Tiếp nhận và cải biên Truyện Kiều thành kịch bản cải lương trước năm 1945

Mảnh trăng chênh chếch dòm song - Thư pháp: Lê Quang Trường

  1. Các khuynh hướng tiếp nhận tác phẩm văn chương trên sân khấu cải lương trước 1945

Năm 1920, gánh hát Tân Thinh treo hai câu đối trước sân khấu:

Cải cách hát ca theo tiến bộ

Lương truyền tuồng tích sánh văn minh

Hai câu đối này đã chính thức ghi tên một loại hình sân khấu truyền thống mới được người dân Nam Bộ nói riêng và người dân cả nước nói chung yêu thích gần 100 năm nay và đồng thời cũng thấy được đặc điểm của cải lương thời kỳ đầu là: lương truyền tuồng tích.

Mặc dù mới ra đời vào năm 1918 nhưng đến năm 1945, cải lương đã có số lượng tác giả và tác phẩm rất lớn để phục vụ cho nhu cầu của đông đảo quần chúng cả miền Nam lẫn miền Bắc. Vì đây là loại hình nghệ thuật mới, có sự dung hòa giữa loại hình nghệ thuật phương Tây là kịch nói và kịch hát dân tộc nên đã đáp ứng được nhu cầu của đại bộ phận khán giả thời bấy giờ. Để đáp ứng được nhu cầu của quần chúng và để có những vở cải lương biểu diễn kịp thời cho công chúng, bên cạnh việc tự sáng tác, các soạn giả đã chuyển thể những tiểu thuyết Việt Nam và Trung Quốc rất “ăn khách” thời bấy giờ. Chính vì vậy, có những khuynh hướng sáng tác kịch bản cải lương trước năm 1945 là: dựa vào các tác phẩm văn học Việt Nam, dựa vào văn học các nước, dựa vào lịch sử Việt Nam, dựa vào các loại hình nghệ thuật khác và phản ánh xã hội, đề cao đạo lý.

Theo chúng tôi, nguyên nhân là vì trong thời kỳ đầu mới ra đời, các soạn giả vẫn còn dè dặt trong việc tự sáng tác do lúc bấy giờ hát bội vẫn còn một chỗ đứng nhất định, các soạn giả vẫn giữ thói quen diễn lại “tuồng xưa tích cũ”. Mặt khác, với sự phát triển của văn học dịch, nhiều tiểu thuyết Trung Quốc được phổ biến ở Việt Nam và được đông đảo nhân dân yêu thích như: Tây du ký, Tam Quốc chí, Phong thần diễn nghĩa, Tái sanh duyên, Chung Vô Diệm, Vạn Huê Lầu, Thuyết Đường, Phản Đường, Quần anh kiệt, Tiết Đình San chinh Tây, Anh hùng náo tam môn giai…Chính vì thế, các soạn giả cải lương đã đưa những tiểu thuyết này lên sân khấu để vừa thu hút sự tò mò của khán giả vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu xã hội.

Các vở cải lương trước 1945 dựa vào các tác phẩm văn học Việt Nam chiếm số lượng tương đối lớn hơn so với các vở cải lương dựa vào lịch sử Việt Nam và dựa vào các loại hình nghệ thuật khác. Bởi vì đây là thời kỳ tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ ở Nam Bộ bắt đầu phát triển mạnh và được nhiều người yêu thích, đặc biệt là: tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết tình cảm.

Trong số các soạn giả cải lương thời kỳ này có một bộ phận là tiểu thuyết gia nên văn phong và cấu trúc tiểu thuyết của họ rất phù hợp cho việc chuyển thể. Chẳng hạn như: Giọt máu chung tình của Tân Dân Tử. Mặt khác, một bộ phận soạn giả thấy được trong một số tiểu thuyết quốc ngữ Việt Nam thời bấy giờ có nội dung phù hợp để chuyển thể thành kịch bản cải lương. Đó là những tiểu thuyết có sự hấp dẫn về nhân vật, cấu trúc và ý nghĩa xã hội. Ví dụ như: Giọt máu chung tình của Tân Dân Tử, Tiểu anh hùng Võ Kiết, Châu về hiệp phố của Phú Đức…

Khuynh hướng sáng tác dựa vào các tác phẩm văn học Việt Nam chia làm ba loại: dựa vào truyện kể dân gian Việt Nam, dựa vào truyện Nôm Việt Nam và dựa vào tiểu thuyết Việt Nam. Trong Văn học Nam Bộ từ đầu thế kỷ đến giữa thế kỷ XX (1900-1954) của Hoài Anh, Thành Nguyên, Hồ Sĩ Hiệp có đề cập đến một số vở cải lương lấy đề tài từ văn học dân gian Việt Nam như: Nhân vật đạo đồng (tức Vè con cua) của Nguyễn Văn Môn, soạn theo Truyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký, Ngốc tử cưỡi củi của Phạm Thị Phượng, Gánh củi trạng nguyên của Huỳnh Thủ Trung…nhưng trong 137 kịch bản cải lương Nam Bộ trước năm 1945 mà chúng tôi sưu tầm được không có những văn bản nêu trên do đó chúng tôi không khảo sát.  

So với các đề tài khác, những vở cải lương lấy đề tài từ cổ tích, thần thoại thường rất ít, theo chúng tôi có nguyên nhân sau: cải lương ra đời trong tình hình đất nước đang bị giặc ngoại xâm xâm lược, phong trào yêu nước phát triển mạnh. Bên cạnh đó, những vấn đề xã hội do Âu hóa cũng ngày càng lan rộng. Thế nên, cải lương cũng phải phát triển theo để kịp phản ánh những vấn đề thời đại. Chính vì vậy, các soạn giả hoặc là sáng tác những vở cải lương xã hội, hoặc là phóng tác dựa trên những tác phẩm văn học mang chủ đề yêu nước. Trong khi đó, cổ tích thần thoại Việt Nam đa số theo mô típ “ở hiền gặp lành”, người tốt thường có hoàn cảnh khó khăn sau đó được thần linh cứu giúp trở nên thành công và có thể cưới được công chúa hoặc có một kết thúc có hậu nào đấy. Trong những câu chuyện cổ tích và thần thoại Việt Nam, yếu tố may mắn, thế lực bên ngoài, thế lực siêu nhiên đóng vai trò quan trọng cho nhân vật giải quyết vấn đề. Tuy nhiên, trong tình hình đất nước hiện tại, quần chúng sẽ không còn tin vào điều đó mà phải để tự thân nhân vật giải quyết vấn đề của mình. Hơn nữa, những tác phẩm cải lương hiện tại còn định hướng cho phong trào đấu tranh của quần chúng nên thường nhấn mạnh vào vị trí và vai trò của những cá nhân anh hùng để cho quần chúng noi theo, học tập.     

Các kịch bản cải lương dựa vào truyện Nôm chiếm tỷ lệ cao hơn các kịch bản cải lương dựa vào tiểu thuyết Việt Nam nhưng không phải quá chênh lệch. Nguyên nhân là do so với tiểu thuyết Việt Nam, truyện Nôm là thể loại văn học ra đời trước hơn và đã khẳng định được vị trí trong văn học Việt Nam mà đỉnh cao là Truyện Kiều. Thứ hai, truyện Nôm chủ yếu được viết bằng thể thơ lục bát của dân tộc nên gần gũi với lời ca trong cải lương, dễ chuyển thể, dễ ngâm và nói lối. Thứ ba là, cốt truyện của truyện thơ Nôm dù có tác giả như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên hay khuyết danh như Quan Âm Thị Kính hay Lâm tuyền kỳ ngộ thì vẫn rất gần gũi với quần chúng, được lưu truyền rộng rãi trong dân gian và được quần chúng yêu thích, ngâm, kể. Trong khi đó, tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ vẫn còn khá xa lạ đối với nhân dân vì nhiều người không biết đọc. Cách kể chuyện của tiểu thuyết Việt Nam còn khá lạ so với tiểu thuyết chương hồi của Trung Quốc nên khi lựa chọn để chuyển thể, các soạn giả cải lương cũng cân nhắc cẩn thận. Hơn nữa, số lượng tiểu thuyết Việt Nam thời bấy giờ so với truyện thơ Nôm Việt Nam và tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc đang được dịch và đăng tải ồ ạt trên các tờ báo ít hơn rất nhiều. 

  1. Truyện Kiều và hoàn cảnh đất nước khi cải lương mới ra đời – bối cảnh tiếp nhận

Để gìn giữ và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống trong bối cảnh đất nước đang bị thực dân Pháp xâm lược và đồng hóa, chế độ phong kiến suy tàn, những nhà trí thức tiểu tư sản đã tìm phương thức cải biên phù hợp thông qua sự giao lưu, tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Những người trí thức tiểu tư sản nhận thấy rằng, sân khấu hát bội với những tư tưởng của Nho gia như: trung, hiếu, tiết, nghĩa…trở nên xa lạ đối với thanh niên thời bấy giờ. Những nhân vật như: vua, quan, phò mã, công chúa…không còn được họ quan tâm, để ý. Những câu văn viết theo thể biền ngẫu trong hát bội đi kèm với lối hát chữ Hán và điệu bộ ước lệ khiến người xem khó tiếp nhận đã dẫn đến sự nhàm chán. Cuộc sống người dân, tình yêu, lao động…không được đưa lên sân khấu. Trong khi đó, họ lại phát hiện được khả năng phản ánh hiện thực xã hội, tố cáo tội ác của thực dân Pháp thông qua lời ca, tiếng nhạc dân gian mà cụ thể là đờn ca tài tử.

Trương Duy Toản, chiến sĩ yêu nước của phong trào Duy Tân đã viết bài Tứ đại cảnh phó ca nhằm lên án việc thực dân Pháp phế truất vị vua yêu nước Thành Thái:

Việt Nam nay rõ

Thiếu chi anh hào

Đương hiệp chúng đồng bao

Mà tranh đoạt lợi quyền

Rất nhộn nhàng cõi Nam Trung

Khen ai cũng thung dung

Cứ đỏng đưa theo năm giọng

Bao biển triều đường

Trách quở tiên vương

Thấy chẳng thiên thương…[1]

Bài đờn ca tài tử này vừa thể hiện được tâm tư, tình cảm, vừa có thể sử dụng làm phương tiện để tuyên truyền yêu nước. Năm 1899, ông Ba Đợi đã sáng tác tám bài ngự viết về nỗi khổ của người miền Nam dưới ách thống trị của thực dân Pháp dâng lên vua Thành Thái. Trong những bài ngự đó, ông đã ví cuộc sống nhân dân như đàn gà con mất mẹ (Ái tử kê), tiếng kêu oan của người vợ mất chồng (Quả phụ hàm oan)…Sau đó, Trương Duy Toản viết bài Hành vân thể hiện tâm sự của Từ Hải mà khi đọc lên không thể không liên tưởng đến tâm sự của người yêu nước muốn vùng lên chống Pháp đòi lại đất nước[2]:

Mật yêng hùng, mật yêng hùng

Giống Triệu Trường Sơn

Đường cung kiếm. Cái chí nam nhi

Núi sông là phận. Từ đây quyết

Vẫy vùng cho sóng dậy trần ai

Tài oanh liệt, mấy ngọn gươm vàng

Rạch một sơn hà mặc dầu ngang dọc

Giữa trời đây sợ ai.

Bên cạnh đó, từ khoảng năm 1910 đến 1920, người Pháp đã cho dịch khá nhiều tiểu thuyết, kịch, sách báo…sang tiếng quốc ngữ. Chính vì vậy, tầng lớp tri thức trẻ Việt Nam cảm thấy hấp dẫn bởi một nền văn minh mới. Không những thế, người Pháp còn đưa những vở kịch đã được dịch lên sân khấu khiến người xem vô cùng thích thú. Trong tình hình lúc bấy giờ, sân khấu Việt Nam chỉ có hai con đường lựa chọn: hoặc là nhường chỗ cho sân khấu phương Tây, hoặc là thay đổi cho phù hợp với thời cuộc. Nhờ sự nỗ lực của những người tâm huyết với loại hình sân khấu truyền thống và những nhà văn, những người nghệ sĩ mà tại Nam Bộ đã  ra đời một loại hình sân khấu mới, thỏa mãn được nhu cầu của người dân Việt Nam, đó là: sân khấu cải lương.

Ngay từ khi mới ra đời, cải lương đã dựa vào Truyện Kiều của Nguyễn Du để sáng tác kịch bản. Đó là vở cải lương Kim Vân Kiều của soạn giả Trương Duy Toản. Sự gặp gỡ của Truyện Kiều và sân khấu cải lương giai đoạn này không hề ngẫu nhiên mà có cơ sở và hoàn toàn là chủ đích của soạn giả . Về sau, chúng tôi còn tìm thấy hai bản cải lương khác cũng được cải biên từ Truyện Kiều của Nguyễn Du là Hoạn Thơ tróc Kiều của Trương Quang Tiền và Kiều du thanh minh của Phạm Đình Khương. Mặc dù Truyện Kiều của Nguyễn Du được cải biên từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân nhưng chúng tôi có thể khẳng định, các kịch bản cải lương trước năm 1945 đều được cải biên từ Truyện Kiều của Nguyễn Du với những lý do sau:

Thứ nhất, xét về sức ảnh hưởng, Truyện Kiều là tác phẩm truyện thơ Nôm cực kỳ nổi tiếng và có thể xem là tác phẩm hoàn hảo nhất trong việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc ta. Đây cũng là tác phẩm được nhân dân dành nhiều thiện cảm nhất. Kể từ khi ra đời đến nay, Truyện Kiều đã đi vào lòng biết bao thế hệ nhân dân Việt Nam thông qua các hình thức diễn xướng dân gian như: lẩy Kiều, tập Kiều, hát, ngâm…Sự thiêng liêng của tác phẩm này còn được nhân dân vay mượn để bói toán thông qua việc thần thánh hóa các nhân vật như: Thúy Kiều, Từ Hải, Giác Duyên. Có lẽ đây là tác phẩm đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam có sứ mệnh đặc biệt kỳ lạ như vậy. Sức ảnh hưởng lớn của tác phẩm này có thể sánh ngang với kinh Dịch Trung Hoa về khả năng tiên tri, triết lý nhưng hơn hẳn kinh Dịch về khả năng thâm nhập vào đời sống dân gian với vai trò là một tác phẩm văn chương. Lựa chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du để cải biên là nằm trong khả năng tính toán của các soạn giả Trương Duy Toản, Phạm Đình Khương, Trương Quang Tiền để thu hút sự chú ý của nhân dân vào thời điểm cải lương mới ra đời. Người ta sẽ tò mò xem thử tác phẩm truyện thơ được họ yêu thích bao đời nay sẽ được thể hiện ra sao nếu sống  trong đời sống của một loại hình nghệ thuật khác. Hơn nữa, với mong muốn “lương truyền tuồng tích” của các soạn giả thì đây là lựa chọn rất hợp lý.

Thứ hai, về đặc trưng thể loại, Truyện Kiều là tác phẩm truyện thơ Nôm viết bằng thể thơ lục bát, thể thơ đặc trưng của dân tộc Việt Nam nên rất được nhân dân ưa thích, dễ đi vào lòng người. Với thể thơ lục bát mang sẵn nhịp điệu, sự gặp gỡ và tiếp nhận thành những bài bản cải lương sẽ dễ dàng hơn rất nhiều cho soạn giả. Đặc biệt, trong giai đoạn đầu tiên, cải lương cần phải đáp ứng kịp thời nhu cầu của công chúng nên những tác phẩm truyện thơ có sẵn sẽ giúp cho các soạn giả biên soạn thành lời ca nhanh hơn việc sáng tác những bài bản, lời ca hoàn toàn mới.

Thứ ba, nhà nghiên cứu Phạm Quỳnh đã từng phát biểu: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn – tiếng ta còn, nước ta còn” (Nguyên Trang, Truyện Kiều còn tiếng ta còn, Báo Người Hà Nội, số 15 ra ngày 11 tháng 04 năm 2008). Trong bối cảnh đất nước đang bị thực dân Pháp khai thác bóc lột, lựa chọn cải biên một tác phẩm văn chương mang đậm hồn dân tộc cũng là cách khơi gợi lòng yêu nước từ quần chúng nhân dân, giúp họ tự hào và bảo tồn văn hóa Việt Nam nhằm chống lại chính sách đồng hóa, Tây hóa của thực dân Pháp. Không những thế, ẩn chứa đằng sau những câu hát tưởng chừng như đơn giản mộc mạc của cải lương chính là lời kêu gọi lòng yêu nước. Nàng Kiều, phận nữ nhi “liễu yếu đào tơ” nhưng đã hy sinh tình riêng để cứu cha và em trai khi họ bị bắt và đánh đập oan ức chính là tấm gương đồng thời cũng là lời kêu gọi cho sự mạnh mẽ của nhân dân trước cảnh bắt bớ, đánh đập, ức hiếp dân tộc của kẻ thù, để sống một cuộc sống trung hiếu tiết nghĩa chứ nhất quyết không im lặng khuất phục.

Thúy Kiều: Nghĩ tới thôi, ngẩn ngơ cho phận

Sống thừa chi đây,

Chi đây mà chẳng thảo thân

Đâu há lại làm thinh, dễ thẹn kiếp sinh.

(Kiều du thanh minh, Phạm Đình Khương)

Thứ tư là sự gặp gỡ về cấu trúc của Truyện Kiều và thi pháp kịch bản cải lương trước năm 1945. Đó là sự kết hợp của hai yếu tố xung đột và trữ tình trong một đoạn trích hay một tác phẩm nào đó được lựa chọn. Truyện Kiều của Nguyễn Du hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu đó của kịch bản cải lương. Chẳng hạn, soạn giả Phạm Đình Khương đã lựa chọn khai thác xung đột giữa chữ hiếu và chữ tình ở đoạn đầu trong Truyện Kiều cải biên thành vở Kiều du thanh minh. Và cũng chính trong đoạn này, yếu tố trữ tình được bộc lộ rất rõ. Đó là tâm sự của Thúy Kiều về cái chết của Đạm Tiên, về tình cảm với Kim Trọng, về bổn phận của người con gái lớn trong gia đình. Nguyên nhân khi lựa chọn cải biên một tác phẩm nào đó, các soạn giả đều chú ý đến yếu tố xung đột và trữ tình là vì cải lương là loại hình sân khấu kịch hát nên bên cạnh yếu tố kịch tính của sân khấu nói chung còn có những giai điệu mượt mà, tha thiết trong những điệu nhạc của người phương Nam. Chính hai yếu tố này đã tạo nên đặc trưng riêng cho sân khấu cải lương.

  1. Truyện Kiều trên sân khấu cải lương trước 1945 – một chiếc áo khoác mới

3.1. Lựa chọn biến cố để tạo ra kết cấu

Truyện Kiều không chỉ được Trương Duy Toản sử dụng trong thời kỳ cải lương mới ra đời mà sau đó, nhiều soạn giả khác cũng sáng tác những vở cải lương cải biên từ những đoạn khác nhau trong Truyện Kiều. Trong những vở cải lương trước 1945 mà chúng tôi tìm hiểu được có ba vở diễn theo Truyện Kiều của Nguyễn Du. Vở Kim Vân Kiều của Trương Duy Toản dựa trên bốn đoạn khác nhau trong Truyện Kiều là: Kiều mộng Đạm Tiên, Viên ngoại hàm oan, Từ Hải và Kim Kiều hạnh ngộ. Bốn đoạn này chưa phải là toàn bộ những khó khăn, thách thức mà Kiều trải qua trong cuộc đời mình nhưng là bốn đoạn tạo nên những biến cố lớn của Thúy Kiều. Vì các vở cải lương phải công diễn trọn vẹn trong một đêm nên bắt buộc các soạn giả phải lựa chọn những đoạn phù hợp với dung lượng và yêu cầu của một vở cải lương. Do đó, hai vở cải lương Hoạn Thơ tróc Kiều của Trương Quang Tiền và Kiều du thanh minh của Phạm Đình Khương chỉ tập trung vào hai đoạn tiêu biểu trong Truyện Kiều mà các soạn giả nhận thấy sự phù hợp hoặc có thể thay đổi kết cấu cho phù hợp với yêu cầu.

Cả hai vở này đều do nhà xuất bản Phạm Đình Khương ấn hành. Vở Hoạn Thơ tróc Kiều diễn từ đoạn Sở Khanh gạt Kiều trốn đi cho đến đoạn sư Giác Duyên gửi Kiều đến nhà họ Bạc. Còn vở Kiều du thanh minh diễn từ đoạn Kiều du thanh minh cho đến lúc Kiều theo Mã Giám Sinh vào lầu xanh của mụ Tú Bà.

Sở dĩ hai vở cải lương chọn hai đoạn như trên đã nêu vì đây là hai đoạn mấu chốt trong Truyện Kiều, làm nên cuộc đời 15 năm lưu lạc của Thúy Kiều như Nguyễn Du đã viết:

Hết nạn nọ đến nạn kia

Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần.

Dù tên gọi của hai vở cải lương này khác nhau và dù hai soạn giả lựa chọn diễn lại hai đoạn khác nhau trong Truyện Kiều nhưng cấu trúc của kịch bản về cơ bản là giống nhau. Vở Hoạn Thơ tróc Kiều bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ với Sở Khanh và dẫn đến tai họa phải ở lầu xanh tiếp khách. Từ lầu xanh, nàng gặp và được Thúc Sinh chuộc ra, làm lẽ Thúc Sinh. Hoạn Thơ biết chuyện, lập mưu chia rẽ Kiều và Thúc Sinh. Kiều trốn khỏi nhà Thúc Sinh đến gặp Giác Duyên. Tuy nhiên, vì nàng trộm chuông khánh nhà Thúc Sinh nên Giác Duyên đã gửi nàng cho nhà họ Bạc. Vở Kiều du thanh minh thì bắt đầu bằng cuộc gặp gỡ giữa Kiều và Kim Trọng nhưng cuối cùng hai người không đến được với nhau. Kiều bán mình chuộc cha và trao duyên cho Thúy Vân. Vở cải lương kết thúc ở đoạn Vương Ông tiễn Thúy Kiều về làm vợ Mã Giám Sinh. Có thể khái quát lại sự giống nhau về mặt kết cấu của hai kịch bản này như sau:

Kết cấu Kiều du thanh minh Hoạn Thơ tróc Kiều
Gặp gỡ Kim Trọng Sở Khanh
Tai họa Bán mình chuộc cha Ở lầu xanh tiếp khách
Kết hôn Mã Giám Sinh Thúc Sinh

Có thể thấy, kịch bản của hai vở cải lương này đều có một biến cố lớn trong cuộc đời Thúy Kiều. Vở Hoạn Thơ tróc Kiều là biến cố Kiều và Thúc Sinh rơi vào mưu Hoạn Thơ. Hai người gặp nhau nhưng không dám nhận nhau: Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.

3.2. Từ lời thơ đến lời ca

Vì cải lương là kịch hát nên việc thiết kế lời ca cho kịch bản cải lương đóng vai trò rất quan trọng. Lời ca giúp cho nhân vật thể hiện được cảm xúc, tâm trạng của mình. Lời ca tạo ra sự đồng cảm với khán giả. Lời ca là linh hồn của vở cải lương.

Các vở cải lương cải biên từ Truyện Kiều có lợi thế là dựa trên tác phẩm thơ Nôm mà tâm trạng và cảm xúc nhân vật đã được Nguyễn Du khắc họa rõ nét qua từng câu, từng chữ, từng lời độc thoại lẫn đối thoại. Vì vậy việc lựa chọn những đoạn thơ để cải biên thành lời ca lấy nước mắt người xem đối với các soạn giả không khó. Tuy nhiên, lời thơ chỉ có nhịp điệu, vần điệu còn lời ca của kịch bản cải lương phải được thể hiện qua các bài bản đặc trưng, phù hợp với giai điệu của nó. Do đó, các soạn giả bắt buộc phải sửa đổi lời hoặc chỉ vay mượn ý thơ Nguyễn Du.

 Đoạn Kiều đánh đàn cho Thúc Sinh và Hoạn Thơ rất cảm động:

Thúy Kiều ngâm: Chừ đem ca tiếu giải phiền

Cười nên tiếng khóc, hát nên giọng sầu.

Ca Tứ đại oán:

Thân nghĩ thân luống thẹn với lòng

Nghĩ thân rồi bắt não nùng

Thân sao mà lắm lần gian truân

Trời xanh ghét khách má hồng

Nợ phong trần trả bao giờ cho xong

Đoạn ruột tầm héo hon

Lụy tương tư doanh tròng.

Miếng tình chung

Nuốt vừa vô cớ sao nghẹn mãi

Đứt nối mối tơ lòng

Giọt thầm bững khôn ngăn.

Có thấu tình chàng chăng hỡi lương nhân.

Rõ ràng, dù không sử dụng trực tiếp những câu thơ trong Truyện Kiều nhưng lời ca này có những câu thơ được gợi hứng từ Truyện Kiều rất rõ. Chẳng hạn câu hát: Trời xanh ghét khách má hồng tương tự với một câu thơ ở đoạn đầu Truyện Kiều là: Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Vở cải lương Kiều du thanh minh cũng có cách khai thác kịch bản tương tự. Kịch bản này chọn khai thác bi kịch khi Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha và trao duyên lại cho Thúy Vân. Đoạn này nằm ở màn thứ sáu.

Thúy Kiều (khóc) nói: Em ôi, mở miệng ra thì gở, để dạ vậy sao đành, cậy cùng em chút có thương tình, ngồi cho chị lạy rồi sẽ tỏ.

Ca Tứ đại oán:

Xin cậy em em có chịu lời

Ngồi lên cho chị lạy rồi,

Chị sẽ bày mấy lời ruột gan

Rủi thay đứt gánh giữa đàng

Nên đã đành dứt tình chàng Kim

Tơ thừa mặc em

Chấp keo loan cho chàng

Vì đâu xui

Cuộc biển dâu đổi dời thôi rất lẹ

Nặng hiếu nhẹ tình

Nên phụ chử sơn minh

Nát ruột mà cắn răng đó em

Ngày xuân em hỡi còn xuân

Có thương tình ruột rà máu mủ

Khá thay lời nước non sanh tử

Chiếc xoa cùng tờ mây nắm giữ

Của tin khi lúc trước, ước thệ nhau cùng.

…Còn ghi lòng

Em nên vợ nên chồng

Chị như có xuống suối vàng

Ắt xót người mạng bạc chớ quên.

Có thể thấy, đoạn ca Tứ đại oán này hoàn toàn giống với đoạn trao duyên trong Truyện Kiều:

Cậy em, em có chịu lời,
Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.
……….

Chiếc thoa với bức tờ mây,
Dyên này thì giữ vật này của chung.
Dù em nên vợ nên chồng,
Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên.

Như vậy, sự khác nhau ở đây chính là mặc dù lời ca cải lương dựa vào lời thơ Truyện Kiều nhưng đã biến đổi đi cho phù hợp với giai điệu của một bài Tứ đại oán.

Nếu so sánh về việc vay mượn lời thơ từ Truyện Kiều của Nguyễn Du thì có thể dễ dàng nhận ra, vở cải lương Hoạn Thơ tróc Kiều có sự phóng tác nhiều hơn vở Kiều du thanh minh. Trương Quang Tiền đã sử dụng một số ý thơ trong Truyện Kiều để viết lời riêng cho các nhân vật, trong khi đó Phạm Đình Khương chủ yếu chỉnh sửa lời thơ của Truyện Kiều cho khớp với lời nhạc của nhân vật. Cả hai vở cải lương này đều ra đời vào năm 1927 nên theo chúng tôi, sự khác nhau ở đây là do quan điểm sáng tác của mỗi tác giả. Trương Quang Tiền là người sáng tác và chuyển thể rất nhiều vở cải lương như: Mạnh Lệ Quân thoát hài, Phụng Nghi Đình, Triệu Khuông Dẫn đưa Triệu Kinh Vương, Mạnh Lệ Quân chấm trường thi gặp chồng, Tây Thi gặp Phù Ta, Mạnh Lệ Quân chẩn mạch Đông Bình Vương, Hồng y hiệp nữ, Duyên chị tình em, Hồ Bạch Huê vĩnh biệt Tấn vương, Tâm tình xuất thế Tấn vương du xuân, Mẫu đơn tiên xuất thế, Điên vì tình, Giọt máu chung tình, Phụng cầu hoàng duyên, Tứ đổ tường, Mạnh Lệ Quân giả trai, Chiêu Quân lầm kế gian thần, Chiêu Quân giáp mặt Hán Hoàng, Hỏa thiêu Hồng Liên tự…Do đó ông đã có thể định hình phong cách viết kịch bản cho mình và có khả năng phóng tác vững chắc. Ngược lại, số vở cải lương mà chúng tôi sưu tầm được của Phạm Đình Khương chỉ có duy nhất một vở Kiều du thanh minh. Dĩ nhiên không thể khẳng định Phạm Đình Khương chỉ sáng tác duy nhất một vở cải lương nhưng có thể khẳng định số lượng kịch bản do Phạm Đình Khương viết ít hơn của Trương Quang Tiền. Cho nên vở Kiều du thanh minh cũng có thể xem là một sự thể nghiệm của nhà xuất bản Phạm Đình Khương trong việc cải biên kịch bản cải lương từ truyện Nôm.

3.3. Lựa chọn nút thắt hiệu quả

Cấu trúc của các kịch bản cải lương trước 1945 cải biên từ Truyện Kiều cũng giống như cấu trúc của một vở kịch nói, gồm có năm giai đoạn:

- Giao đãi

- Thắt nút

- Khủng hoảng

- Cao trào

- Mở nút

Trong mỗi giai đoạn, các vở cải lương có thể được chia ra nhiều hồi, nhiều lớp khác nhau tùy theo diễn biến câu chuyện và cách sắp xếp của các soạn giả. Giao đãi trong kịch bản cải lương là phần mở đầu câu chuyện, thường là giới thiệu nhân vật, bối cảnh xảy ra câu chuyện. Trong phần này, các soạn giả cải lương trước 1945 thường xây dựng hồ sơ cho nhân vật của mình thật kỹ như về xuất thân như thế nào, tính cách ra sao, nhân vật có điểm gì hay, mối quan hệ của nhân vật này với các nhân vật khác như thế nào? Chẳng hạn, trong Hoạn thơ tróc Kiều, soạn giả Trương Quang Tiền đã viết lại lời của Sở Khanh để phù hợp với phần giao đãi của kịch bản cải lương:

Ta đây, vốn tên thiệt Sở Khanh, chánh tay điếm tổ. Chơi bời đà quá độ, cờ bạc cũng rành nghề, rượu trà hút xách ngỏa nguê, trai gái điếm đàng thuộc làu. Nay Tú Bà mượn ta đến dụ Túy Kiều, ta đã thay xiêm đổi áo, nàng còn ngậm ngùi thở than, có vậy, bước đến ướm lời vàng, ngỏ phỉnh người má phấn.[3].

Rõ ràng, đây hoàn toàn là sáng tạo riêng của người viết kịch bản cải lương và đoạn giao đãi này tạo ra sự thú vị cho khán giả vì nó vừa thể hiện tâm trạng và suy tư không giấu diếm của nhân vật, vừa để họ mong chờ diễn biến của câu chuyện. Vì nhân vật Sở Khanh đã quá quen thuộc với khán giả Việt Nam nên việc để lộ tính cách nhân vật qua phần giao đãi này khiến cho kịch bản thêm phần hài hước.

Sau giai đoạn giao đãi sẽ đến giai đoạn thắt nút. Điểm sáng trong các vở cải lương cải biên từ Truyện Kiều trước 1945 là sự lựa chọn tình tiết để tạo nên nút thắt hiệu quả. Thắt nút là một điểm hết sức quan trọng trong kịch bản nói chung và kịch bản cải lương nói riêng. Nếu không có thắt nút sẽ không có những xung đột xảy ra, không có cao trào, mâu thuẫn để bộc lộ kịch tính câu chuyện và dĩ nhiên, sẽ không thể trở thành kịch bản diễn trên sân khấu được. Thắt nút là tình huống không mong muốn, một sự cố nào đó xảy ra khiến các nhân vật phải tìm mọi cách giải quyết tình huống đó. Tuy nhiên khi tìm hiểu cách giải quyết tình huống, nhân vật lại gặp phải hàng loạt những vấn đề khác cho đến khi không còn cách để giải quyết câu chuyện. Hàng loạt những vấn đề xảy ra tiếp theo đó gọi là khủng hoảng. Từ giai đoạn thắt nút, nhân vật bộc lộ tính cách mạnh hơn.

Cách viết giai đoạn thắt nút đạt  hiệu quả mà các soạn giả thường sử dụng là người viết  thêm vào những tình tiết mới, chẳng hạn xuất hiện những nhân vật thứ ba, thứ tư xen vào mối quan hệ của các nhân vật được giới thiệu trước đó. Trong cuộc đi chơi của Thúy Kiều và Thúy Vân trong Kiều du thanh minh, cuộc gặp gỡ với Kim Trọng là một điểm thắt nút. Trong Hoạn Thơ tróc Kiều thì việc gặp Sở Khanh lại là điểm thắt nút.

Thắt nút là cách thu hút khán giả theo dõi tiếp câu chuyện. Do đó, các soạn giả đã khéo léo sử dụng những tình huống hết sức tự nhiên, tinh tế, cốt để người xem không nhận thấy ý đồ sắp đặt quá lộ rõ của người viết kịch bản. Thắt nút trong kịch bản cải lương khác thắt nút trong kịch nói ở chỗ: thắt nút trong kịch bản cải lương thường bộc lộ tâm lý nhân vật, nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong nội tâm nhân vật sau đó còn thắt nút trong kịch bản kịch nói thường nảy sinh những hành động gây kịch tính. Trong vở Kiều du thanh minh, sau khi gặp Kim Trọng, lòng Kiều ngổn ngang nhiều suy nghĩ, nhiều câu hỏi cho tình cảm trong lòng nàng:

Bốn mặt người êm đềm vắng tanh

Lòng tơ rối rắm mối tơ tình

Mặt tuy thấy mặt, song còn ngại…

Còn ngại duyên sau biết có thành?

Sau giai đoạn thắt nút sẽ là giai đoạn các khủng hoảng để nhân vật có cơ hội bộc lộ mình. Khi gặp sự cố, các nhân vật sẽ tìm cách giải quyết, sẽ có những hành động để tìm cách mở nút nhưng càng mở càng rối rắm hơn. Lúc này, các nhân vật sẽ tìm đến nhau giãi bày tâm sự hoặc tự độc thoại, than khóc…Tâm lý nhân vật trong giai đoạn này được bộc lộ rất rõ, lời ca cải lương cũng tập trung chủ yếu vào đoạn này. Để xây dựng được các khủng hoảng cho thật hay cần phải thấu hiểu tâm lý, cách ứng xử của các nhân vật và các loại bài ca cải lương khác nhau…có như vậy mới làm cho người xem cảm thấy ngậm ngùi, xúc động.

  1. Kết luận

Có thể thấy, Truyện Kiều là một tác phẩm văn chương mang sứ mệnh kỳ lạ nhất trong các tác phẩm của nền văn học Việt Nam và cũng là một trong những tác phẩm được cải biên nhiều nhất trên sân khấu cải lương. Các vở cải lương cải biên từ Truyện Kiều trước năm 1945 đã đem đến cho tác phẩm này một diện mạo mới, một hơi thở mới, tạo ra nhiều hứng thú cho khán giả, kể cả những người đã đọc hay chưa đọc Truyện Kiều trước đó. Những vở cải lương này đã góp phần làm cho Truyện Kiều được sống trong đời sống của một loại hình nghệ thuật mới và góp phần tạo nên sự bất diệt cho tác phẩm được biết bao thế hệ người Việt Nam từ bình dân lẫn  các nhà nghiên cứu yêu thích.

 

Đào Lê Na

Đã in trong sách: Khoa Văn học và Ngôn ngữ (2015), Đại thi hào dân tộc Danh nhân văn hóa Nguyễn Du - Kỷ niệm 250 năm năm sinh Nguyễn Du, Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM, trang 739-751.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Hà Văn Cầu, Phong cách và thi pháp trong nghệ thuật cải lương,. Nxb Sân khấu , 1995.
  2. Vũy Chỗ, Dạ cố hoài lang ra đời, Nguồn: http://www.cailuongtheatre.vn/news/55/62/d,detail-lichsu.tpl/
  3. Trương Đình Cử, “Biến chuyển của sân khấu cải lương”, Tạp chí Bách khoa, số 145, 1963, tr.105-113.
  4. Đỗ Dũng, Sân khấu cải lương Nam Bộ 1918-2000, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2003.
  5. Đỗ Dũng, 85 năm bản vọng cổ ra đời, Nguồn: http://www.cailuongtheatre.vn/news/194/62/d,detail-lichsu.tpl/
  6. Tuấn Giang, Lịch sử cải lương, NXB Sân khấu, Hà Nội, 2008.
  7. Tuấn Giang, Nghệ thuật cải lương, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh , 2006.
  8. Tuấn Giang, Thẩm mỹ nghệ thuật cải lương, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2005.
  9. Lê Thanh Hiền, “Sơ bộ về tác giả kịch bản cải lương Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ 20 (1900-1945”), Tạp chí Sân khấu, số 1+2, , 2005, tr.72-73
  10. Trần Văn Khải, Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, NS. Khai Trí, Sài Gòn,1970.
  11. Phạm Đình Khương , Kiều du thanh minh, Nhà in Xưa Nay, 1927.
  12. Hoài Linh, Trương Bỉnh Tòng,  Từ đờn ca tài tử đến hát cải lương, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2008.
  13. Đắc Nhẫn, Ngọc Thới , Nội dung tính chất bài bản cải lương, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1974.
  14. Đắc Nhẫn , Tìm hiểu âm nhạc cải lương, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1987.
  15. Lê Thị Hoài Phương,, “Truyện Kiều với nghệ thuật sân khấu truyền thống Việt Nam”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 307, 2010.
  16. Vũ Nhật Thăng, Thang âm nhạc cải lương tài tử, NXB Âm nhạc, Hà Nội, 1998.
  17. Tất Thắng, Diện mạo sân khấu – nghệ sĩ và tác phẩm, NXB Sân khấu, Hà Nội , 1996.
  18. Sỹ Tiến, Bước đầu tìm hiểu sân khấu cải lương, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1984.
  19. Trương Quang Tiền , Hoạn Thơ tróc Kiều, NXB Phạm Đình Khương, 1927.
  20. Trung Tín, Bản dạ cổ hoài lang (nhịp 2) đã ra đời như thế nào, Nguồn: http://www.cailuongtheatre.vn/news/151/62/d,detail-lichsu.tpl/
  21. Hoàng Trinh , “Về vấn đề hành động trong kịch và vấn đề sáng tạo tính cách nhân vật trong kịch nhân xem vở cải lương Hoàng Diệu”, Tạp chí Văn học, số 3, 1964, tr.43-52. 

[1] Vũ Kim Sa, Nguyễn Ngọc Bạch một đời sân khấu, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2004,  tr.331.

[2] Vũ Kim Sa, Nguyễn Ngọc Bạch một đời sân khấu, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2004, tr.332-333.

[3] Trương Quang Tiền, Hoạn Thơ tróc Kiều, NXB Phạm Đình Khương, tr.4-5

Bài viết cùng tác giả

Danh mục website