nói riêng trong nền văn học Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX đã dựa trên những tiền đề lý luận và thực tiễn vững chắc như thế.

Trong văn học hiện đại:          

          Trong công trình nghiên cứu Văn học hiện đại Trung Quốc nhìn từ Thượng Hải, Vương Văn Anh có nhận định: “Văn học của Trung Quốc đại để đã thực hiện hiện đại hóa vào thập niên 20, có những tác phẩm mô phỏng theo hình thức của những tác phẩm văn học đang lưu hành trên thế giới” [3; 48]. Như phần trên có đề cập, khái niệm essay và thể loại tùy bút được du nhập vào Trung Quốc từ phong trào Ngũ Tứ, nhằm chống lại hình thức sáng tác giáo điều, công thức đang thống trị nền văn học lúc bấy giờ. Trong bài viết có tựa đề Văn học vì con người (đăng trên số 5, số 6 của tạp chí Tân Thanh Niên), Chu Tác nhân đã khẳng định rõ ràng: “Chúng ta hiện nay cần phải đề xướng văn học mới, nói vắn tắt trong một câu là văn học vì con người. Thứ cần phải bài xích chính là thứ văn học không vì con người”.

Vào thập kỷ 20, nhóm Sáng tạo với thành phần chủ yếu là những trí thức du học ở Nhật Bản, do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ trào lưu tư tưởng hiện đại của phương Tây nên đã tạo ra được một bầu không khí phê bình, sinh hoạt văn học sôi nổi theo hướng đổi mới. Đội ngũ của nhóm gồm những gương mặt trẻ đầy tài năng và giàu tâm huyết như Quách Mạc Nhược, Úc Đại Phu, Thành Phỏng Ngô, Trương Tư Bình, Điền Hán, Trịnh Bá Kỳ, Hà Uy, Từ Tổ Chính, Dương Chính Vũ,…Hoạt động văn học của nhóm hết sức phong phú, trải dài từ sáng tác sang lĩnh vực phê bình, luận thuyết. Các cơ quan ngôn luận liên tiếp được sáng lập ra: đầu tiên là tạp chí Sáng tạo, rồi đến tờ báo Sáng Tạo châu báu, Sáng Tạo Nhật, nguyệt san Hồng Thủy, Sáng Tạo nguyệt san,…Mặc dù đến tháng 12 năm 1927, khi tờ Hồng Thủy bị đình bản, nhóm Sáng Tạo tan rã, nhưng ý nghĩa của nó trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học Trung Quốc là rất lớn lao. Nó góp phần tạo ra một bầu không khí cởi mở, dân chủ, để kích thích và giải phóng mọi năng lực sáng tạo. Ở thập niên này, thành tựu của tùy bút chưa nhiều, chỉ giới hạn trong những sáng tác tự do, phóng túng và giàu chất trữ tình, chất chính luận của Chu tác Nhân.

Sang thập niên 30, tình hình chính trị căng thẳng tạo nên sự phân hóa rõ nét trong xã hội cũng như trong đời sống văn học. Văn học cánh tả lấy lý luận Mác, Ăng-Ghen làm cơ sở tư tưởng, coi nhiệm vụ đấu tranh với giai cấp phong kiến thống trị để giành lại tự do và hạnh phúc cho tầng lớp vô sản là cứu cánh nghệ thuật. So với các bộ phận khác (như phái Dân chủ chủ nghĩa, phái Tự do chủ nghĩa, phái Văn học phân tâm của Freud,…), văn học của Liên minh cánh tả phát triển rất mạnh, có nhiều cách tân về nội dung và phương thức thể hiện. Cây bút văn xuôi nổi bật nhất ở thời kỳ này chính là nhà văn Lỗ Tấn. Tháng 10/1927, sau khi từ Quảng Châu đến Thượng Hải, Lỗ Tấn bắt đầu một giai đoạn sáng tác mới, chủ yếu ở thể loại tạp văn. Bởi đây là thể loại cơ động, đáp ứng kịp thời nhất cho nhu cầu phục vụ chính trị mà thời đại đặt ra. Nhà văn đã tỏ ra hào hứng khi bàn về tác dụng xã hội sâu sắc và tương lai đầy hứa hẹn của tạp văn: “Tôi là một người thích đọc tạp văn, và hơn nữa còn biết rằng thích đọc tạp văn không phải chỉ có một mình tôi…Tôi càng vui mừng với sự phát triển của tạp văn, ngày ngày được xem sự rạng rỡ của nó. Thứ nhất là làm cho giới trước tác Trung Quốc càng hoạt bát và náo nhiệt. Thứ hai, làm cho những lũ không ra trò trống gì phải thụt đầu. Thứ ba, là làm cho những tác phẩm nghệ thuật vị nghệ thuật, qua sự so sánh với tạp văn, sẽ càng lộ rõ cái tướng mạo sống dở chết dở của nó” [13; 277].

Trong lời tựa tác phẩm Thả giới đình, khi bàn về khái niệm thể loại, Lỗ Tấn có viết: “Phàm là văn chương…bất cứ thể gì, mọi thể đều xếp vào một chỗ cả, thế là thành tạp”. Ở đây nhà văn muốn ám chỉ tính chất phong phú, linh hoạt của tạp văn (chứ không nhằm xóa đi ranh giới giữa các thể loại). Theo Phương Lựu, “quả là thể tài của tạp văn thật muôn hình muôn vẻ, bao gồm tạp cảm, chính luận, tùy bút, diễn văn, thư từ, bình luận thời sự, bình luận văn nghệ, hồi ức, nhật ký, điếu văn, tựa, bạt, tiểu phẩm trữ tình, văn châm biếm,…”[13; 273]. Tùy bút là một trong những dạng thức tồn tại cụ thể, sinh động của tạp văn. Phân định ranh giới giữa các dạng thức này quả không là chuyện dễ dàng. Nhưng một thực tế không thể phủ nhận là cùng với mảng tạp văn đồ sộ của Lỗ Tấn, thể tùy bút đã có bước định hình và phát triển đáng kể trong nền văn học Trung Quốc. 

Đến giai đoạn kháng chiến chống Nhật ở thập niên 40, hình thức tản văn thể tùy bút tiếp tục phát triển với những tên tuổi như: Đường Thao, Châu Mộc Trai, Kim Tính Nghiêu, Vương Nhâm Thúc,…Hai tác phẩm được chú ý nhất trong thời kỳ này là Tù lục ký của Lục Lãi và Trích cư tản ký của Trịnh Chấn Đạt. Thông qua những điều mắt thấy tai nghe chốn ngục tù hoặc trong những năm tháng đi ở ẩn, các tác giả chủ yếu bộc lộ mạch suy tư, cảm xúc cá nhân về sự tồn vong của dân tộc, về những thăng trầm của thân phận con người. Chất tùy bút trở nên đậm đà, thành một nét phẩm chất nghệ thuật chủ yếu của tác phẩm.

          Ở những thập niên tiếp theo của thế kỷ XX, tùy bút dần khẳng định sự tồn tại như một hình thức văn thể mới trong nền văn học hiện đại Trung Quốc, tỏ rõ nhiều ưu thế khi phản ánh, giãi bày thế giới tinh thần phong phú đến phức tạp của con người giữa cuộc sống xã hội đầy biến động. Đội ngũ sáng tác tùy bút ngày càng đông đảo, chuyên nghiệp, đa phong cách hơn. Nếu tùy bút của Lương Ngộ Xuân, Phong Tử Khải mang đậm sắc thái biện luận lý tính, là những chiêm nghiệm đậm mùi thiền về bi kịch và khát vọng giải thoát của kiếp nhân sinh, thì sáng tác của Lâm Ngữ Đường lại được chú ý bởi những cách tân về hình thức. Lâm Ngữ Đường nhiều lần cho rằng không cần phải phân biệt essay của phương Tây với tiểu phẩm văn của Trung Quốc, vì nội dung và phương thức thể hiện của chúng gần giống nhau. Theo quan niệm đó, tùy bút của ông là sự dung hợp, hài hòa giữa tiểu phẩm văn truyền thống với essay của phương Tây hiện đại. Ngoài ra còn có thể kể thêm những sáng tác tùy bút giàu chất triết lý của Trương Ái Linh, Tiền Chung Thư,…

* Tản văn thể tùy bút (hay tản văn tùy bút) ra đời trong quá trình hiện đại hóa nền văn học Trung Quốc, là sự kết hợp giữa những ưu điểm của essay phương Tây với tản văn tiểu phẩm truyền thống; do vậy, đã mang đến những tố chất mới cho tản văn Trung Quốc thế kỷ XX. Một là, phạm vi đề tài được mở rộng và kết cấu tự do hơn. Tản văn truyền thống thường chú trọng đến kết cấu tinh xảo, mực thước và phát huy triệt để sự điêu luyện, sắc sảo của bút pháp nên ít nhiều ảnh hưởng đến vẻ phong phú, tự nhiên của tư tưởng tình cảm. Tùy bút hiện đại đã mở được cái tính phong bế của kết cấu, lấy tư thái tự do mà sáng tác nên phát huy được tính quảng đại bao dung của tản văn. Hai là sắc thái tư biện, lý tính được tăng cường. Trong khi tản văn truyền thống Trung Quốc chủ yếu thể hiện cái tình thì tùy bút hiện đại lại coi trọng tính triết lý, nghị luận, suy luận lôgic. Nhà văn được tự do ngôn thuyết và có quyền cường điệu những kiến giải độc lập, độc đáo của mình. Cho nên, tùy bút hiện đại không chỉ mang lại những rung động tình cảm mà còn giúp độc giả nâng cao trí huệ, ngỏ hầu nhận thức sâu sắc hơn về các vấn đề tự nhiên, về nhân sinh, nhân tính, nhân tình,…Cuối cùng, cùng với sự trỗi dậy của ý thức cá nhân, trong tùy bút hiện đại tính khách quan luôn được chú trọng như một nguyên tắc xuyên suốt từ công đoạn sáng tạo của người nghệ sĩ cho đến thực tế tiếp nhận của độc giả. Tính dân chủ, nhờ đó, được nâng lên một bước đáng kể; góp phần làm cho tiến trình hiện đại hóa nền văn học được toàn diện và triệt để hơn.

4-  VÀI NHẬN XÉT

          Từ việc khảo sát quá trình hình thành và phát triển của tùy bút trong văn học Việt Nam và văn học Trung Quốc hiện đại, có thể rút ra mấy nhận xét như sau:

          a- Về thời điểm ra đời:  Tùy bút chỉ thực sự được công nhận như một thể loại văn xuôi với đặc điểm nội dung và nghệ thuật riêng biệt, trong quá trình hiện đại hóa nền văn học từ đầu thế kỷ XX. Trước đó, khái niệm tùy bút đồng nghĩa với một cách viết, một kiểu bút pháp phóng túng, linh hoạt và giàu chất trữ tình.

          b- Về đặc điểm nội dung và nghệ thuật:  Truyền thống và cách tân là nguyên tắc quán xuyến, chi phối toàn bộ những đặc điểm nghệ thuật của tùy bút. Sự dung hợp giữa tản văn và ký truyền thống với essay của phương Tây, sự hài hòa giữa tự sự với trữ tình, giữa duy tình với duy lý, giữa khách quan với chủ quan,…đã làm nên những nét diện mạo độc đáo cho thể loại tùy bút. Tuy nhiên, trong nền văn học Trung Quốc, do nội hàm của thể loại tản văn rất phong phú, bao gồm trong nó hầu hết các dạng thức văn xuôi khác nhau, cho nên tên gọi “tùy bút” hầu như không được sử dụng phổ biến. (Mặt khác, để định danh cho những sáng tác văn xuôi nghệ thuật không có kết cấu, cốt truyện như tiểu thuyết, truyện ngắn, ở đó trữ tình là cái mạch chính, trội lên, người Trung Quốc còn có nhiều khái niệm khác như tiểu phẩm văn, mạn đàm, tạp văn,…). Trong khi đó, ở Việt Nam khái niệm tùy bút được sử dụng tương đối độc lập, để khu biệt một mảng sáng tác mang đặc điểm nội dung và nghệ thuật riêng. 

          c- Về lực lượng sáng tác:  Tùy bút là một thể loại kén độc giả, kén cả tác giả. Chỉ những nhà văn thực sự có cá tính mạnh mẽ, có vốn sống dồi dào, có năng lực quan sát, liên tưởng tưởng tượng phong phú, có đời sống tình cảm sâu sắc, tinh tế,…mới dám dấn thân vào tùy bút. Cho nên so với những thể loại văn xuôi khác khác (như tiểu thuyết, truyện ngắn, ký,…), đội ngũ sáng tác tùy bút không đông đảo bằng. Đa số là những cây bút không chuyên, sáng tác theo kiểu tài tử; thường thì chuyên chú vào thể loại khác, chỉ tìm đến với tùy bút khi nảy sinh nhu cầu giãi bày xúc cảm một cách trực tiếp (Từ góc tiếp cận này, tùy bút rất gần với thơ trữ tình). Suốt đời gắn bó và được vinh danh nhờ thể loại tùy bút như nhà văn Nguyễn Tuân của Việt Nam là hiện tượng hiếm hoi.

          d- Về lý thuyết thể loại:  Sau hơn một thế kỷ phát triển, góp nhiều thành tựu to lớn để làm phong phú thêm diện mạo nền văn học hiện đại, thể loại tùy bút vẫn chưa có được sự quan tâm nghiên cứu đầy đủ, đúng mức. Hầu như không thể tìm thấy công trình nghiên cứu quy mô nào về tùy bút. Những vấn đề có tính chất lý thuyết về thể loại như thuật ngữ, loại hình, đặc trưng nghệ thuật,…đôi khi được trình bày một cách cảm tính, chưa có đủ cơ sở khoa học. Rõ ràng, sự bất cập của lý luận trước thực tế sáng tác, riêng ở thể loại tùy bút, đang rất cần được khắc phục.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1-      Dư Quan Anh, Tiền Chung Thư, Phạm Ninh (chủ biên) - Trung Quốc văn học sử, 2 tập,

      Những người dịch: Lê Huy Tiêu, Lương Duy Thứ, Nguyễn Trung Hiền,

      Lê Đức Niệm, Trần Thanh Liêm, Nxb Giáo Dục, H – 1997

2-      Vũ Tuấn Anh, Lê Dục Tú - Thạch Lam- về tác gia và tác phẩm,

      Nxb Giáo Dục, H – 2003

3-      Vương Văn Anh – Văn học hiện đại Trung Quốc nhìn từ Thượng Hải,

      Người dịch: Phạm Công Đạt, Nxb Văn học, H – 2005

4-      Phan Cự Đệ (chủ biên) – Văn học Việt Nam thế kỷ XX,

      Nxb Giáo Dục, H – 2004

5- Đoàn Lê Giang (biên soạn và dịch thuật) – Tư tưởng lý luận văn học cổ điển Trung Quốc,     Nxb Đại học Quốc gia Tp HCM – 2004

6-  Nguyễn Thị Hồng Hà - Đặc trưng tùy bút Nguyễn Tuân,

      Luận án Tiến sĩ Ngữ Văn, Trường học KHXH&NV Tp HCM – 2004

7-  Trần Thanh Hà – Tam diện tùy bút, Nxb Tri thức, H – 2007

8-      Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương –

      Lý luận văn học, vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo Dục, H – 1998

9-       Nguyễn Văn Hạnh - Chuyện văn, chuyện đời, Nxb Giáo Dục, H – 2004

10-   Lưu An Hải, Tôn Văn Hiến (chủ biên) – Lý luận văn học, Nxb ĐH Sư phạm Hoa Trung,

      Vũ Hán – 2002; Trích dịch: Bùi Thúy Minh – Đại học Cần Thơ

11- Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Tửu, Trần Hữu Tá,

 Từ điển văn học, bộ mới – Nxb Thế giới, H – 2004

12- Phạm Thị Hảo – Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc,

 Nxb Văn học, H - 2008

13  Phương Lựu - Lỗ Tấn, nhà lý luận văn học, Nxb Giáo Dục, H – 1998

14-  G.N.Pôxpêlôp (chủ biên) - Dẫn luận nghiên cứu văn học,

       Những người dịch:     Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà, Nxb Giáo Dục, H - 1998

15- Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam – Lý luận văn học, tập 2,

  Nxb Giáo Dục, H – 1987

16-   Nguyễn Tuân toàn tập, 5 tập, (Nguyễn Đăng Mạnh giới thiệu), Nxb Văn học, H – 2000

17-www.nde.state.ne.us/READ/FRAMEWORK/glossary/generala-e.html     22/11/07

18- www.pwlge.com/moodle/mod/glossary/view.php   22/11/2007

19- www.peabody.jhu.edu/1437    22/11/2007

20- Microsoft R Encara R 2006.C1993-2005 Microsoft Corporation. Allrights reserved     22/11/2007

21- http://fr.wikipedia.org/wiki/essai    22/11/2007

 



* ThS, Khoa Sư phạm, Đại học Cân Thơ

 

Sponsors

 _logo_a_chau_1_1381809468.jpg

Online Members

We have 6031 guests online

Articles by Same Author