K.VH&NNH - Sáng ngày 06.6.2026, tại phòng D201-D202 (cơ sở Sài Gòn), Khoa Văn học và Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm khoa học với chủ đề “Văn sử Việt Nam tiền cận đại: tư liệu - thông tin và đối thoại”. Chương trình là không gian gặp gỡ học thuật dành cho các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên và sinh viên cùng trao đổi những vấn đề liên quan đến tư liệu văn học – lịch sử Việt Nam, từ đó mở ra các hướng tiếp cận liên ngành và đối thoại học thuật trong nghiên cứu văn sử trung đại. Tọa đàm thu hút gần 100 người tham dự, góp phần tạo nên một không khí trao đổi sôi nổi, cởi mở trong học thuật.

Ảnh 1. Toàn cảnh không gian tọa đàm khoa học
thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu, giảng viên, học viên và sinh viên tham dự.
Về phía Ban Tổ chức, đến dự có PGS.TS. Phan Mạnh Hùng – Trưởng khoa Văn học và Ngôn ngữ học; TS. Lê Ngọc Phương – Phó Trưởng khoa. Về phía khách mời, có các nhà nghiên cứu, giảng viên và chuyên gia như: PGS.TS. Nguyễn Công Lý; PGS.TS. Nguyễn Hữu Hiếu; PGS.TS. Nguyễn Văn Kha – Trường Đại học Hồng Bàng; TS. Phan Thu Vân – Trường Đại học Sư phạm TP.HCM; TS. Huỳnh Quán Chi – Trường Đại học Tiền Giang cùng nhiều giảng viên và đông đảo nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên.

Ảnh 2. Một số học giả, nhà nghiên cứu tại tọa đàm.
Diễn giả là PGS.TS. Đoàn Lê Giang – một học giả có nhiều năm gắn bó với nghiên cứu văn học, văn hóa Việt Nam và một số nước trong khu vực Đông Á. Với chiều sâu nghiên cứu cùng lối diễn giải giàu tính học thuật nhưng gần gũi, diễn giả đã góp phần mở ra nhiều hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu văn học và văn hóa Việt Nam.

Ảnh 3. PGS.TS. Đoàn Lê Giang - diễn giả của toạ đàm.
Phát biểu mở đầu tọa đàm, PGS.TS. Phan Mạnh Hùng nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của văn học trung đại trong nền tảng nghiên cứu và giảng dạy Ngữ văn. Theo PGS.TS. Phan Mạnh Hùng, đây không chỉ là lĩnh vực lưu giữ di sản ngôn ngữ, tư tưởng và văn hóa dân tộc mà còn góp phần hình thành khả năng cảm thụ ngôn ngữ, bồi dưỡng tâm hồn và chiều sâu nhân văn cho người học. Theo đó, lịch sử văn học không phải là những văn bản khô cứng nằm yên trong sách vở, mà luôn tiếp tục được tái khám phá và làm mới qua mỗi lần đọc lại, đối thoại và chiêm nghiệm của người nghiên cứu hôm nay.

Ảnh 4. PGS.TS. Phan Mạnh Hùng phát biểu mở đầu tọa đàm.
Trong phần trình bày chính của tọa đàm, PGS.TS. Đoàn Lê Giang đã giới thiệu và trao đổi xoay quanh ba nội dung nghiên cứu tiêu biểu của mình thông qua ba công trình: Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á (Đoàn Lê Giang); Nguyễn Lộ Trạch di văn – nghiên cứu và khảo dịch (Mai Cao Chương - Đoàn Lê Giang (biên soạn và dịch)), Nguyễn Đình Chiểu toàn tập (Cao Tự Thanh, Đoàn Lê Giang, Nguyễn Thị Dương chỉnh lý, chú thích và giới thiệu).
Trong phần chia sẻ về công trình Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á, diễn giả đã phác họa bức tranh tiếp biến văn học nước nhà trong chỉnh thể khu vực văn hóa chữ Hán qua ba chặng đường: Tiền kỳ, Trung kỳ và Hậu kỳ trung đại. PGS.TS Đoàn Lê Giang đã đưa ra bốn chủ đề so sánh Nho giáo giữa Nhật Bản và Việt Nam: tiến trình lịch sử du nhập; mô hình giáo dục và tuyển dụng (khoa cử đối sánh với học thuật tự do); giai tầng xã hội tiếp nhận (Thân sĩ – Nông dân đối sánh với Võ sĩ – Thương nhân); và từ khóa tư tưởng cốt lõi (chữ “Nghĩa” đối sánh với chữ “Trung”). Những phân định này góp phần làm rõ nét diện mạo văn hiến dân tộc trong mối tương quan với không gian Đông Á.

Ảnh 5. Diễn giả trình bày về về công trình
Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á.
Về vấn đề canh tân ở Đông Á, thông qua nghiên cứu trường hợp nhà canh tân tiêu biểu cuối thế kỷ XIX - Nguyễn Lộ Trạch, diễn giả đã trình bày bao quát hệ thống văn bản điều trần mang tính chiến lược như Thời vụ sách (thượng/hạ), Thiên hạ đại thế luận cùng mảng thơ văn phóng túng, độc đáo của Nguyễn Lộ Trạch. Diễn giả đặt vấn đề: vì sao phong trào canh tân Việt Nam thất bại mà Nhật Bản, Thái Lan thành công (ở những mức độ khác nhau)? Đó là do kiến văn hẹp hòi và thái độ bảo thủ của triều đình và sĩ phu đương thời. Đi sâu vào Thiên hạ đại thế luận, diễn giả tỏ ý khâm phục nhãn quan của Nguyễn Lộ Trạch khi ông cho rằng: nguyên nhân thịnh suy hưng vong của một quốc gia là do “chính trị - giáo dục” (Chính - Giáo) quyết định, chứ không phải là nước đó lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu.
Sau khi trình bày về Nguyễn Lộ Trạch, diễn giả tiếp tục chuyển sang lật mở những giá trị mới xoay quanh sự nghiệp của một tên tuổi lớn trong văn học Nam Bộ: Nguyễn Đình Chiểu. Phần này tập trung làm rõ hai nội dung cốt lõi: giải mã lại ý nghĩa sâu xa của đoạn mở đầu truyện Lục Vân Tiên, và phục dựng bối cảnh lịch sử cùng một số vấn đề văn bản của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Diễn giả chứng minh Lục Vân Tiên không đơn thuần là câu chuyện giáo huấn Nho giáo, mà là sự hòa quyện nhịp nhàng giữa ba phương thức tự sự: tiểu thuyết tự truyện, tự sự kiểu cổ tích và tự sự kiểu truyện tài tử giai nhân. Về Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, diễn giả đặc biệt lưu ý cách hiểu đúng các từ ngữ khó và điển tích trong tác phẩm.
Không gian tọa đàm trở nên thực sự sôi nổi và sâu sắc khi bước vào phần trao đổi, thảo luận đa chiều giữa diễn giả với người tham dự. PGS.TS. Nguyễn Công Lý đánh giá rất cao tính hệ thống, tầm nhìn khu vực xuyên suốt mà công trình Văn học trung đại Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á mang lại. Ông khẳng định đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam hệ thống hóa một cách quy mô nhất mảng đề tài văn học Đông Á. Đó là kết quả từ nhiều năm tích lũy, tu nghiệp của diễn giả tại Nhật Bản, cũng như nghiên cứu văn học Trung Quốc từ nguyên tác. Bàn sâu về mạch nguồn canh tân thế kỷ XIX, PGS.TS. Nguyễn Công Lý cho rằng trí thức, nho sĩ Việt Nam thời kỳ này không thiếu người tài năng, có tầm nhìn rộng (như Cao Bá Quát, Vũ Duy Thanh, Nguyễn Tư Giản), nhưng những hiến kế của họ lại rời rạc và bị triều đình nhà Nguyễn phớt lờ do sự bảo thủ của người cầm quyền. Đối sánh với sự thành công của cuộc Minh Trị Duy Tân (Nhật Bản) nhờ vai trò chủ động từ thượng tầng, ông nhấn mạnh bài học lịch sử về việc đi từ “Kỹ thuật phương Tây, tinh thần Nhật Bản” tiến lên tự chủ hoàn toàn.

Ảnh 6. PGS.TS. Nguyễn Công Lý trao đổi với diễn giả.
Hướng sự tập trung vào mạch nguồn tư tưởng Nam Bộ, TS. Huỳnh Quán Chi đã đưa ra câu hỏi gợi mở thêm về vấn đề Tâm học của cụ Võ Trường Toản. Phản hồi về nội dung này, PGS.TS. Đoàn Lê Giang cho rằng Tâm học của Võ Trường Toản gắn liền với sự tiếp thụ Dương Minh học tại Nam Bộ nhưng đã được chuyển hóa mạnh mẽ thành khuynh hướng Thực học. Thay vì sa vào lý thuyết duy tâm hay đạo đức giáo điều thông thường, Võ Trường Toản đã hướng Nho học vào hành động thực tiễn để đào tạo nhân tài giúp đời. Qua các trước tác của Phan Thanh Giản hay Nguyễn Thông, cốt lõi tư tưởng này nằm ở “sở đắc của Đại học” và chữ “Thành” — tức là học phải đi đôi với thực hành đạo làm người và đóng góp thiết thực cho xã hội.

Ảnh 7. TS. Huỳnh Quán Chi đặt câu hỏi tại tọa đàm.
Mở rộng cuộc thảo luận sang mối liên hệ giữa khoa học nhân văn và bối cảnh thời đại công nghệ, PGS.TS. Nguyễn Hữu Hiếu mang đến những suy ngẫm đầy mới mẻ. Liên hệ từ câu chuyện về việc trí tuệ nhân tạo (AI) có khả năng thay thế nhiều công việc của con người, ông khẳng định các nhà nghiên cứu văn học giống như “những nhà tưởng tượng”. Dù khoa học nhân văn bắt buộc phải có cấu trúc để định hình nền tảng, nhưng tư duy liên tưởng và sức sáng tạo của con người vẫn là giá trị độc bản không thể thay thế. Ngoài ra, PGS.TS. Nguyễn Hữu Hiếu cũng gợi ý về tính tương đối khi sử dụng khái niệm “trọng số văn hóa” (cultural weight), tức là bên cạnh việc định vị Việt Nam trong khu vực văn hóa Đông Á, cần mở rộng và không bỏ qua các mối quan hệ tương tác với các khu vực văn hóa khác trên thế giới để thấy được bức tranh toàn cảnh.

Ảnh 8. PGS.TS. Nguyễn Hữu Hiếu chia sẻ ý kiến về khoa học nhân văn
trong bối cảnh thời đại công nghệ.
Ở một góc nhìn khác khi phân tích về bối cảnh lịch sử, PGS.TS. Nguyễn Văn Kha bày tỏ sự đồng tình với phương pháp tham chiếu khu vực học của diễn giả. Từ trường hợp “Truyền kỳ mạn lục” (Nguyễn Dữ), ông dẫn chứng một nghiên cứu thực địa để chỉ ra rằng dù tiếp thu thể loại từ Trung Hoa, các câu chuyện của Nguyễn Dữ vẫn gắn liền với hiện thực lịch sử, địa lý và con người Việt Nam chứ không phải là sự mô phỏng thụ động. Đối với triều đình nhà Nguyễn, PGS.TS. Nguyễn Văn Kha đưa ra một góc nhìn đa chiều hơn khi cho rằng sau hơn 200 năm đất nước bị chia cắt, khối lượng công việc tái thiết quốc gia của vua Tự Đức và triều đình là rất lớn, khiến việc triển khai một cuộc cải cách toàn diện theo kiểu phương Tây vấp phải nhiều lực cản khách quan. Từ câu chuyện lịch sử này, ông liên hệ đến công cuộc đổi mới giáo dục theo chương trình GDPT 2018: dù chủ trương định hướng năng lực rất rõ ràng nhưng thực tế triển khai vẫn dễ bị kéo lại theo lối mòn cũ, cho thấy việc thay đổi một tư duy mang tính hệ thống luôn cần rất nhiều thời gian.

Ảnh 9. PGS.TS. Nguyễn Văn Kha đóng góp góc nhìn khi phân tích bối cảnh lịch sử.
Bên cạnh các phần phát biểu chuyên sâu, buổi tọa đàm cũng dành không gian giải quyết các câu hỏi cốt lõi từ người tham dự nhằm làm rõ tính ứng dụng và lý luận của đề tài. Về vấn đề vận dụng hệ hình Đông Á vào chương trình giáo dục phổ thông 2018, diễn giả khẳng định việc hướng học sinh đến không gian văn hóa này là cần thiết trong xu thế toàn cầu hóa, đồng thời định hướng giáo viên chỉ cần chọn lọc những vấn đề bản chất nhất để giảng dạy nhằm tránh quá tải kiến thức. Đối với câu hỏi về việc Nguyễn Lộ Trạch là minh chứng cho tư duy đi trước thời đại hay chỉ là phản ứng thụ động trước Minh Trị Duy Tân, PGS.TS. Đoàn Lê Giang nhấn mạnh không nên nghĩ có những cá nhân “đi trước thời đại” vì thực ra ai cũng là sản phẩm của thời đại mình; điều quan trọng là cần đánh giá cách thức các sĩ phu yêu nước thời bấy giờ đã chủ động chọn lựa xu hướng và giải pháp nào để đối phó, phản ứng trước những thử thách mang tính bước ngoặt của thời đại.
Khép lại một buổi sinh hoạt học thuật đầy ý nghĩa, PGS.TS. Phan Mạnh Hùng – Trưởng khoa Văn học và Ngôn ngữ học – đã đại diện Ban Tổ chức tặng hoa thay lời tri ân gửi đến PGS.TS. Đoàn Lê Giang cùng các vị khách mời đã đến tham gia thảo luận. Buổi tọa đàm chính thức khép lại sau phần chụp hình lưu niệm tập thể giữa Ban Tổ chức, các chuyên gia và người tham dự.

Ảnh 10. Đại diện Ban Tổ chức trao tặng lẵng hoa cho diễn giả.

Ảnh 11. Diễn giả chụp ảnh lưu niệm cùng người tham dự.

Ảnh 12. Diễn giả ký tặng sách cho người tham dự.
Tin, ảnh: Lan Phương, Vy Vương, Trúc Hà