Hồi còn cắp sách đến giảng đường học văn chương, mình mê văn học dân gian tít mít, mê nhất vẫn là những câu ca dao nghe có vẻ nôm na, giản dị mà sâu sắc quá trời quá đất của cha ông. Mình nhớ hoài cái buổi học tới câu ca dao:

Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi gàu dài

Ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây

được thầy cô giải thích rằng “chàng trai tưởng cô gái lòng dạ chung thủy, đong đầy yêu thương nên anh cũng dành cho cô lòng dạ yêu thương đong đầy, nào ngờ em hời hợt, phụ tình nên anh tiếc cái tình anh đã dày công vun đắp”. Rồi đọc trong sách, các nhà nghiên cứu cũng phân tích y chang vậy, đến lượt mình dạy học trò, mình cũng giảng y chang vậy luôn. Cho đến khi đọc đến cái giếng làng Ngọc trong truyện Mỹ Nhân làng Ngọc của nhà văn Trần Thanh Cảnh, mình mới biết mình đã sai quá sai khi nghĩ câu ca dao của ông cha mình đơn giản dữ vậy. Thì ra cái giếng chẳng phải là cái giếng và sợi dây cũng chẳng phải sợi dây, chưa kể cái gàu cũng còn là một cái gì đó khác.

Ngẫm, làm trai như anh chàng trong câu ca dao kia cũng sướng, có sợi dây đem đo hết giếng này giếng khác, cạn hay sâu không biết, nhiều nước hay ít nước không biết, anh cứ đo cái đã, rồi muốn đi… đo chỗ khác thì lại cứ lu loa lên “anh tưởng giếng sâu, anh tưởng giếng sâu!” rồi “anh tiếc, anh tiếc!”. Mà tiếc là tiếc cái gì, mất gì của anh mà anh tiếc? ngắn dài gì thì sợi dây của anh, cái gàu của anh cũng còn nguyên đó, anh cứ rút gàu lên mà đem thả giếng khác, chừng nào anh thấy vừa gàu, vừa dây anh thì thôi chứ? Có tiếc là tiếc cho những cái giếng mà anh “tưởng là sâu” kia, tự nhiên mất toi đi vài gàu nước, mà hỏng chừng là bị cái gàu anh múc cho cạn khô luôn rồi ấy chứ.

Cái giếng đúng là một hình ảnh rất gợi hình, cái giếng trong veo chứa đầy nước mát có thể thỏa mãn ngay lập tức cơn khát khô cổ họng, thì…cái sự ăm ắp tràn trề lúc nào mà chẳng giúp người ta thỏa nỗi khát khao? Có lẽ khi tìm kiếm hình ảnh ẩn dụ để so sánh với cái giếng như trong câu đố “Vừa bằng cái nong cả làng đong chẳng hết?”, cha ông chắc cũng chẳng có ý định dính dấp gì đến cái tỉnh tỉnh tinh của đấng hồng nhan. Nhưng khi liên hệ đến câu ca dao: “Lẳng lơ thì cũng chẳng mòn, Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ”,  mình tự dưng khoái chí quá trời, ờ thì cha ông ta ngày xưa đâu có vừa, đã chọn đối tượng để so thì phải so cho tới ngọn nguồn lạch sông, so cho ra nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, thì  cái “giếng” đó có khác chi cái nong mà cả làng đong hoài đong hủy cũng không bao giờ cạn, chẳng bao giờ mòn. Cái giếng chung của cả làng, nguồn nước sinh hoạt chung của cả làng, mùa đông thì ấm, mùa hè thì mát mẻ, cứ ăm ắp và trong vắt như vậy cung cấp nước cho mọi nhu cầu ăn uống tắm giặt của người dân trong làng từ già chí trẻ, từ đàn ông cho chí đàn bà, có bao giờ vơi bớt đâu, có bao giờ cạn khô đâu. Dẫu vào mùa khô mực nước có hụt xuống sâu bên dưới mấy tầng đá ong thì đến mùa đông lại dâng cao tràn trề ăm ắp như cũ thôi mà.

Có khi không phát biểu thẳng thừng như trong câu “Tiếc bông hoa lài cắm bãi phân trâu”, mà dân gian lại ý nhị hơn, tinh tế hơn nhưng lại rất đời hơn khi dùng hình ảnh cái giếng trong vắt làm vật so sánh trong câu nhận xét đầy xót xa cho thân phận người con gái đẹp:

 Tiếc thay cái giếng nước trong

Để cho bèo tấm bèo ong lọt vào

Ừ thì là đang nói chuyện cái giếng, cái giếng đẹp, cái giếng trong vắt, cái giếng mát lành thế kia, chỉ xứng với những cánh hồng hay những loài hoa quý phái sang trọng và nho nhã, nào đâu phải để dành cho họ nhà bèo “lọt vào” hưởng thụ. Nói đi rồi phải nói lại, cũng có cái giếng sâu trong vắt, cũng có cái giếng cạn khô, cái giếng sâu cho bèo bọt lượn lờ thì phí quá phí, nhưng con cá diếc tươi ngon lại nằm còng queo trong cái giếng cạn khô thì cũng là tội nợ mớ đời:

Tiếc con cá diếc đang bơi

Nhảy vô giếng cạn để người cười chê

Vậy thì nào có khác chi vung tròn mà úp nồi méo hay vung méo mà úp nồi tròn, được bơi trong lòng giếng sâu trong vắt thì đối với con diếc đang tươi còn gì hợp ý bằng, sung sướng bằng, môn đăng hộ đối bằng. Còn cái giếng cạn khô chỉ nên dành cho họ nhà bèo ong, bèo tấm mới gọi là xứng đôi vừa lứa. Nhưng đời mà, mấy khi là mơ, mấy khi như ý.

Trong nhóm ca dao thuộc chủ đề “than thân” rất phổ biến trong kho tàng ca dao dân ca nước ta, hình ảnh cái giếng cũng được đem ra ví von không ít:

“Thân em như giếng giữa đàng

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”

lời ca là tiếng lòng của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến, bị động trước tương lai mình, số phận họ gắn liền với những bài học tam tòng, tứ đức  “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Những người phụ nữ ấy tự nhận mình là hạt mưa sa, là cánh bèo trôi, là dải lụa đào, là giếng giữa đàng, là bông hoa dại, là thân gái 12 bến nước. Nói chung là đời người phụ nữ trong những câu ca dao ấy rất…hên xui, hạnh phúc hay khổ đau đều phụ thuộc vào tương lai “trong nhờ đục chịu”. Ừ thì đã mang phận giếng chứa đầy nước mát, lại nằm giữa đường mà không dùng để tắm rửa thì còn đòi dùng vào việc gì? Nhưng mà các vị quân tử người khôn người phàm các kiểu ạ, làm ơn học cách buông gàu, sao cho cái giếng tưởng là cạn khô mà qua tay quân tử có trình cao cũng sẽ khơi được mạch nguồn tràn trề ăm ắp. Và cứ thong thả mà vục nước lên rửa mặt, rửa xong cái mặt rồi thì đằng nào cũng đủ nước cho anh rửa đến cái chân. Đừng học thói người ngu hồ đồ, hấp tấp, cứ kéo hết gàu này đến gàu khác, cứ vục gàu khuấy cho bùn lên trong lòng giếng rồi lại đổ thừa “anh tưởng giếng sâu”.

Nếu chàng trai ở trên lu loa đổ thừa giếng cạn và tiếc cái sợi dây dài của mình buông nhầm nơi không tương xứng, thì các nàng cũng đâu vừa, dễ gì mà im lặng để chịu xài xể coi khinh. Nàng cũng phải nói ngay, phân bua ngay cho người ta biết cái oan ức của mình:

Trách từ nỏ trách ai đâu,

Trách đài kia ngắn chạc, trách giếng sâu nỗi gì

A ha, thì ra là vậy, thì ra cái chạc (dây) không đặng dài, buông hoài mà đài (gàu) không đặng tới, để mặt nước giếng sâu lăn tăn chờ đợi, chờ mãi mà nào có được gặp người quân tử, đợi mãi mà nước trong đâu có được chạm gàu. Nàng nhẹ nhàng hờn dỗi “trách đài kia ngắn chạc”, trách gàu kia ngắn dây. Bảo người quân tử đừng nghĩ sai mà oan cho giếng.

Hoặc còn thẳng thắn hơn, chua chát hơn, nàng buông lời trách móc trực tiếp đối tượng, chẳng cần tế nhị vòng vèo:

Trách chàng chẳng trách ai đâu

Bởi chưng dây ngắn giếng sâu không vừa.

Hay:

Giếng sâu dây ngắn lỡ chừng

Bởi anh bạc trước, sau đừng trách em.

Ờ, là lỗi tại anh đấy nhé, là tại anh bạc lòng bạc dạ chứ nào phải tại tôi, lòng giếng vẫn sâu, tình nghĩa vẫn như nước trong đong đầy ăm ắp. Tại giữa chừng anh thu dây ngắn lại, tại giữa chừng anh đổi lòng thay dạ, tại giữa chừng anh không muốn cho gàu vào trong đáy nước nữa chứ nào phải tại tôi? Có khi còn ghê gớm hơn, cô nàng dưới đây không những một mực khẳng định chất lượng “giếng sâu”, mà còn đanh đá mỉa mai, chẳng nể nang chi người quân tử:

Giếng sâu, gàu nhỏ anh ơi

Anh múc không đặng, tội đời giếng em

Haiza, biết đâu là cạn là sâu, là khô là ướt, là nhiều nước hay ít nước… chung quy lại cũng còn phụ thuộc vào sợi dây dài hay ngắn, cái gàu nhỏ hay to và trên hết cũng là do kỹ thuật của cái đứa buông gàu. Sao người quân tử cứ mở lời là than thở “anh tưởng giếng sâu” làm gì cho thiên hạ hàng trăm năm nay cứ đổ hàm oan cho giếng?

Nguồn: Kiến thức ngày nay, số 979, ngày 20.10.17

20171025 De dat de nuoc

Khoa học nhân văn và xã hội Đông Nam Á (ĐNA) là dựa trên phương pháp luận của khoa học nhân văn và xã hội châu Âu do chỗ từ thế kỷ XVIII, châu Âu đã cầm đầu khoa học thế giới. Chính vì vậy trong cách nhìn và nghiên cứu ĐNA, khó lòng tránh khỏi quan điểm lấy châu Âu làm trung tâm (Eurocentrisme), gọi tắt là Âu châu luận. Người Việt Nam đầu tiên nhận thức được hiện tượng này là Nguyễn Ái Quốc, khi viết vào năm 1924 trong “Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ”.

Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại.

Rồi Nguyễn Ái Quốc mạnh dạn đề nghị: “Dù sao cũng không thể cấm bổ sung cho cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác bằng cách thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”.

Sự phát triển của khoa học nhân văn và xã hội phương Tây ở thế kỷ XX chính là ở chỗ các nhà khoa học phương Tây đã khắc phục được Âu châu luận nhờ những đóng góp của Mỹ châu học, Á châu học, Phi châu học trong các lĩnh vực ngôn ngữ học, xã hội học, nhân loại học, dân tộc học, khảo cổ học. Khi thực tế được mở rộng bao gồm cả những hiện tượng trước kia không biết đến thì tất yếu phương pháp luận cũng đổi mới để tích hợp được những sự kiện mới, trước kia nằm ngoài phạm vi Âu châu luận. Chẳng phải là những công trình nhân loại học của F. Boas, C. Lévi-Strauss, M. Weber, J. Needham..., tôi chỉ nhắc đến vài người mà ai cũng biết, đã thay đổi phương pháp luận của khoa học thế kỷ này đó sao? Trong cái đà vượt gộp này không chỉ có Âu châu luận mà Trung Hoa luận, Ấn Độ luận theo tôi cũng đều được vượt gộp để xây dựng một phương pháp luận chung, trong đó những chỗ mạnh đã được phát huy, những chỗ yếu được khắc phục.

Riêng việc nghiên cứu văn học hình như vẫn đứng ngoài sự phát triển chung. Mỗi nền văn học, rồi mỗi nhà văn vẫn được xét ở bản thân mình như một đối tượng cô lập, không thấy có ảnh hưởng của nhân loại học, dân tộc học hiện đại. Trong bài viết này chúng tôi thử nhìn văn học ĐNA lục địa trong thế đối lập với văn học châu Âu để rút ra một nét chung của nền văn học này. Chúng tôi muốn nói đến ảnh hưởng to lớn của văn học dân gian (VHDG) đối với văn học ĐNA lục địa đối lập với văn học châu Âu từ thế kỷ XVIII đến nay, trong đó gần như vắng mặt vai trò của VHDG. Trái lại, trong văn học ĐNA lục địa, có một điều không thể chối cãi là ảnh hưởng VHDG được duy trì liên tục và là nền móng của nền văn học này.

1. Xét về văn hóa học, theo như tôi biết, Tây Âu không nói đến Văn hóa nông thôn. Chính sự vắng mặt của văn hóa nông thôn mới làm xuất hiện thuật ngữ folklore của W. S. Thomas vào năm 1847 để chỉ sự hiểu biết nhân dân bao gồm các tín ngưỡng, phong tục, văn học truyền miệng... với tính cách những tàn dư của những nền văn minh đã chết. Còn văn học Tây Âu thực tế chỉ bao gồm những tác phẩm thuộc xu hướng phong kiến, hoặc tư sản hay chống tư sản. Các phần thành văn được ghi lại của folklore chủ yếu là những truyện cổ tích, những bài hát, những điệu vũ, những tín ngưỡng nông thôn không ảnh hưởng đến nhân dân.

Nền văn minh châu Âu là xuất phát từ văn minh Hy-La tức là từ văn minh của các thành bang cổ, về thực chất là những văn minh thành thị, không phải văn minh nông thôn. Sau đó, Tây Âu trải qua hai lần san bằng về văn hóa. Lần thứ nhất do Thiên chúa giáo kết hợp với văn hóa của các lãnh chúa phong kiến trong đó người nông nô không có vai trò văn hóa nào hết. Ai cũng biết đạo Thiên chúa coi khinh mọi biểu hiện văn hóa, tín ngưỡng không thuộc đạo mình, coi đó đều là những biểu hiện của qủy dữ, và tìm cách tiêu diệt cho kỳ được mọi tàn dư gọi là “dị giáo” để nắm độc quyền về hệ tư tưởng. Rồi sau đó là sự san bằng bởi hệ tư tưởng tư sản nhất là từ sau cách mạng Pháp. Tình hình ở Đông Âu lại khác. Trên vùng đất mênh mông của thảo nguyên Đông Âu, công xã nông thôn vẫn còn vì sự san bằng của Chính giáo không triệt để và giai cấp tư sản không đóng vai trò tích cực chống phong kiến như ở Tây Âu cho nên VHDG do đó vẫn còn, tuy không mạnh. Trái lại, trong văn học ĐNA lục địa vị trí VHDG cho đến giờ vẫn rất lớn.

Văn hóa Tây Âu là văn hóa thành thị và thành thị làm cho nông thôn biến đổi theo mô hình của mình, đến mức nông dân Pháp ngày nay chỉ chiếm 5 phần trăm dân số và sản xuất cho sự tiêu dùng của thành thị, rồi mua hàng của thành thị, còn nó ra thành thị trong mọi sinh hoạt văn hóa, trừ chuyện đến nhà thờ. Trái lại, thành phố ở các nước ĐNA trước khi trải qua sự nô dịch của phương Tây chẳng qua chỉ là cái đuôi của nông thôn, ngay cả triều đình các nhà vua tuy có tiếp nhận nhiều ảnh hưởng văn hóa nước ngoài, nhưng yếu tố nông thôn vẫn rất đậm nét. Rồi sau khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, tuy có những hiện tượng Tây phương hóa về lối sống, và sinh hoạt tầng lớp thị dân ở phần lớn các nước ĐNA, lại gồm nhiều tộc người khác nhau, không có địa vị độc lập với qúy tộc trong nước và thực dân nước ngoài, nhất là về kinh tế, cho nên khó lòng có điều kiện tự tạo cho mình một bộ mặt độc lập về hai phía, về phía tiếp thu ảnh hưởng phương Tây cũng như về phía cải hoán văn hóa bản địa để khẳng định diện mạo độc lập và toàn dân của mình về văn hóa như tầng lớp thị dân châu Âu. Đã thế, cái làm thành sự thống nhất tinh thần của châu Âu trước Cải cách tôn giáo là Thiên chúa giáo, tôn giáo này đã tách hẳn cái thiêng liêng ra khỏi cái thế tục, do đó cấp cơ sở cho khoa học thực nghiệm, và xây dựng một đạo lý độc lập với truyền thống Hy-La và mọi tín ngưỡng cổ đại. Nhưng cơ sở tinh thần của bốn nước làm thành đối tượng của ĐNA lục địa trong bài này là Lào, Mianma, Cămpuchia, Thái Lan lại là Phật giáo, một tôn giáo mang đậm tính dân gian và ngay cả tầng lớp tư sản cũng chỉ nghĩ đến việc đổi mới xã hội trong bác ái và bình đẳng kiểu Phật giáo. Kết quả là ở ĐNA lục địa có một văn học dân gian mang sắc thái nông thôn tồn tại bên cạnh một văn hóa có nhiều nét chủ biệt thiên về phương Tây mang sắc thái thành thị.

2. Bây giờ ta hãy xét những nét chung của văn học dân gian ở các nước ĐNA lục địa. Trong bài này chỉ xét những nét chung của văn học dân gian ĐNA lục địa không kể Việt Nam vì văn học dân gian Việt Nam đã rất quen thuộc. Văn học ĐNA lục địa bao gồm các nền văn học Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Miama, tức là bốn nước. Tuy nền văn học Mã Lai có phần cực nam lục địa thuộc ĐNA nhưng tạm thời chúng tôi chưa xét đến mà để giành cho một công trình khác bởi những nét riêng biệt của nó: một là, vai trò của biển, của những chuyến viễn du trên biển, chiến tranh trên biển, điều không thấy trong văn học ĐNA lục địa. Hai là sự tiếp xúc với Hồi giáo rồi với châu Âu rất sớm trước khi những quốc gia thống nhất hình thành thực sự. Ba là cái địa bàn mênh mông trải dài trên đại dương khó lòng thu gọn vào một vài nhận xét khái quát.

3. Trước khi sử dụng một khái niệm, ở đây là khái niệm VHDG, phải quy định nội dung khái niệm cho chuẩn xác. Có thế mới có điều kiện nghiên cứu, phát huy văn học trong hoàn cảnh mới. Nội dung khái niệm VHDG của tôi không trùng với khái niệm folklore của phương Tây, và khi chúng ta nghiên cứu VHDG Việt Nam theo nội dung của folklore tức là ta đã bị Âu châu luận cản trở, đẩy ta đi tới những cách làm việc không phù hợp với đối tượng.

Sự khu biệt giữa VHDG với nền văn học thường gọi là văn chương bác học không ở chỗ một bên là truyền miệng, một bên là viết ra thành văn bản. Nếu nói như thế thì hầu hết các tác phẩm của văn học dân gian thế giới đã trở thành văn học bác học rồi. Sự khu biệt là một bên, VHDG là văn học “hỗn đồng” (syncrétique), còn văn chương bác học là văn học để đọc. Một tác phẩm VHDG không chỉ có một văn bản có thể viết ra mà còn chứa đựng ba mặt khác nữa. Thứ nhất, là mặt diễn xướng, tức là người ta trình bày bằng cách ngâm, hát nó lên, và đôi khi còn múa và có nhạc đệm kèm theo. Thứ hai, nó có mặt tín ngưỡng tức là người ta trình diễn, thưởng thức không phải đơn thuần để giải trí như trường hợp một số tác phẩm văn học châu Âu đã chuyển thành phim, thành kịch, thành vũ. Trái lại, đây là một sinh hoạt quen thuộc trong đó người ta xem hay thưởng thức để nhập vào văn hóa chung của cộng đồng để hiểu sâu thêm về một nền văn hóa cụ thể. Thứ ba, với văn học dân gian, không phải mặt thông báo là chính, mà trái lại mặt thông báo là phụ. Cái chính là mặt cộng cảm. Người ta thưởng thức VHDG để xem nó có thể hiện được những cảm xúc chung mình đã có, có bổ sung đổi mới được cảm xúc này để làm cho cuộc sống nội tâm của mình phong phú lên không. Chính vì có những đặc tính như vậy cho nên VHDG là yếu tố quan trọng nhất để tạo nên ý thức cộng đồng, trên cơ sở những vui buồn chung, những cảm nghĩ, mơ ước chung, và một chính trị minh triết cần phải chú ý đến việc bảo vệ nó, nâng cao nó lên vì chính quyền lợi của mình.

4. Nếu xét như vậy thì Tây Âu không có VHDG. Còn ở châu Á có những tác phẩm VHDG đã mất tính hỗn đồng: trường hợp Kinh Thi của Trung Hoa xưa có nhạc, có vũ, có nghi lễ nhưng sau này phần nhạc, vũ, nghi lễ đều mất, chỉ còn lại phần văn bản. Đối với Việt Nam, có những tác phẩm VHDG trong đó tính hỗn đồng còn nguyên vẹn như trường hợp trường ca Đẻ đất đẻ nước, các Khan ở Tây Nguyên, các bài hát giao duyên, các điệu hò, các tình ca, một số bài hát văn, hát cửa đình, đặc biệt là các dân ca mà ta thấy ở mọi địa phương. Có trường hợp thiếu một mặt nào đó như mặt tín ngưỡng trong các chèo, hát nói, tuồng. Nhưng nhìn chung sự có mặt của VHDG trong văn hóa dân tộc vẫn là điểm khu biệt văn học ĐNA với văn học châu Âu.

5. Trong việc tìm hiểu văn học ĐNA cũng như Việt Nam tôi cảm thấy một ngờ vực. Hình như những hình thức văn học không mang tính hỗn đồng đều bắt nguồn từ tiếp xúc văn hóa với nước ngoài, không phải có sẵn trong văn hóa dân tộc. Trường hợp các văn thơ chữ Hán ở Việt Nam, các bi ký bằng tiếng Sanskrit, Pali ở ĐNA mà ta thấy ở khắp nơi trên đất Chăm, Khơme, Thái Lan, Miến Điện, các tác phẩm văn xuôi đầu tiên ở ĐNA là thế. Nhưng ngay cả ở đây nữa, tôi cũng nhìn thấy một điều không thấy ở châu Âu. Các bài văn xuôi chữ Hán đều được cha ông ta ngâm lên, chứ không phải là đọc như ta đọc sau này. Tôi có theo dõi thế hệ cha tôi đọc chữ Pháp thì thấy các cụ đọc tiếng Pháp khác tôi, trong đó có cái gì của ngâm. Như vậy là đối với thế hệ ông cha chúng ta, cái nhìn hỗn đồng luận tiếp thu từ văn học dân gian chi phối cả văn học Pháp vốn là văn học chỉ để đọc. Mặt khác, các bi ký, các tác phẩm gốc Ấn Độ tuy có tính chất sử, nhưng sử Ấn Độ khác sử Trung Quốc và sử Việt Nam. Trung Quốc và Việt Nam biến các huyền thoại thành sự kiện lịch sử: Lạc Long Quân có nguồn gốc, dòng dõi rõ ràng như ta thấy trong mọi gia phả. Còn trong sử Ấn Độ và ĐNA các sự kiện lịch sử chuyển thành huyền thoại, đâu đâu cũng thấy thần, các chuyện thần kỳ, tức là bản thân các tác phẩm này vẫn mang dáng dấp của VHDG.

6. Nếu ta nhìn văn học ĐNA thì phải thừa nhận trong văn học, cái chính là thơ, và thơ về cơ bản là dựa trên dân ca. Phải đến nửa cuối thế kỷ XIX Thái Lan mới có văn xuôi bằng tiếng Thái, và tình hình ở ba nước còn lại cũng không sớm hơn. Không những thơ tồn tại cho đến giờ, mà thơ còn tồn tại với những mô hình rất chặt, khó lòng thay đổi. Thơ Thái Lan theo các mô hình nirat, kap, khon, xupaxit, bot lakhôn. Thơ Lào có các thể loại lăm, khắp. Mianma và Cămpuchia cũng có nhiều thể loại riêng được sử dụng phổ biến trong nhân dân. Mỗi thể loại như vậy mặc dầu hết sức đa dạng vẫn rất chặt và chưa nước nào xây dựng một thể thơ theo kiểu thơ mới ở Việt Nam kết hợp được cả những thành tựu của thơ phương Tây với thơ dân tộc. Tính chất chặt chẽ của các mô hình cho thấy các thơ ĐNA đều có mục đích phục vụ diễn xướng. Các tác phẩm dù là kinh Phật cũng đều xây dựng trên thơ, có thể trình diễn và cho đến nay tính hỗn đồng ấy không mất đi. Người sáng tác Tum Tiêu có thể chỉ nghĩ đến mặt thi ca, nhưng tôi đã thấy ở Cămpuchia tác phẩm này được trình diễn có múa, hát, tức là mang tính hỗn đồng, và quần chúng say mê hình thức hỗn đồng này. Hầu như toàn bộ văn học viết ĐNA trước khi tiếp xúc với phương Tây, dù cho nội dung liên quan đến văn xuôi, lịch sử, những chuyện bình thường của cuộc sống, nhưng đều bị hỗn đồng hóa để được trình diễn theo văn học dân gian. Trái lại, khi xem kịch thơ của Pháp, tôi lại thấy điều ngược lại: thơ được đọc như văn xuôi, tức là trong tâm thức người châu Âu thơ chỉ là ngôn ngữ, không phải của một nghệ thuật trong đó âm thanh phải chi phối lại nội dung theo khuynh hướng VHDG. Ngay giờ đây, người ĐNA cũng như người Việt Nam trình diễn thơ như một hình thức nghệ thuật hỗn đồng, người ta không đọc thơ mà ngâm trong đó có cái gì gần với hát. Nghe cách các nghệ sĩ Việt Nam ngâm thơ bất giác tôi cảm thấy các bài thơ tuy sáng tác không nghĩ đến tính hỗn đồng của VHDG, nhưng cách trình diễn lại kéo nó về tính hỗn đồng và ma lực của chúng lại ở tính hỗn đồng ấy. Chẳng phải các nhạc sĩ có ham thích chuyển các bài thơ thành nhạc, và chính dưới hình thức này bài thơ mới thực sự ổn định đó sao?

7. Văn học ĐNA lục địa trải qua ba giai đoạn phát triển khác nhau. Trước hết là giai đoạn trước khi tiếp xúc với văn hóa nước ngoài (Trung Quốc, Ấn Độ). Sau đó là giai đoạn hình thành nhà nước và xây dựng một văn học của quốc gia trong đó có ảnh hưởng rõ nét của văn học và tôn giáo Ấn Độ. Thứ ba, là giai đoạn tiếp xúc với các đế quốc phương Tây và cùng với điều đó, diễn ra một sự Tây phương hóa về văn học. Bài viết sẽ nêu lên vai trò của văn học dân gian suốt các giai đoạn này. Dĩ nhiên ở ĐNA chữ viết xuất hiện sau, chữ Lào ra đời vào thế kỷ XIII, di tích văn tự đầu tiên của chữ viết Thái Lan là bia Ram Khăm Heng năm 1292, những bia khắc đầu tiên bằng chữ Môn ở Mianma là vào thế kỷ XI. Còn ở Cămpuchia từ thế kỷ thứ VII đã có văn bia bằng chữ Phạn sang đầu thế kỷ XI bắt đầu xuất hiện những văn bia bằng chữ Khơme. Các tác phẩm văn học dân gian, do đó không khỏi chịu ảnh hưởng những thay đổi sau khi chữ viết ra đời, nhưng tính chất chung của các tác phẩm này về nội dung và hình thức cho phép ta nhìn ra diện mạo chung của văn học dân gian ĐNA lục địa trước khi tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ.

8. Hiểu thấu đáo văn học ĐNA là chuyện vượt quá khả năng con người. Không ở đâu trong phạm vi một địa bàn nhỏ hẹp có nhiều tộc người, nhiều ngôn ngữ khác nhau đến như thế. Khu rừng mênh mông chia cắt các tộc người khác nhau, chỉ riêng ở nước Lào đã có tới 60 tộc người. Rồi những tộc người này lại trải qua những tiếp xúc hết sức đa dạng với những tộc người trong cùng địa bàn, với những tộc người thuộc những nền văn minh khác cao hơn. Rồi sự hình thành những nhà nước, cùng với chiến tranh giữa các nhà nước, vai trò của những tín ngưỡng bản địa, của Ấn Độ, phương Tây cho đến khi tiếp xúc với chủ nghĩa đế quốc. Không ở đâu trên thế giới ta bắt gặp tình trạng rối rắm đến cực điểm như thế.

Để tìm lối đi trong cái rừng rậm văn học ấy, không thể nào lấy văn học làm đối tượng cho nó và vì nó. Con đường duy nhất có thể giúp ta có một khái niệm động về quá trình phát triển biểu lộ tính thống nhất trong đa dạng là con đường xét văn học như một biểu hiện của sinh hoạt vật chất, rồi đối lập cái sinh hoạt vật chất cụ thể và khác biệt này với sinh hoạt ở các nơi khác trên thế giới đặng phân xuất ra những vấn đề, những hình tượng, những môtip, những cách giải quyết chung. Có làm như thế mới có thể có một bức tranh toàn cảnh thích hợp. Các vấn đề, các hình tượng, các cách giải quyết này không thể nào nguyên vẹn mà chỉ có thể mang những nét lớn của thời đại nó xuất hiện, rồi sau đó các nét này trải qua nhiều thay đổi.

9. Nét khu biệt của văn hóa ĐNA so với văn hóa các vùng khác trên thế giới, đó là vai trò của rừng. ĐNA thời nguyên thủy là một khu rừng mênh mông trong đó có các sông suối chảy qua và sự giao thông mà thiên nhiên cấp sẵn cho con người là cách chèo bè, mảng trên sông, suối. Và nơi sinh tụ đầu tiên là những thung lũng hẹp ven các sông suối. Rừng ĐNA thời nguyên thủy là một kiểu rừng đặc biệt, khác rừng ở châu Phi, châu Âu. Nó có đủ mọi thứ cây, nhưng không có cây nào chiếm ưu thế trội hẳn quy định được sinh hoạt của cư dân. Nó có đủ mọi thứ thú nhưng không có loại thú nào thực nhiều có thể là cơ sở cho chăn nuôi hay săn bắn quy mô lớn. Nó không có những thảo nguyên rộng lớn để chăn nuôi đại trà. Cá tuy có nhưng chủ yếu ở các suối không đủ làm cơ sở chính cho thực phẩm. Trong hoàn cảnh ấy, người ta sống bằng hái lượm là chính bên cạnh trồng trọt. Có chăn nuôi và săn bắn nhưng chăn nuôi là chính và theo quy mô gia đình, không phải theo quy mô tộc người. Săn bắn không thể đóng vai hoạt động thường xuyên để kiếm thức ăn mà chủ yếu là để bảo vệ người, gia cầm, gia súc. Thực phẩm chính là trái cây, các thứ củ, các loại rau. Thực phẩm không nhiều cho nên nhiều lúc phải trải qua việc ướp muối. Tại sao ĐNA phải muối, và tại sao hệ thống các loại mắm, các loại dưa lại là đặc điểm chung của thực phẩm ĐNA đối lập với hệ thống thực phẩm châu Âu, Trung Quốc, châu Phi? Bởi vì trong cuộc sống này khó khăn lắm mới có cá, thịt, cho nên phải tìm cách bảo dưỡng duy trì thức ăn trong muối. Một cái gì đã quen trong vạn năm sẽ tạo nên bệnh nghiện và người ĐNA cảm thấy cái ngon của các thức ăn đã được muối hơn các thức ăn tươi. Đây là bệnh nghiện chung của ĐNA. Lối sống trên nhà sàn, một nét khu biệt của cách cư trú ĐNA so với thế giới cũng là do nguồn gốc rừng rú quy định. Cây là nơi ở tự nhiên còn dễ kiếm hơn hang đá, và từ lối sống trên cây người ta đi đến việc sử dụng cây làm nhà. Hệ thống cột kèo của ĐNA là khác hệ thống các tường làm vật nâng đỡ ở nhiều dân tộc khác. Một đặc điểm của văn học ĐNA lục địa so với Việt Nam đó là rừng ở đây được miêu tả hết sức sinh động, lôi cuốn chẳng kém rừng trong văn học Ấn Độ. Còn rừng châu Âu phải nói là đẹp không thể tưởng tượng, nhưng văn học của nó hầu như quay lưng với rừng vì tâm thức của châu Âu chỉ quan tâm tới cái “rừng bêtông”.

10. Chỉ đến khi cây lúa xuất hiện thì cuộc sống mới thay đổi. Nhưng cây lúa nương chủ yếu chỉ mới khiến lối sống lang thang của người rừng mà ta còn thấy ở người Kha Lá Vàng, người Chứt, người Rục, chuyển sang lối sống du canh du cư, theo mùa, điều mà ta còn thấy ở nhiều tộc người. Trái lại, cây lúa nước tạo nên bước ngoặt quyết định. Nó bắt buộc các tộc người sống định cư, tập trung trong những bản, những làng. Lối sống này dẫn tới sự hình thành những hình thức tiền nhà nước, dưới hình thức các Mường là hình thức phổ biến ở ĐNA. Đây là cuộc cách mạng văn hóa đầu tiên và tất cả văn học dân gian đều được tổ chức lại, khúc xạ qua cuộc sống này trong đó cây lúa nước tạo nên một văn hóa dân gian theo hình ảnh sinh động, trồng trọt của nó.

11. Nếu như liên minh bộ lạc có thể có một quá trình hình thành tự phát thì nhà nước lại là một bước nhảy vọt, đòi hỏi một sự tiếp nhận, sao phỏng văn hóa của một nhà nước khác. Nói đến nhà nước là nói đến sự ràng buộc của một nước theo những phong tục, luật lệ, tín ngưỡng, tôn giáo, tổ chức chính trị, hệ thống quan liêu và vai trò của văn tự, trái với một tiền nhà nước chỉ cần tiếng nói, quan hệ huyết thống, gia đình, tông tộc là giải quyết được các liên hệ. Mô hình nhà nước không có nhiều. Hình thức nhà nước đầu tiên ra đời ở Lưỡng Hà 3.500 trước công nguyên, rồi sau đó các nhà nước Ai Cập, Trung Hoa, Ấn Độ ra đời ở Cựu lục địa. Mọi nhà nước ĐNA đều chấp nhận một trong hai mô hình, hoặc mô hình Ấn Độ như các nhà nước ở ĐNA ngoài Việt Nam, hoặc mô hình Trung Quốc như Việt Nam. Mà đã theo mô hình nào thì sẽ có một văn học theo mô hình ấy. Mọi hình thức văn học đều rời khỏi cái khuôn bộ lạc, tiền nhà nước để được tổ chức lại theo mô hình nhà nước. Đó là sự chuyển hóa thứ hai. Vào thế kỷ XIX cho đến cuối thế kỷ XX văn học ĐNA trải qua một sự khúc xạ thứ ba qua mô hình văn học châu Âu, trong đó những đặc điểm của văn học dân gian chuyển hóa dần và xuất hiện những hình thức mới, những nội dung mới bắt nguồn từ châu Âu. Đó là tình hình ta thấy hiện nay trước khi chuyển sang một mô hình mới của thời đại làng thế giới.

12. Dù cho một số tộc người xuống đồng bằng rồi trở thành tộc người chủ thể trong quốc gia có thể có thành kiến với rừng núi, coi đó là nơi ma thiêng nước độc, nhưng tâm thức con người đâu phải thay đổi dễ dàng theo lý luận sinh hoạt kinh tế quy định tất cả? Tâm thức ĐNA có rất nhiều nét giống nhau phản ảnh quá trình sinh sống hàng vạn năm và tâm thức ấy biểu lộ trong văn học. Chúng ta đã vượt qua giai đoạn lấy tiến hóa luận của thế kỷ XIX, giải thích sự giống nhau là bắt nguồn từ một trung tâm, rồi các nơi khác bắt chước theo. Những sự giống nhau là rất nhiều, chỉ kể vài hiện tượng tiêu biểu liên quan tới VHDG chung của ĐNA. Chỉ tiếc là cái giống nhau rất khó thấy, trái lại cái khác nhau lại dễ thấy hơn nhiều cho nên khoa ĐNA học bị thiệt thòi, và người bình thường chỉ thấy ở đây sự bắt chước hoặc Ấn Độ, hoặc Trung Hoa, hoặc phương Tây.

13. Cuộc sống trong rừng dẫn tới tín ngưỡng linh hồn giáo. Khi con người sống dựa vào tự nhiên, người ta dễ dàng tin rằng mọi vật xung quanh mình đều có linh hồn, con người không phải là vật duy nhất có linh hồn, mà cây, sông, suối, núi, đá, đều có linh hồn. ĐNA theo linh hồn giáo dưới những biểu hiện khá giống nhau. Người Lào Thay có tín ngưỡng thờ “phi” (ma), người Lào Thơng và người Lào Xung thờ phi và thờ “thẻn” (thần). Do đó có ma nhà, ma bản, ma rừng, ma sông. Tình hình này ở Thái Lan cũng không khác: bởi vì tộc người chủ đạo ở Lào và Thái Lan là người Thái. Dù người Mianma có gọi các thần ấy là nát, và có nát sông, nát núi, nát cây, nát suối, dù người Cămpuchia có gọi bằng các tên Đôma, Arak, Neak Tà thì thực chất cũng chỉ là một cách nhìn chung biểu hiện tính thống nhất trong đa dạng. Thần hay qủy đối với ĐNA chỉ khác nhau ở điểm một bên làm việc thiện, một bên làm việc ác mà thôi chứ không khác nhau về địa vị theo quan niệm dân gian đánh giá người khác theo đạo đức đối với cộng đồng.

14. Khi ngay cả cây và vật vô tri đều có hồn thì dĩ nhiên con người cũng có hồn, và cái hồn ấy gắn liền với cuộc sống thế gian của con cái, dòng họ. Cho nên các tộc người ở đây đều thờ cúng tổ tiên, tuy việc thờ có thể mang những hình thức khác nhau: Nho giáo, Phật giáo và linh hồn giáo.

Trước khi ĐNA có một diện mạo văn hóa thống nhất ở cây lúa thì nó có một diện mạo thống nhất ở tục ăn trầu cau, là tục thể hiện quan hệ của con người với cây với đá. Toàn bộ ĐNA kể cả Ấn Độ đều ăn trầu, và trầu cau được nhắc tới, được sử dụng trong mọi giao tiếp. “Miếng trầu là đầu câu chuyện” là chuyện chung của cả ĐNA lục địa và ĐNA hải đảo. Đặc biệt đến giờ, ở khắp nơi trầu cau vẫn gắn liền với hôn lễ. Ngay giờ đây khi ở các thành phố Việt Nam người ta không ăn trầu nữa, nhưng khi một cô gái lấy chồng, các gia đình họ hàng đều nhận được trầu cau để đánh dấu cô gái ấy bước sang một gia đình mới.

Khi cây là chỗ dựa quan trọng nhất của người ĐNA nguyên thủy thì xuất hiện những huyền thoại về cái cây vũ trụ, về việc vũ trụ nẩy sinh từ một cây nào đấy, như trường hợp cây sinh trong Đẻ đất đẻ nước ở Việt Nam và những trường ca về cây vũ trụ ở người Thái, người Cămpuchia, chuyện cặp vợ chồng Punha Nhanhơ trong thần thoại Lào Punhơ Nhanhơ lo chặt cây Khủakhâucạt che phủ cả bầu trời và khi cây này đổ xuống thì cả hai vợ chồng gục xuống vì kiệt sức, chuyện Sự ra đời của cái lớn ở Thái Lan tương tự như chuyện Đẻ đất đẻ nước ở người Mường.

15. Chuyện linh hồn giáo không chỉ là đặc điểm riêng của ĐNA lục địa. Tylor trong Văn hóa nguyên thủy (Primitive Culture) năm 1971, đã khẳng định sự tồn tại của nó ở châu Phi. Tính độc đáo của tín ngưỡng ĐNA là ở quan niệm đầu thai và vai trò chủ đạo dành cho ba đối tượng trong tín ngưỡng này là: Cây, Rắn và Chim làm thành chủ đề của tín ngưỡng trong sự ra đời của vũ trụ rồi được kết tinh lại trong những tác phẩm văn học làm nền tảng cho văn học dân gian.

Thuyết đầu thai tuy có được Pythagore, Platon nhắc đến ở Hy Lạp nhưng là chuyện cá biệt. Còn ở ĐNA nó là tín ngưỡng chung phổ biến cho mọi tộc người. Môtíp đầu thai mà ta thấy chung ở ĐNA cho phép hình thành vô số cổ tích kiểu Tấm Cám trong đó nhân vật tích cực sẽ đầu thai lần này lượt khác để cuối cùng được hưởng hạnh phúc, trái lại nhân vật tiêu cực chết là hết. Đây chính là cơ sở cho tư tưởng lạc quan của quần chúng lao động trong một hoàn cảnh thực tế chống lại mọi ước mơ của họ. Nó có trước các lý luận đầu thai sau này ĐNA tiếp nhận từ Ấn Độ qua Bà La Môn giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo là những lý thuyết chẳng qua chỉ duy lý hóa một tín ngưỡng nảy sinh trong môi trường rừng. Rừng là nơi mọi vật dựa vào nhau để tồn tại, đó không phải là môi trường của sự tranh giành, khôn sống mống chết, mạnh được yếu thua. Người ĐNA sống trong rừng có dịp thấy trứng sâu sinh ra con sâu, con sâu chuyển thành con bướm, cũng như hạt giống thành cái cây, cái cây trổ hoa, cái hoa thành trái, cái chết của vật này làm xuất hiện một vật khác theo một chu kỳ luân hồi bất tận. Tín ngưỡng này, như tôi có dịp khảo sát, không thấy ở Trung Quốc trước đời Tần. Con người trong nhiều nơi trên thế giới chỉ sống có một lần, rồi sau đó trở về với vương quốc của các linh hồn. Còn con người ĐNA sống nhiều kiếp dưới nhiều dạng khác nhau, dạng người, dạng súc vật và dạng cây cỏ. Và ngay giờ đây, nhiều tộc người vẫn xem cái chết không phải là hết. Đối với nhiều tộc người ở đây cái chết không phải sự trừng phạt to lớn nhất bởi vì sau khi chết đi người ta sẽ đầu thai trở lại trong cộng đồng mình. Trừng phạt nặng nhất là bị đuổi ra khỏi cộng đồng.

16. Vì sống giữa cây, ăn cây, ở trên cây, di chuyển nhờ cây (bè, thuyền độc mộc), chết chôn trong cây, cho nên người ĐNA lục địa chấp nhận thế giới ra đời từ cái cây vũ trụ. Đó là nguồn gốc sử thi của người Mường, người Thái, người Mianma. Đặc biệt quả bầu, thứ quả cung cấp thức ăn dễ kiếm nhất trở thành cơ sở của thần thoại về quả bầu từ đó sinh ra loài người mà ta bắt gặp trong trên trăm tộc người ở ĐNA; thần thoại có con chim ấp trứng; trứng nở ra người, thần thoại về con rắn thần lấy chim là tổ tiên của tộc người. Sau này khi tiếp xúc với những văn hóa khác, các thần thoại này mang thêm những nét thần bí để tô điểm. Chim biến thành tiên, rắn biến thành rồng, dù là Đẻ đất đẻ nước của Việt Nam, Am ẹt luông của người Thái hay Truyền thuyết Prak Thon của Cămpuchia, hình ảnh rồng và chim được thần thoại hóa theo văn hóa Hán và văn hóa Ấn Độ là chuyện đập vào mắt mọi người như một thứ ám ảnh.

17. Chỉ khi nghề trồng lúa nước ra đời, ĐNA mới có một nông nghiệp theo quy mô lớn, còn trước đó cái gì cũng theo quy mô nhỏ. Khi nông nghiệp lúa nước ra đời và trở thành hình thức nông nghiệp gần như độc canh, ta thấy những tộc người độc canh lúa nước trước sau đều trở thành tộc người chủ thể của quốc gia. Lúc này xuất hiện những tác phẩm văn học dân gian cùng với những nghi lễ, truyền thuyết xung quanh những chủ đề sau đây mà ta bắt gặp ở các nước của ĐNA lục địa:

Một là những huyền thoại về sự ra đời của hạt lúa, các chuyện về bà mẹ lúa, cùng với các nghi lễ, truyền thuyết về các yếu tố thiên nhiên gắn liền với sự sinh trưởng của cây lúa: mây, mưa, sấm, chớp, nắng, mặt trời, mặt trăng. Đi kèm với cây lúa là các tín ngưỡng, nghi lễ, lễ hội theo chu kỳ sinh hoạt của cây lúa, tức là những nghi lễ nông nghiệp với các trò chơi như thả diều, té nước, đua thuyền, cầu mưa, cùng với những lễ hội có sắc thái phồn thực để cầu mong được mùa, bởi vì trong óc người xưa việc cây lúa trổ hạt với người đàn bà sinh con là có quan hệ gắn bó. Những điều này nói chung đều có mặt văn học riêng của mình.

Thứ hai, là chuyện những dũng sĩ, những anh hùng đã chiến thắng mọi trở lực của thiên nhiên và của kẻ thù để thành lập các mường, đem đến yên ổn và phúc lợi cho cộng đồng.

Thứ ba, vì hoàn cảnh sống nhìn chung là hết sức vất vả, và tâm lý cộng đồng thiên về bình đẳng, chống bất công, nên văn học dân gian sẽ thiên về những con người thiệt thòi nhất trong xã hội, chủ yếu là các chàng trai, các cô gái mồ côi, những người này là hiện thân của đạo đức, lòng thương người, sẽ tìm được hạnh phúc ở thế gian.

Thứ tư, trong cuộc sống vất vả, theo tâm lý linh hồn giáo, người ĐNA tìm thấy ở mọi động vật chung quanh những nhân vật gắn bó với mình, và động vật nào cũng có sự tích, có chuyện kể, cắt nghĩa về hình thức, cuộc sống của chúng.

Thứ năm, bản thân cuộc sống có bất công, có áp bức đòi hỏi phải có con người chống lại nó. Cách chống lại ít gây xung đột nhất là bằng trí khôn, cho nên văn học dân gian các nước ĐNA nói đến những con người, những con vật nhờ trí khôn thắng mọi bạo lực, đồng thời chứa đựng những ngụ ngôn có tính chất dân gian.

18. Trước khi nói đến cách thể hiện nội dung có tính dân gian này trong nền văn học mỗi nước, cần phải nói đến một yếu tố về hình thức mà ta bắt gặp trong toàn bộ văn học dân gian ĐNA lục địa dù đó là ca dao, tục ngữ, trường ca, thơ, kịch làm thành nét khu biệt của văn học dân gian khu vực này với toàn bộ thế giới. Đó là sự có mặt của vần lưng trong mọi thể loại, chung cho cả ĐNA lục địa. Sự có mặt này không liên quan tới tính đơn tiết của ngôn ngữ, tiếng Hán còn mang tính đơn tiết hơn nhiều ngôn ngữ ĐNA, nhưng lại không có vần lưng. Nó cũng không liên quan tới tính không biến đổi của các từ, tuy các từ ĐNA đều không biến đổi về tình thái. Nhưng sự có mặt phổ biến của vần lưng như vậy ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Cămpuchia mà không phải chỉ ở các văn học quốc gia mà ở nền văn học của hàng chục tộc người là một điều không thể coi nhẹ. Nó cũng không thể do tiếp xúc văn hóa mà có được. Văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của thi ca Hán và có nhiều thể loại của thơ Hán, nhưng thơ Hán cũng như Thơ Ấn Độ không hề có vần lưng và chỉ có vần chân. Còn thơ ĐNA có cả vần chân và vần lưng không những thế nếu ta xem thơ Cămpuchia và thơ Thái Lan thì thấy bên cạnh vần chân có nhiều kiểu vần lưng, vần trong nội bộ một câu hết sức độc đáo không thể nào do vay mượn mà có. Chúng tôi hy vọng cung cấp một công trình riêng về vấn đề này mà chúng tôi cho là vấn đề căn bản để hiểu thi pháp ĐNA. Nó sẽ góp phần giới thiệu cách phát triển thi pháp Việt Nam. Không những thế nội dung các tục ngữ, dân ca ĐNA không khác nội dung các tục ngữ, dân ca Việt Nam, đều xây dựng trên tình nghĩa, chú ý tới cuộc sống dưới đất, ý thức về diện mạo, thân phận trong cuộc sống hài hòa với cộng đồng, nếu dịch ra tiếng Việt có thể lầm tưởng là tục ngữ dân ca Việt Nam.

19. Các môtíp này của VHDG là chung cho ĐNA lục địa, sau này không khỏi mang dấu ấn Đạo Phật và có điểm vay mượn Ấn Độ, nhưng có thể nói là đã có mầm mống từ trước, trong giai đoạn các Mường. Những môtíp này được thể hiện trong các công trình văn học dân gian dưới đây của từng nước, và vì các môtíp có mặt nhiều khi cùng trong một tác phẩm nên không thể nào tách riêng từng tác phẩm xem là tiêu biểu cho một môtíp duy nhất.

Các nước của ĐNA không kể Việt Nam đều ít nhiều dựa theo một mô hình nhà nước Ấn Độ. Văn hóa Trung Hoa chủ yếu nhập vào Việt Nam bằng con đường quân sự và Trung Hoa sử dụng văn hóa như một chiêu bài để tiến hành chính sách xâm lược và đồng hóa. Cho nên Việt Nam cũng như Triều Tiên tiếp nhận văn hóa Hán, xây dựng một nhà nước kiểu Hán chủ yếu để chống lại sự nô dịch của Trung Quốc. Các nước tiếp thu văn hóa Trung Quốc đều có sự chống đối ngầm để bảo vệ độc lập dân tộc. Điều này cũng xẩy ra trong việc các nước ĐNA tiếp thu văn hóa phương Tây. Kết quả của sự tiếp thu này như khối ASEAN đã chứng minh, là một phong trào độc lập của các nước ĐNA nhằm xây dựng một khối thịnh vượng chung.

Trường hợp các nước ĐNA tiếp thu văn hóa Ấn Độ là khác hẳn. Các nước ĐNA không cần phải cảnh giác với Ấn Độ. Chính vì con đường Ấn Độ không có lưỡi kiếm lập lòe đằng sau văn hóa. Chính nhờ thế mà sự thâm nhập văn hóa diễn ra sâu hơn và phổ biến hơn, toàn diện hơn. Có thể nói Ấn Độ đã nêu lên tấm gương về giao lưu văn hóa làm cơ sở cho giao lưu kinh tế của thế giới vào thế kỷ tới. Có một bài học Ấn Độ và một sự phát hiện Ấn Độ mà thế giới cần tiếp nhận từ cái xứ sở đã một thời bị coi thường và chà đạp.

Đã thế, văn học Ấn Độ cổ đại có nhiều nét chung với văn học ĐNA cổ: cũng có những văn hóa mang tính chất rừng núi, với tín ngưỡng linh hồn giáo, đầu thai của những công quốc nhỏ trong đó có cả tác phẩm văn học đều mang tính hỗn đồng của VHDG. Sự khác nhau là ở trình độ hơn là ở bản chất. Có một trình độ tư biện cao, hệ thống hóa chặt chẽ với quy mô hùng vĩ trong các tác phẩm do chỗ tầng lớp tăng lữ có được một cuộc sống cao, địa vị tôn trọng trong một xã hội đã phân tầng rõ rệt, nhưng đây là một văn học vẫn đậm đà bản chất dân gian. Sự khác nhau chủ yếu giữa văn học Ấn Độ với các nền văn học ĐNA là vai trò của đẳng cấp trong văn học Ấn Độ, điều không có trong văn học ĐNA. Chính vì vậy dù có trải qua Bà La Môn giáo, rồi Ấn Độ giáo, một nước như Cămpuchia cuối cùng lại theo Phật giáo, còn những nước hình thành sau thì chấp nhận Phật giáo, và Phật giáo trở thành quốc giáo của bốn nước Lào, Cămpuchia, Thái Lan, Mianma, phần nào cũng giống tình hình ở Việt Nam trước thế kỷ XV.

20. Một bằng chứng không thể chối cãi của sự khác nhau này trong giao lưu văn hóa, đó là ở Việt Nam không có tác phẩm Trung Quốc nào đóng vai trò nền tảng của văn học dân tộc. Tác phẩm văn học Trung Quốc có ảnh hưởng rộng rãi nhất ở Việt Nam là Tam quốc chí diễn nghĩa, đã làm nẩy sinh trên một trăm vở tuồng. Nhưng xét về nội dung thì Tam quốc chí chỉ nói đến cuộc xung đột nội bộ ở Trung Quốc giữa ba tập đoàn quân chủ không liên quan tới chế độ bá quyền của Trung Hoa, và xét về thời đại thì việc này xảy ra vào thời Minh Mệnh, Tự Đức, khi đó nước Việt Nam không phải lo về một cuộc xâm lăng của Trung Quốc.

21. Dưới đây là một vài nét đối lập giữa ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc ở Việt Nam với ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ ở Đông Nam Á lục địa:

Một là suốt trong lịch sử người Việt Nam chỉ học chữ Hán theo cách phát âm Hán Việt của Việt Nam không giống bất kỳ phương ngữ nào của Trung Quốc đương thời, và trong lịch sử Việt Nam không có người Trung Quốc nào làm việc trong bộ máy cai trị Việt Nam. Chỉ đến thế kỷ XIX, mới có một vài người Minh Hương như Trần Tiễn Thành, Phan Thanh Giản được giao những trách nhiệm quan trọng, nhưng những người này đã Việt Nam hóa, về tư tưởng là chống lại nhà Thanh, tức là không thể là chỗ dựa cho sự xâm lược của Trung Quốc. Trái lại, triều đình các nước ĐNA nhan nhản những viên quan, những cố vấn, những pháp sư, tăng lữ Ấn Độ và trí thức nhiều người thông thạo tiếng Pali, tiếng Sanskrit, đồng thời kiến trúc, vũ, kịch ở ĐNA có thể nói không khác các loại hình này ở Ấn Độ, trong khi người Việt Nam chỉ bắt chước Trung Quốc bên ngoài và nhìn chung vẫn không theo mô hình Trung Quốc.

Hai là, các nước ĐNA tiếp thu các tôn giáo của Ấn Độ và văn học các nước này chịu nhiều ảnh hưởng Ấn Độ sâu đậm hơn Việt Nam chịu ảnh hưởng văn học Hán. Có nước như Cămpuchia lần lượt chịu ảnh hưởng Bà La Môn giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, có nước như Thái Lan, Mianma chịu ảnh hưởng Phật giáo, có nước như Lào tiếp thu Phật giáo qua ảnh hưởng Phật giáo tới Cămpuchia, nhưng nhìn chung Phật giáo vẫn là tôn giáo chi phối toàn bộ văn học ĐNA lục địa. Phật giáo rất khác Thiên chúa giáo ở điểm nó không phải là một tôn giáo kiêu ngạo chỉ chấp nhận một chân lý duy nhất của mình, ngoài ra mọi tín ngưỡng khác đều phải bị loại trừ thẳng tay. Phật giáo chấp nhận mọi tín ngưỡng, có thái độ bao dung đối với các văn hóa khác mình. Kết quả những tác phẩm của Ấn Độ không những nhập vào ĐNA mà còn được hoán cải theo văn học dân gian của nước bản địa mở đầu cho truyền thống văn học Đông Nam Á.

Một thí dụ, Ramayana, tuy có nguồn gốc Bà La Môn giáo đã nhập vào văn học ĐNA và trở thành những trường ca bất tử của các nền văn học, trong đó các biến cố, các nhân vật đều mang tính chất địa phương. Tình hình cũng như vậy đối với Jataka (Kinh Bổn sinh) kể lại các cuộc đời trước kia của Đức Phật, Panchatantra, tập ngụ ngôn nổi tiếng của Ấn Độ, các kinh Phật, đều được lưu truyền rộng rãi trong văn học các nước ĐNA và là cơ sở của nhiều bản phóng tác khác nhau làm nền tảng cho các nền văn học ở các nước này. Điều này cũng không thấy trong việc văn học Việt Nam đối với văn học Trung Quốc.

22. Bây giờ ta hãy xét văn học từng nước một để thấy vai trò của VHDG.

Có thể nói văn học Lào cấp cho ta hình ảnh đầy đủ nhất về vai trò VHDG ở ĐNA. Về thần thoại, Đẻ đất đẻ nước, các Truyện quả bầu, Punha Nhanhơ, cho thấy rõ ràng cách lý giải linh hồn giáo về mọi vật từ trời đất, trăng sao, sông suối đến con người. Các truyền thuyết về các Mường cổ đại cho thấy những câu chuyện tương tự như các Khan của đồng bào Tây Nguyên: Khún BulômXikhốt TạboongChănthạ PhạmítThạo Hùng Thạo Chương. Các cổ tích về các dũng sĩ, các chàng trai, cô gái dũng cảm tiêu diệt các yêu quái, cứu người đem đến cuộc sống yên ổn cho cộng đồng như: Chàng Phúđông và Nàng KẹoliThao KềnMalô. Các chàng mồ côi được đề cao về đạo đức và tinh thần giúp người và những con vật biết tiếng người biểu hiện trong Chàng mồ côi và con cá bétChàng mồ côi và con gà ngọcChàng mồ côi và con ma nhỏ... Những chuyện đề cao trí thông minh của Xiêng Miêng, những truyện ngụ ngôn trong đó các con vật như cá, mèo, cọp, cào cào, thỏ tham dự... làm thành những đề tài chung bắt gặp ở nhiều nền văn học.

Sang giai đoạn dựng nước văn học Lào tiêu biểu bởi Lời huấn thị của Phạ Ngừm nêu lên một quan niệm trị nước dựa trên tập quán chịu ảnh hưởng Phật giáo, việc tiếp thu Phật giáo tiểu thừa của Cămpuchia với những tác phẩm dịch của Ấn Độ nhưng đổi mới theo nội dung và phong cách Lào như Nàng Tăntraycác Kinh PhậtXiêuxạvạtXỉnxayKalakệtNàng Teng OnPhạlắc Phạlam bên cạnh những tác phẩm nói lên thực tế đau thương của một nước Lào bị người Xiêm nô dịch như Cạp Mường PhuônXănlứp Phạxún(Thư xóa không nhòa) chứng minh tinh thần yêu nước của dân tộc.

Sang giai đoạn bị thực dân Pháp cai trị, Lào chịu ảnh hưởng Pháp ít ỏi. Cả nước Lào năm 1945 chỉ có 180 trường sơ học với khoảng 1 vạn học sinh, 5 trường tiểu học và 1 trường trung học. 10 người tốt nghiệp đại học, 1 tờ báo bằng tiếng Pháp và tiếng Lào. Văn học Lào do đó không chịu ảnh hưởng phương Tây mà theo ảnh hưởng văn học yêu nước, do Mặt trận Lào yêu nước lãnh đạo. Từ năm 1950 đã có 3 tờ báo đăng thơ ca và truyện ký. Thơ ca yêu nước trong khi tiếp tục truyền thống VHDG mang nội dung đấu tranh chống thực dân với những tác giả tên tuổi như Xổnxỉ Đêxa, Phumi Vôngvichít, Xỉxanạ Đêxa ca ngợi tinh thần đoàn kết chiến đấu với Việt Nam. Trong văn xuôi, xuất hiện những truyện ngắn và ký sự phản ảnh cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai, những tác phẩm viết về cuộc sống thực tế của xã hội Viêng Chăn đầy tham nhũng, sinh hoạt bẩn thỉu của bọn tay sai. Đồng thời, tiểu thuyết ra đời có nội dung gắn bó với chủ nghĩa xã hội và tinh thần yêu nước. Có thể nói văn học Lào chịu rất ít ảnh hưởng phương Tây, giữ gìn những liên hệ sẵn có với VHDG trong khi đổi mới về nội dung.

23. Văn học Thái Lan trước khi tiếp xúc với phương Tây là một văn học do qúy tộc viết, vì qúy tộc là tầng lớp duy nhất có học vấn để làm công việc này. Sau đó là quan lại và tăng lữ. Phụ nữ không được học, và các tác giả chủ yếu là các nhà vua trong mọi giai đoạn lịch sử từ thời Sukhothai đến thời Bangkok. Về tính chất, đó là một văn học Phật giáo, trong đó vai trò của VHDG vẫn đậm nét làm thành cơ sở không thay đổi bởi những môtíp chung, các cách diễn đạt ngôn ngữ bằng những thể loại thơ dân gian đã nói ở trên. Nhà nước Thái đầu tiên là nhà nước Sukhothai sau khi đã thống nhất đất nước bằng cách sáp nhập nhà nước Dvavarati của người Môn, giành lại chủ quyền trên toàn bộ đất Thái Lan từ các nhà nước Mianma, Khơme. Nhà nước Sukothai (XIII-XV) vào năm 1350 chuyển sang nhà nước Ayutthaya cho đến năm 1767, Phiya Taksin đánh bại quân đội Mianma chọn Thôn Buri làm kinh đô. Phraya Chakri kế vị năm 1782 chuyển kinh đô sang Bangkok mở đầu triều đại Chakri cho đến ngày nay và vua Bhumibol Adulyađei hiện nay là vị vua thứ chín.

Văn học Thái Lan mô phỏng Phật giáo để thể hiện tình cảm, tâm lý, cuộc sống, tính cách Thái Lan, trong đó tính chất bi quan của Phật giáo nhường chỗ cho tính lạc quan tươi vui, yêu đời của VHDG. Kết thúc các vở kịch các trruyện thường là vui, cái thiện thắng cái ác. Trong giai đoạn Sukhothai có Tray Phum Bàn về Ba thế giới, của vua Li Thay miêu tả Địa ngục, Cõi trần và Cõi trời trình bày vũ trụ quan và luân lý Phật giáo và trở thành cơ sở cho học thuyết Phật giáo, Trường ca Nàng Nophamat miêu tả cuộc sống triều đình, phong tục và lễ hội dân gian. Văn học thời kỳ Ayutthaya tiêu biểu bởi Praka seng Nam (Lời nguyền rủa nước) là lời cầu trời để chống lũ lụt, bộ luật Khotnon Thiênban của vua Thibođi quy định các điều lệ trong cung đình, bộ Maha Xạt (Đại Kiếp) kể về cuộc đời Đức Thích Ca gồm 13 chương mà việc đọc trở thành nghi lễ tôn giáo quan trọng nhất ở Thái Lan theo những hình thức thơ Thái Lan quen thuộc (khlông, rắp và xay), Phra Lo, tiểu thuyết tình bằng thơ đầu tiên giữa chàng Phra Lo với hai công chúa trong tình trạng thù địch giữa hai gia đình và cuối cùng là kết thúc bi thảm kiểu Romêo và Giuliét. Thời kỳ này xuất hiện những bài thơ tình yêu, tâm sự, cảnh ly biệt trong khi đi trên đường xa gọi là thể thơ nirat. Xỉprạt là nhà thơ nổi tiếng trong những truyện thơ dài như Anirut và Kămxuôn. Nội dung của Anirut là lấy ở tác phẩm Ấn Độ Xamuttakhôt: Anirut, người cháu của thần Krishna, khi ngủ được một vị thần đưa đến phòng ngủ của công chúa Utxa, hai người yêu nhau, nhưng cha của công chúa là một con qủy khổng lồ không chịu định giết chàng. Nhờ thần Krishna giải thoát cuộc hôn lễ được tổ chức. Kămxuổn được viết theo thể khlông kể cảnh vất vả trong chuyện nhà thơ vì châm biếm các quan lại bị nhà vua đày từ Ayutthaya đến tỉnh Nakhon Xithămarat, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, thành Ayutthaya và mang nỗi u hoài, đau xót không nói lên lời. Xỉprat bị chém oan ức ở nơi lưu đày.

Hoàng tử Thammathibệt cũng là một nhà thơ xuất sắc. Ông là tác giả Phra Malay lấy chủ đề từ tác phẩm Malay Xutra của một nhà sư Xri Lanca, và tác phẩm Nirat Phrabạt kể lại một cuộc hành hương tới nơi có dấu chân Đức Phật. Đây là một tác phẩm bách khoa đầy những nhận xét thú vị về cây cỏ và phong tục. Đặc biệt vào giai đoạn này xuất hiện những vở kịch lấy đề tài từ Ramayanagộp lại là Rama Kiên. Nhìn chung văn học Thái Lan, đặc biệt là kịch, thường lấy đề tài ở Phật giáo, lịch sử hay chuyện tình.

Sang thời kỳ Bangkok (thế kỷ XVIII-XIX) văn học phát triển rực rỡ. Vua Rama I cùng với nhiều vị quan viết lại nhiều kịch bản theo thể thơ, nhà vua còn sáng tác kịch để diễn, lấy chủ đề ở những tác phẩm quen thuộc như: XamutakhôtRama KiênInáo AnirutRaxathirat viết theo chỉ thị nhà vua là quyển sử đầu tiên bằng văn xuôi. Rama II được xem là một trong những nhà văn lớn nhất của Thái Lan. Ông biên soạn hai đoạn trong Rama Kiên, viết vở kịch Ináo, một câu chuyện dựa trên bối cảnh Giava nhưng lại đầy những thông tin lịch sử của Thái Lan thế kỷ XIX về nhân vật, phong tục, nghi lễ. Đây cũng là thời kỳ hoạt động của nhà thơ lớn nhất văn học Thái Lan là Sủnthon Phu (1786-1855). Những tác phẩm chính của ông là Phra Aphai Mani, lấy cảm hứng từ các truyện cổ quen thuộc, cũng như nhiều truyện nước ngoài trong đó có Tam quốc chí. Nó là tác phẩm thơ dài nhất, trên mười vạn câu thơ với 64 chương.

Nội dung bản trường ca này hết sức quái đản, nhưng chính cái quái đản với sự lẫn lộn tín ngưỡng dân gian, tôn giáo và thực tế lại giúp ta hiểu văn học ĐNA hơn một công trình lý luận. Hai hoàng tử Aphaymani và Xỉxuvăn được gửi đi học. Aphaymani học được thuật làm mê hoặc thú vật và kẻ thù bằng tiếng sáo và Xỉxuvăn học được tài đánh kiếm, đánh gậy. Khi trở về, cả hai bị cha đuổi đi vì họ học được những điều của bọn thường dân. Hai anh em chia tay nhau. Một loạt những truyện phiêu lưu diễn ra trong đó có những sinh vật huyền thoại, một con phỉ là Xứaxamụt bắt Aphaymani, rồi có một đứa con với chàng tên là Xỉnxamut, Xỉnxuvăn thì đi tìm anh trên một chiếc thuyền thần. Lấy con gái vua Thốtxavông rồi lên làm vua. Xỉxamut bắt được một nàng tiên cá, nộp cho cha. Nàng tiên cá này giúp hai cha con trốn đi. Cô công chúa Xuvămani chẳng may bị đắm thuyền cùng cha giạt vào hòn đảo của Aphaymani đã lẩn trốn, thỏa thuận lấy Aphaymani sẽ cùng nhau rời đảo, bỏ lại nàng tiên cá cùng với đứa con của nàng đang trong bụng mẹ. Nhưng cả hai người lại đắm thuyền trôi lạc nhau. Aphaymani gặp lại phỉ Xửaxamụt và chàng thổi sáo làm con phỉ vỡ tim mà chết. Lúc đó Xỉnxamút lại cứu được nàng công chúa Xuvănmani đưa lên một hòn đảo, nhưng lại rơi vào tay bọn cướp người Anh, người Pháp, Xỉnxamút đã chiến đấu dũng cảm cướp được tàu đi về xứ Rômmachắc, nơi chú của Xỉxuvăn cai trị. Một trận chiến đấu bất phân thắng bại diễn ra rồi sau đó hai chú cháu nhận ra nhau. Họ cùng nhau đi tìm Aphaymani, Aphaymani gặp con và vợ chưa cưới rồi làm vua ở Phlưk. Utxaren và cha giận quá mà chết, em gái Utxaren là Lavong lên làm vua ở Lanca, sau nhiều trận giao chiến, lấy Aphaymani.

Câu chuyện quái đản này trong đó trên cơ sở tín ngưỡng dân gian về thần, ma qủy, phép thuật xuất hiện những đề tài quen thuộc: tình yêu, phiêu lưu và khoa học hiện đại: Aphaymani học tiếng Anh, câu chuyện nói đến những chuyện của tương lai học chưa hề thấy trong lịch sử Thái Lan (máy bay, tàu ngầm, những cô gái chỉ huy quân đội và cai trị đất nước) của một nhà thơ xuất thân từ bình dân đồng thời mang tính riêng tư sâu sắc được viết với một ngôn ngữ vô song, đầy âm điệu là tác phẩm nổi tiếng nhất của văn học Thái Lan. Xủnthon Phu để lại một gia tài văn học đồ sộ gồm những tác phẩm đã trở thành kinh điển như trường ca anh hùng Khún Chang Khún Phên, những tác phẩm nirat hay nhất. Đặc biệt Thái Lan chịu ảnh hưởng tiểu thuyết Trung Quốc bắt đầu bằng Tam Quốc chí diễn nghĩa dịch vào năm 1865 đã góp phần tạo nên truyền thống văn học bằng văn xuôi.

Thái Lan là nước duy nhất ở ĐNA duy trì được độc lập nhờ sự sáng suốt của qúy tộc Thái Lan, một qúy tộc thạo thương nghiệp, biết tận dụng mâu thuẫn giữa các cường quốc thực dân bằng chính sách quan hệ nhiều chiều và tiến hành chính sách mở cửa đối với phương Tây. Nhiều vua chúa và qúy tộc Thái Lan đã sang phương Tây học, thông thạo ngoại ngữ, đã góp phần tạo nên một văn hóa Thái Lan được Tây phương hóa về nhiều mặt, trong đó vai trò của vua Mongkut, tức Rama IV (1851-1868), Chulalongkorn tức Rama V (1868-1910), của Vajiravudh, tức Rama VI (1910-1925) đều là những người am hiểu phương Tây, biết duy trì độc lập dân tộc với những nhân nhượng cần thiết với phương Tây đồng thời đổi mới đất nước theo con đường Tây phương hóa về chính trị, pháp luật, kinh tế. Các vị vua này cũng là những nhà văn hóa lớn đã đóng góp nhiều cho văn học. Đặc biệt hoàng thân Đămrông, người viết ngót hai trăm tác phẩm phần lớn bằng văn xuôi, đã có công rất lớn trong việc xây dựng một văn học vừa dân tộc vừa có tính hiện đại.

Nhưng sự tiếp xúc với văn hóa tư sản phương Tây tất yếu làm xuất hiện tầng lớp trí thức mới thiên về một văn học lấy thực tế cuộc sống làm đối tượng, lấy tự do dân chủ làm nội dung, lấy phát huy cá nhân làm mục đích. Sự ra đời của kỹ thuật in vào năm 1835, tất yếu dẫn đến vai trò thống trị của văn xuôi và ảnh hưởng của báo chí. Một loạt thể loại mới tiêu biểu cho phương Tây xuất hiện: truyện ngắn, tiểu thuyết, bút kí, các bài nghị luận, phê bình, các tác phẩm dịch từ phương Tây, những bài nói về cuộc sống của người bình dân. Đặc biệt cảnh khổ cực của nông dân bắt đầu lôi cuốn công chúng từ năm 1925. Dù cho các vua Thái Lan đã có công lớn trong việc giữ được độc lập dân tộc, nhưng các thể chế quân chủ vẫn cản trở bước tiến của xã hội. Nếu như sinh hoạt thành thị có đổi mới và có sự phát triển theo hướng phương Tây thì nông thôn vẫn nghèo khổ. Điều này làm nẩy sinh một tâm lý đặc biệt của tầng lớp trí thức Thái Lan, khác tâm lý của trí thức ĐNA. Rõ ràng sự gắn bó của nó với VHDG có vai trò tích cực.

Trí thức ĐNA chống quân chủ triệt để và xem chế độ quân chủ là đồng lõa với đế quốc, chịu tội chính trong việc để cho đất nước bị nô dịch. Trí thức Thái Lan không thể có thái độ này vì công lao của chế độ vua chúa Thái Lan trong việc bảo vệ chủ quyền dân tộc là quá hiển nhiên. Trí thức Thái Lan do tư tưởng bình đẳng, bác ái của Đạo Phật kịch liệt chống lại cá nhân luận phương Tây xây dựng trên lợi nhuận, nhưng không thể đi đến chỗ phủ nhận quá khứ như phần lớn trí thức ĐNA. Kết quả là ở Thái Lan hình thành cuộc vận động cải cách chính trị và xã hội mang tính chất Thái Lan của nhà cải cách lỗi lạc châu Á là tiến sĩ Priđi Banomyong đã dẫn tới cuộc Đảo chính năm 1932, thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, những cải cách quan trọng về kinh tế và chính trị, đồng thời chính Banomyong cũng là người lãnh đạo phong trào Thái Tự do chống lại việc phát xít Nhật chiếm đóng Thái Lan trong Thế chiến II. Nhưng những cố gắng của tầng lớp trí thức bắt gặp một đối thủ quá mạnh là tầng lớp quân nhân. Tầng lớp này có một ưu thế sẵn có là hình thức tổ chức chặt chẽ, lại dựa vào uy tín của nhà vua, vào tâm lý quần chúng nông dân qúy trọng truyền thống văn hóa xưa cho nên nhiều lúc chỉ huy chính trị Thái Lan đẩy chính trị này theo con đường liên minh với kẻ mạnh dù đó là phát xít Nhật, hay đế quốc Mỹ, làm thành bàn đạp của chủ nghĩa đế quốc ở ĐNA. Trong lúc đó phong trào dân chủ phản ảnh quyền lợi của quần chúng lao động vẫn tiếp tục yêu cầu những cải cách trong chính trị, kinh tế và cuối cùng dẫn tới bước chuyển hóa hiện nay trong giai đoạn ASEAN trong đó Thái Lan với ưu thế kinh tế của mình có một vai trò nổi bật.

Vì phạm vi bài này chỉ thu hẹp vào việc giới thiệu ảnh hưởng của VHDG cho nên chúng tôi chỉ nêu lên một vài nhận xét về ảnh hưởng này trong tiểu thuyết và truyện ngắn.

Bên cạnh những tác phẩm còn gắn liền với truyền thống quá khứ của tôn giáo, cung đình và tín ngưỡng dân gian, những tác phẩm lôi cuốn công chúng nhất là của những trí thức có học vấn phương Tây sâu rộng, am hiểu văn học phương Tây nhưng lại chống xu hướng kinh tế và văn hóa, phong tục phương Tây, biểu lộ thái độ thất vọng đối với phương Tây và văn minh của nó. Hoàng thân Akạt Kămkơ là người đặt nền móng cho thái độ thất vọng đối với văn minh phương Tây trong bộ ba tác phẩm Sân khấu cuộc đời (1928); Da vàngDa trắngThiên đường đổ vỡ. Tác giả lấy chính thể nghiệm của đời mình, một người đã sống và học ở phương Tây, để miêu tả những thất vọng của một người theo đạo đức Phật giáo và văn hóa phương Đông trước cuộc sống thuần túy vật chất của phương Tây. Xu hướng chống văn hóa phương Tây này còn biểu lộ trong tác phẩm Đời niên thiếu của tôi ở Xiêm của Akạt Kămkơng, các tác phẩm Đồng tiền và lao độngBác Prôm từ đảo LôiChú bé lầm đường hay Tên nàng là phụ nữ của Malay Chuphinít, nhất là Những con người tử tế của nữ văn sĩ Đoọkmai Xột. Đó là những tác phẩm báo trước cuộc chính biến 1932 trong đó những trí thức Tây học có ý thức về vai trò của mình nhằm thay đổi xã hội theo một hướng phù hợp với đạo lý bác ái của đạo Phật. Nếu như ở đây vắng bóng thần tiên, ma qủy, các ông hoàng, bà chúa của VHDG thì nó lại có một điểm rất lạ, khác tiểu thuyết Việt Nam, mà có màu sắc những tác phẩm của văn học Nga thế kỷ XIX, trong sự phủ nhận văn minh vật chất phương Tây và quan hệ xã hội lạnh lùng của phương Tây. Những bài phân tích Tolstoi của Lênin khiến tôi thấy có cái gì của Tolstoi ở nền văn học Thái Lan, ở đấy trí thức không phải đấu tranh chống chế độ áp bức thực dân mà chống bản chất văn hóa vụ lợi, lạnh lùng của phương Tây. Trong văn học Việt Nam giai đoạn 30-40, tôi thấy ảnh hưởng của văn học Pháp rất rõ nhiều hơn là ảnh hưởng của văn học dân gian, còn trong văn học Nga, một con người làng xã như tôi thấy có ảnh hưởng tâm thức dân gian. Văn học dân gian và chính đây là điều văn học Tây Âu còn thiếu đã tạo nên sự lôi cuốn mới mẻ của Puskin, Gôgôn, Sêkhop. Trong văn học hiện đại của Thái Lan cũng có hiện tượng này.

Cái nét mới của văn học Thái Lan hiện đại chính là thái độ chống văn minh vụ lợi Tây Âu ở bản thân nó. Văn học các nước khác chống thực dân nhưng thiên về chính trị nên thường coi nhẹ mặt diễn biến hòa bình. Những nhà văn nổi tiếng nhất của Thái Lan như Đoọcmai Xột, Phaythun Xủnthon (Sự yên lặng trước cơn bão), Xurăng Khanăng (Người đàn bà sa ngã), Xểni Xaovaphông (Một tâm hồn đồi bại) đều chống lại chính hiện tượng gần đây được gọi là sự diễn biến hòa bình hoặc xây dựng hình tượng những nhân vật mới tích cực chống lại hiện tượng này bằng cách quay về cuộc sống cộng đồng chung với người lao động, như trường hợp Laokhămhon (Trời không ngăn nổi), Xuvăni Xukhaytha (Anh ấy tên là Kan).

Trí thức Thái Lan là trí thức có số lượng đông đảo, có học vấn phương Tây sâu sắc nhưng không hài lòng về trách nhiệm của mình đối với quần chúng lao động vì họ không đổi mới được cuộc sống của nông dân. Từ đó xuất hiện nhiều tiểu thuyết phê phán có giá trị về cuộc sống và trách nhiệm của văn học đối với quần chúng lao động. Một số người đã từng đặt hy vọng vào chủ nghĩa xã hội, nhưng kinh nghiệm của Đại cách mạng văn hóa Trung Quốc, và cách mạng Cămpuchia khiến họ hoang mang. Họ chống lại phái quân nhân, nhưng tình hình chính trị Thái Lan trong đó các vị tướng thổi phồng nguy cơ cộng sản làm họ chùn bước. Trong giai đoạn mới, khi tình hình ĐNA đã thay đổi, nguy cơ cộng sản không còn, tất nhiên phái quân sự khó lòng tiến hành chính sách mượn cớ nguy cơ cộng sản để đàn áp và văn học Thái Lan thấm nhuần những lý tưởng cao đẹp muốn xây dựng một văn hóa thấm nhuần bác ái và bình đẳng sẽ có điều kiện lôi cuốn ĐNA bởi chính sự am hiểu thực tế VHDG của họ, kết hợp với sự hiểu biết của họ về nguy cơ diễn biến hòa bình của văn minh phương Tây cũng cao hơn. Những ảnh hưởng nghiêm trọng do ảnh hưởng của mặt tiêu cực trong diễn biến hòa bình đã phản ảnh trong văn học hiện nay sẽ nâng cao giá trị của nền văn học này trước mọi người. Khi chế độ thực dân không còn, cuộc đấu tranh cho phúc lợi của ĐNA sẽ gắn liền với cuộc đấu tranh chống lại mặt diễn biến hòa bình của văn hóa phương Tây, kinh nghiệm của Thái Lan về mọi mặt sẽ là qúy giá bởi vì Thái Lan là nước duy nhất ở ĐNA trải qua kinh nghiệm này trong suốt hai thế kỷ, trong khi các nước khác đều phải lo giải phóng dân tộc. Con đường Thái Lan đã đi có nhiều điểm trùng với con đường ASEAN sẽ đi, cho nên việc hiểu Thái Lan cũng như văn học Thái Lan sẽ là một nhiệm vụ chung quan trọng của ASEAN.

24. Mianma, trước đây thường gọi là Miến Điện, trước cuối thế kỷ XVIII là lịch sử tranh giành chia cắt giữa những tộc người khác nhau, mỗi tộc người như vậy đều đã dựng lên những nhà nước riêng. Năm 1044, vua Anuratha thiết lập bá quyền Miến Điện ở thung lũng Iraoatđi, cai trị Thaton thủ đô của người Môn và chấp nhận đạo Phật tiểu thừa của người Môn. Thủ đô của nước là Pagan “đô thị của một ngàn ngôi chùa”, nổi tiếng trong lịch sử cổ đại bị người Mông Cổ chiếm vào năm 1287, sau đó miền Thượng Mianma bị người Shan chiếm, còn miền Nam lại bị người Môn chiếm. Năm 1758, Alaungapaya đoàn kết người Mianma, đánh bại người Môn rồi thiết lập kinh đô ở Rangun mở rộng đất nước đến phạm vi hiện nay. Năm 1924, thực dân Anh đã tìm cách thống trị Mianma sau 60 năm kịch chiến với các tộc người chống lại chế độ thực dân. Trong thế chiến II, quân Nhật chiếm, Aung San thành lập Liên minh nhân dân tự do chống phát xít cùng với quân Anh đánh đuổi quân Nhật khỏi Mianma vào năm 1945. Vì thế lực thực dân Anh đã suy yếu, người Anh phải chấp nhận cho Mianma độc lập. Ngày 17 tháng 10 năm 1947, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên bang Mianma thành lập, và ngày 4 tháng 1 năm 1948 tuyên bố độc lập.

Văn học Mianma rất ít người biết đến. Trong bài này chúng tôi viết theo chương Văn học Mianma trong Văn học Đông Nam Á của Lưu Đức Trung (Nxb. Giáo dục, H. 1998). Nền văn học Mianma dựa trên một truyền thống VHDG phong phú. Cũng như các nước ĐNA, nó có những điểm chung đã nói ở trên, thần thoại Mianma nói đến sự xuất hiện chín vị thần xuống trái đất, trước tiên ăn cây leo paxalatha để sống, sau đó tìm được cây thalêxan tức cây lúa, rồi sinh lòng dục làm thành bốn cặp vợ chồng đầu tiên. Các truyền thuyết về nguồn gốc con người, đất nước, các hiện tượng thiên nhiên, các thần nát có nhiều điểm chung với các tộc người khác ở ĐNA. Khi Anurathata lấy tiểu thừa làm quốc giáo thì ông chấp nhận cả các tín ngưỡng dân gian. Ngoài tiếng Sanskrit, tiếng Pali, tiếng Môn cũng thông dụng. Văn bia từ thế kỷ XI, XII ghi công đức các nhà vua và lòng biết ơn của thần dân đối với họ. Nổi tiếng nhất là văn bia Alungsithu (1112-1167) dựng lên khắc bốn thứ chữ: Môn, Piu, Mianma, Pali.

Cũng như Thái Lan, VHDG Mianma chịu ảnh hưởng Phật giáo. Jataka của Ấn Độ có 547 truyện được biên soạn thành 50 tập và được dân gian hóa. Mianma có nhiều thể thơ dân gian, thơ kể truyện lịch sử gọi là ejing, thơ ca ngợi gọi là môgung, thơ tả thiên nhiên gọi là yađu và tota, các thể thơ thường có 4 âm tiết. Các bài thơ dân gian thường lấy nội dung về cuộc đời của những nhân vật lịch sử, tình yêu, những cuộc hành hương. Các truyện về các núi non, cây cối, tài nguyên cũng phản ảnh cách nhìn chung của linh hồn giáo. Đặc biệt Yagan về Rama (1782) phỏng theo tác phẩm Ramayana của Ấn Độ được chuyển thành kịch để trình diễn trong các lễ hội, Đạo lý tự nhiên của Ananđatura đau xót cho hoàn cảnh con người bất lực trước số phận, Chiếc gương thần kỳ kể về mối tình giữa một nàng công chúa với một hoàng tử là tác phẩm nổi tiếng của Svedong Thihatu, Biên niên sử lớn của cung điện thủy tinh (1832) do nhiều người viết được xem là cuốn bách khoa về lịch sử Phật giáo và lịch sử Mianma. Nhiều vở kịch nổi tiếng xuất hiện lấy đề tài từ các cuộc tranh giành trong các triều đại quân chủ. Aduminau để lại nhiều bài thơ về cuộc đời và chiến công của những nhân vật lịch sử. U Chin U đầu thế kỷ XIX là người sáng lập kịch cổ điển: Papakhêin phơi bày sự rạn nứt của chế độ vua chúa mâu thuẫn quyền lợi trong việc giành ngai vàng. Li Pong Nha viết những vở kịch đề cao đạo đức người lao động.

Dưới thời người Anh cai trị, việc ấn loát được phổ biến, một số tác phẩm phương Tây được dịch. Đạo Phật bị lép vế trong việc truyền bá giáo dục, và bản sắc văn hóa Mianma bị những phá hoại chung mà ta thấy trong mọi nước thuộc địa trước văn minh vật chất phương Tây dựa trên đồng tiền, xác thịt. Điều này làm nẩy sinh sự chống đối của tầng lớp trí thức mới chịu ảnh hưởng văn học phương Tây, các báo chí tiến bộ kết hợp với phong trào bảo vệ Phật giáo biểu hiện của trào lưu duy trì văn hóa dân gian chống văn minh thực dân. Năm 1897 Hội Phật giáo được thành lập, năm 1906 Hội Liên hiệp thanh niên Phật giáo yêu cầu chấn hưng Phật giáo, phổ cập giáo dục tiểu học không lấy học phí, người phương Tây phải tôn trọng tập quán người Mianma. Cả bốn nước đã từng lấy Phật giáo làm quốc giáo (Lào, Cămpuchia, Mianma, Thái Lan) đều có một sách lược chung do bản thân sự đối lập giữa VHDG với văn minh vật chất phương Tây, dẫn tới những cách đấu tranh giống nhau trong đó những người chủ chốt là những người có học vấn Tây phương, nhưng không chấp nhận văn minh vật chất của phương Tây.

Takin Côđô Hmanh (1876-1964) viết những tác phẩm kiểu tica gần với tạp văn như Tica về sức mạnhTica về con côngTica về cuộc bãi côngTica về những người yêu nước, tiểu thuyết Một điển hình về lời răn lễ độ, những vở kịch ca ngợi lịch sử oanh liệt (UpxacaMahava), những tác phẩm sử học, và ông được xem là “người vun xới những mầm mống yêu nước của dân tộc”. Vào những năm 30, xuất hiện dòng văn học mang tên “Đời mới” của những giáo sư đại học và những nhà văn Răngun, đấu tranh chống lại cái cũ lạc hậu, xây dựng cái mới, coi trọng đời sống nhân dân, chống lại việc bắt chước văn học phương Tây. Mahakhêvi (1900-1953) viết trên 60 tiểu thuyết, 500 truyện ngắn phản ảnh tinh thần yêu nước chống thực dân, nổi tiếng nhất là các tiểu thuyết: Mẹ chúng ta, đề cao tổ quốc. Min Đu Vun là nhà văn, nhà ngôn ngữ học, Khin Lêi viết Đại bàng vàngCuộc sống của người phụ nữ. Tổ chức Đôbana đề ra khẩu hiệu: “Yêu tổ quốc, tôn trọng ngôn ngữ chúng ta”, trong đó nổi bật U Tin Phát, tác giả tiểu thuyết Ngã ba (1947) nêu lên ba con người thuộc những nghề nghiệp khác nhau đã đoàn kết đấu tranh giải phóng dân tộc trong chiến tranh thế giới II.

Sau khi giành được độc lập dân tộc, Mianma thi hành chính sách trung lập, không vào khối SEATO và tìm cách thực hiện chủ nghĩa xã hội, nhưng công cuộc xã hội hóa nền kinh tế quá vội vã làm kinh tế bị kém sút. Phái quân nhân nắm chính quyền nhưng Liên minh dân tộc vì dân chủ đã thắng trong cuộc bầu cử năm 1990. Tình hình kinh tế và chính trị của Mianma gặp nhiều khó khăn. Tình hình này cũng được phản ảnh trong văn học.

Bamo trong vòng 15 năm đã viết 6 quyển tiểu thuyết có giá trị, đặc biệt hai quyển Giáo sư Oan ChiêNga O viết về nông thôn và những cố gắng vất vả của nông dân để đổi mới thân phận của mình. Khin Vei Vei, sinh năm 1943, được gọi là “Đứa con chân chính của đất nước Mianma” với bài thơ Con đường sống, nhà văn U Trí Jin được giải thưởng văn học lớn nhất của Mianma với Đất nước trên núi và hoa trên trái đất (1964). Thấm nhuần những yêu cầu của VHDG, văn học Mianma hiện đại chủ yếu thiên về hướng hiện thực phê phán, tiêu biểu nhất là nữ văn sĩ Đjanhebo Ma Ma Lai với truyện ngắn Người mẹ ra đời, các tiểu thuyết Chị ấyHai cuộc sống khẳng định diện mạo những thanh niên trí thức dám sống cho nhân dân, chống lại lối sống ích kỷ của phương Tây.

Điều bất lợi cho Mianma là nó sống biệt lập với cả CNTB cũng như CNXH, trong một tình trạng tự túc về hệ tư tưởng. Trong hoàn cảnh ĐNA ngày nay, khi Mianma gia nhập khối ASEAN dĩ nhiên sẽ có những thay đổi có lợi cho Mianma cũng như cho toàn khối nói chung.

25. Cămpuchia là một nước có lịch sử lâu đời, với những thay đổi, những thăng trầm đột ngột nhất. Vào thế kỷ X nó là đế chế hùng mạnh nhất ở ĐNA, và sự phồn vinh, giàu có của nó còn biểu lộ ở các di tích Angkor thuộc loại kỳ quan của kiến trúc nhân loại. Lúc đó, đạo Bà La Môn là chính, và ngôn ngữ bác học là tiếng Sanskrit. Sau đó, đế chế sụp đổ trước cuộc xâm lăng của Xiêm, thủ đô chuyển sang Phnom Pênh, đạo Phật tiểu thừa trở thành quốc giáo, tiếng Pali gọi là Nam Phạn thay thế tiếng Sanskrit gọi là Bắc Phạn, đồng thời văn tự Khơme ra đời cùng với văn học Khơme.

VHDG Khơme là nền tảng của văn học Khơme trong đó thể hiện một sự dung hợp độc đáo với các truyền thống VHDG Ấn Độ được mọi tầng lớp nhân dân, kể cả vua chúa chấp nhận. Các vị thần chung của ĐNA, gọi chung là Neak Tà, tức là các thần bản thổ được thờ bên cạnh các vị thần gốc Ấn Độ, chỉ khác về tên gọi. Kali trong văn chương bác học được nhân dân gọi là Nang Khmau, Siva là Neak Tà Tám Đầu, còn Visnu gọi là Neak Tà Chuýthấtbai.

Các Neak Tà này là nhân vật chính của các huyền thoại về nguồn gốc vũ trụ, đất nước, và những nhân vật có công với nước, với quê hương chống ngoại xâm đều được thờ và huyền thoại của họ gắn liền với tên các con sông, các ngọn núi, các kiến trúc, điều ta cũng thấy ở Việt Nam. Không những thế, vì văn hóa Cămpuchia dành vai trò cho vũ, điêu khắc, hội họa một địa vị còn lớn hơn ở Việt Nam cho nên đâu đâu trên đất nước cũng thấy những kiến trúc, những bức tranh gắn liền với các huyền thoại, trong đó nét chính là yếu tố Ấn Độ hoà nhập vào yếu tố bản địa chứ không đối lập nhau.

Ta có thể dẫn huyền thoại về Kaunđinya, một người Bà La Môn Ấn Độ lấy nàng Sôma con vua Rắn lập nên nước Phù Nam, các sự tích về Angkor Vát và Vát Nokor, sự tích chùa Nokor Batay. VHDG Cămpuchia cũng có những truyện kể về những đứa con mồ côi được hạnh phúc như kiểu Thạch Sanh: Nêang Cantóc và Nêang Song AncátHai anh em mồ côiThằng ăn trộm lương thiện... những truyện về những con người và những con vật thông minh lừa được mọi đối tượng có địa vị và thế lực hơn mình: Thmênh ChâyThằng LêuCon thỏChàng Sọ dừa, những truyện cổ tích về động vật nêu lên những đặc điểm tiêu biểu về từng loại vật: Tại sao ngựa không bay được nữa? Hươu, rùa và vẹtCon cò thông minh. Con thỏ là nhân vật khôn ngoan chủ chốt của rất nhiều tộc người ở ĐNA.

Jayavarman II, người giành lại độc lập đất nước từ đế chế Srijivaya dựng lên nhà nước Angkor theo đạo Bà La Môn và thiết lập chế độ Vua-Thần. Trong thời kỳ này Riêm Kê được viết sao phỏng theo sử thi Ramayana. Từ thế kỷ XV trở đi, người Cămpuchia phải rời bỏ Angkor và quên hẳn thành phố này, ảnh hưởng Bà La Môn bị Phật giáo tiểu thừa thay thế, và Mahabharata là cơ sở cho nhiều vở kịch.

Trong hoàn cảnh đạo Bà La Môn làm chủ, Cămpuchia là đất nước của vô số bi ký. Người ta tìm thấy được khoảng 1052 bia làm cơ sở cho lịch sử Cămpuchia bằng các ngôn ngữ Sanskrit, chữ Pali và Khơme với nội dung ca ngợi vị vua và các qúy tộc đã xây dựng các điện thờ, đồng thời trình bày hoàn cảnh đất nước, nhân dân trong thời gian dựng điện thờ. Khi Phật giáo thay thế Bà La Môn giáo, các câu chuyện trong Jataka làm thành cốt truyện cho nhiều tác phẩm và truyện thơ trở thành thể loại chính, tập trung chung quanh hai đề tài chủ đạo là tôn giáo và tình yêu.

Đề tài tôn giáo thường xuất phát từ những tác phẩm Ấn Độ như Riêm KêPrêchănavôngXôpbôxâtthiCôrông Xôphẹ MứtPanasa Jataka gồm 50 kiếp của Đức Phật, Nàng Ca Cây tuy lấy đề tài từ Jataka nhưng lại nói đến một người dàn bà đẹp khát khao tình yêu, nạn nhân của cuộc sống cung đình, không chung thủy với chồng, chết trong cô đơn mở đầu cho nhiều truyện kể về những trắc trở của đôi trai gái trong tình yêu, điều mà ta thấy trong Chau Sratốp Chế (Người tự trang điểm bằng bẹ lá chuối) của Yo Nghin, Phôcaculcôma của Ôcnha Khleng Nong, Nàng Uttamit trong đó đôi bạn cuối cùng lấy được nhau sau nhiều trở lực cũng giống như nhiều truyện thơ Việt Nam. Riêng Tum Tiêu kể lại một câu chuyện có thực vào thế kỷ XIV, được nhiều người viết thành nhiều tác phẩm. Tác phẩm Truyện Tiêu Êk hiện nay do Uk Nha Viphularajasena Nakon (1847-1947) viết, người đã từng học ở Pháp và viết nhiều tác phẩm. Ông biên soạn nó theo Tum Tiêu của Som lại kết thúc bằng cái chết của chàng Tum và nàng Tiêu thu hút nhân dân bởi chính hoàn cảnh thực tế của người dân Cămpuchia bị bọn giàu có chà đạp nên lôi cuốn mọi người.

Tuy Cămpuchia bị cai trị từ năm 1863, nhưng thực dân chú trọng chính về khai thác kinh tế (lúa gạo, đá qúy, cao su...) nên tuy có một vài thành phố như Phnom Pênh ra đời nhưng ảnh hưởng văn hóa phương Tây không lớn. Việc Latinh hóa chữ Khơme không thể thực hiện được do sự chống đối mạnh mẽ của các nhà sư. Đến năm 1934 cả nước chỉ có 23 trường với 7.204 học sinh từ trung học trở xuống. Những nhà văn sau này như Rim Kin, Nu Hách, Hem Jeng đều xuất thân từ trường trung học Sisovat của Pháp ở Phnôm Pênh, và một số ít những trí thức được đào tạo ở Pháp. Mặc dầu thế đã hình thành nên cơ sở cho một tầng lớp độc giả mới và cùng với nó là một nền văn học chịu ảnh hưởng phương Tây. Từ sau năm 1930, tầng lớp trí thức Cămpuchia do sự gắn bó với văn hóa dân tộc, chống thực dân và có khuynh hướng dân chủ, đã tập hợp lại quanh tờ báo Nokor Vat.

Thể loại tiểu thuyết văn xuôi ra đời, được đánh dấu bởi Xô Phát (1938) của Rim Kin. Nó mở đầu cho loạt tiểu thuyết tình trong đó đề tài tình yêu vốn là quen thuộc kết hợp với những băn khoăn nội tâm về sự chênh lệch trong địa vị xã hội, ám ảnh về tính chất mong manh, dễ vỡ, không thể kết thúc bằng hôn nhân, nói lên tình trạng cô đơn của các nhân vật, điều không thấy trong VHDG trước đây mà do ảnh hưởng phương Tây. Đó là những nét chung trong loạt tiểu thuyết tình yêu mới như Nước hồ Tônlê Sap (1930) của Kim Hắc, Hoa tàn hoa nở (1941) của Nu Hách, Hoa hồng Paylin (1943) của Nhốc Them... Nó phản ảnh quá trình đô thị hóa đã bắt đầu với những xung đột giữa mới và cũ, giữa hai thế hệ cha mẹ và con cái, những điều ta thấy ở mọi xã hội phương Đông nhưng vì tình hình xung đột xã hội ở Cămpuchia chưa gay gắt cho nên dù có một vài nhân vật đi đến chuyện tự sát hay giết người câu chuyện vẫn chưa thực sự rời khỏi những khuôn khổ Phật giáo.

Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc mà Việt Nam tiến hành đã ảnh hưởng tới Cămpuchia, và phát triển sau khi Đảng nhân dân cách mạng ra đời vào năm 1951, dẫn tới sự xuất hiện những tiểu thuyết xã hội: Giai cấp (1951) của Chay Chun, Malia Đuông Chất (1952) của Nu Hách, tiểu thuyết nêu lên nhân vật Tikhivut đấu tranh cho dân tộc, vượt mọi ham muốn của tình yêu. Khuynh hướng phê phán xã hội tiếp tục trong giai đonạ 1954-1969, trong đó biểu lộ xu hướng đấu tranh cho phúc lợi của người lao động, với bộ ba tiểu thuyết của Un Thốc chủ bút báo “Phnôm Pênh” (Sim-người lái xeCuliThầy giáo làng) của Lấc Xari trong Phận đàn bà. Tiếc rằng các tác phẩm xuất bản trong giai đoạn này cũng như trong giai đoạn 1970-1975 đều bị bọn Pol Pốt phá hủy, để thiết lập một chế độ diệt chủng, phản văn hóa.

Từ năm 1979 đến nay, văn học Cămpuchia bắt đầu phục hồi. Nội dung chính của văn học, trong thơ cũng như trong văn xuôi là chống lại chế độ diệt chủng, khẳng định những giá trị các truyền thống văn hóa và VHDG. Điều này biểu hiện trong sự xuất hiện nhiều tập thơ và một số tiểu thuyết Mưa trong mùa nực của Noun Chan, Mặt trời mọc trên ngôi làng mới của Yok Kun, Những người băng qua bão tố của Kong Boun Choeun. Hai tác phẩm được giải nhất trong cuộc thi văn học năm 1989, đều của Pal Vannariraks là: Tuần trăng khuyết đã quaChân trời hy vọng mới.

Văn học Cămpuchia, khác với văn học các nước ĐNA, đang trên con đường phục hồi. Điều đó có thể khẳng định là VHDG của nước này vốn rất mạnh mẽ sẽ có điều kiện tạo nên một nền văn học mới kết hợp được những giá trị cũ với những yêu cầu mới của thời hiện đại.

26. Bài trình bày trên đây dĩ nhiên không thể nào là đầy đủ. Người viết không phải là người am hiểu các văn học ở ngay ngôn ngữ bản địa mà mới chỉ dựa vào những công trình đã viết về văn học ĐNA lục địa để đưa ra một vài nhận xét khái quát theo cách nhìn của văn hóa học về một kiểu lựa chọn của văn học vùng này. Tuy vậy nó cũng cho thấy một nền văn học khu vực này rất khác các nền văn học phương Tây, Trung Quốc và Ấn Độ. Trong nền văn học này, VHDG đóng một vai trò chủ đạo và vẫn tồn tại dưới những hình thức, những thể loại có thể vay mượn ở các nền văn học khác. Do đó, việc nghiên cứu nền văn học của khu vực này cần phải được chú ý tới VHDG để tránh cách nhìn Âu châu luận. Cái nét chung của năm nền văn học là trách nhiệm với đất nước, người lao động, hạnh phúc gia đình và yên ổn trong cuộc sống, được cộng đồng qúy trọng rồi từ đó mới nâng lên tính duy lý, tính toàn nhân loại và giá trị cá nhân, những đóng góp của văn hóa phương Tây. Nó không tách cá nhân ra ngoài cộng đồng như văn học phương Tây. Những đặc điểm này chứng minh sự gắn bó của nó với VHDG

Nguồn: Viện Văn học

20170724. Senvhdg

1.       Văn học dân gian – sử sách dân gian

Các thể loại văn học dân gian ra đời ở Nam Bộ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng có thể được coi như là một pho sử dân gian viết về cuộc chiến đấu chống ngoại xâm đầy vinh quang và cũng đầy đau thương của dân tộc. Một cách tổng quát, có thể thấy được trong hầu hết nội dung các tác phẩm văn học dân gian ra đời vào nửa cuối thế kỷ XIX – nửa đầu thế kỷ XX thì tính lịch sử cụ thể là một đặc điểm hết sức nổi bật. Cùng với văn học viết, văn học dân gian đã phát huy được nhiệm vụ tuyền truyền cách mạng, cổ động lòng yêu nước, cổ vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân trong thời chiến và xây dựng đất nước trong thời kỳ hậu chiến. Từ các bộ sưu tập văn học dân gian ở các tỉnh miền Nam, có thể thấy rằng bộ phận văn học dân gian Nam bộ viết về đề tài kháng Pháp chiếm số lượng rất dồi dào thể hiện ở nhiều đề tài phong phú dưới nhiều thể loại đa dạng ở cả loại hình tự sự lẫn trữ tình trong các bộ phận nghệ thuật ngôn từ lẫn nghệ thuật diễn xướng dân gian. Tuy nhiên trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập đến những đóng góp của bộ phận nghệ thuật ngôn từ dân gian trong vai trò là những thể loại văn học truyền thống đã góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp như truyền thuyết về các cuộc khởi nghĩa và những người anh hùng chống Pháp, Vè lịch sử, Nói thơ Bạc Liêu, Thơ rơi, hò, ca dao, và các bài thơ kháng chiến…

Có thể thấy rằng, ở Nam Bộ, giai đoạn kháng chiến chống Pháp đầy gian nan của dân tộc dường như đã huy động được triệt để nhất tất cả những thể loại văn học dân gian nói chung vào mục đích hỗ trợ kháng chiến, đặc điểm nội dung của các tác phẩm văn học dân gian này tập trung viết về những sự kiện lịch sử tiêu biểu đã xẩy ra trong cuộc chiến, về tội ác của thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước trong chiến trường miền Nam, về công cuộc khai hóa văn minh tàn bạo của thực dân, về cuộc sống bị kìm kẹp đầy đau đớn và nhọc nhằn của quần chúng nhân dân trong thời kỳ thuộc địa… Văn học dân gian viết về đề tài kháng Pháp chính là những trang sử do nhân dân ghi lại, có thể phù hợp hoặc không phù hợp với chính sử, có thể cùng quan điểm hay trái quan điểm với chính sử nhưng tất cả sự kiện được ghi lại trong văn học dân gian là những sự kiện đã từng ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của dân chúng, hoặc những con người được lưu danh trong những trang sử dân gian cũng chính là những người anh hùng mà người dân đời đời tôn quý, về sau còn trở thành những linh thần trong tín ngưỡng của người dân miền Nam. Quần chúng nhân dân luôn có những trang sử của riêng mình, ghi lại cách nhìn riêng, cách đánh giá riêng của người dân đối với những cuộc chiến đã diễn ra trong lịch sử. Họ bày tỏ lòng yêu nước, lòng căm thù giặc hay ngợi ca những tấm gương hy sinh anh dũng theo cách của riêng họ.

Trong thời kỳ diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp, văn học dân gian Nam Bộ đã cùng với văn học cách mạng đảm đương nhiệm vụ tuyên truyền và cổ động chiến đấu, hỗ trợ nhiệm vụ tổ chức quần chúng nhân dân nâng cao ý thức về lòng yêu nước, xác định rõ kẻ thù và đồng lòng hỗ trợ chính quyền trong công cuộc đấu tranh giành lại độc lập tự do cho dân tộc. Nội dung cuả những bài thơ kháng chiến, ca dao hay vè lịch sử cung cấp thêm cho chúng ta nguồn tài liệu hết sức có giá trị mà có khi trong thời kỳ chiến đấu rối ren và phức tạp, chính sử đã không thể ghi chép kịp, không nắm bắt kịp. Một phần cũng là do giữa ngổn ngang những sự kiện trọng đại của vận mệnh quốc gia, chính sử chỉ có thể ghi lại những sự kiện, những trận đánh, những tấm gương anh hùng… có ảnh hưởng rộng lớn đến toàn thể đồng bào trong cả nước, những trận đánh nhỏ ở các địa phương, những sự kiện nhỏ lẻ, những người anh hùng nông dân vô danh… chính sử có khi bỏ qua vì không thể bao quát hết được tất cả. Mảnh đất đó dành cho các thể loại văn chương truyền miệng của dân gian, người dân ở mỗi địa phương chứng kiến, tham gia trực tiếp, nghe kể lại… và đã ghi chép lại, lưu truyền lịch sử theo cách của riêng mình, nóng hổi, kịp thời, nhanh nhạy và chân thật nhất, tuy nhiên những bài ca, vần thơ lịch sử ra đời trong những giây phút quyết liệt, sống còn ngắn ngủi ấy lại có sức sống vững bền trong lòng dân chúng. Bằng chứng là đã mấy mươi năm sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ đã trôi qua rất lâu thì những truyền thuyết, câu ca, bài thơ về kháng chiến ấy vẫn còn sống động và được kể lại bằng tất cả sự hào hùng, chân thực, qua giọng kể của người dân các tỉnh miền Nam trong những chuyến sưu tầm điền dã của chúng tôi.

2.       Một số thể loại văn học dân gian tiêu biểu viết về đề tài kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ

2.1.  Vè lịch sử 

Vè lịch sử ra đời trong cuộc chiến chống Pháp ở Nam Bộ có thể được xem như một thể loại báo chí chiến trường, một loại “khẩu báo” – báo chí truyền miệng, là một phương tiện tuyên truyền hữu hiệu tinh thần của cuộc chiến, ghi lại nhanh nhạy những sự kiện nổi bật diễn ra trong thời chiến, động viên quần chúng nhân dân tích cực đoàn kết trong mặt trận đấu tranh gian khổ của nước nhà. Trong lời nói đầu của bộ sưu tập Vè Nam Bộ, nhà nghiên cứu văn học dân gian Huỳnh Ngọc Trảng đã khẳng định rằng: “Ngay từ khi thực dân Pháp đánh vào Gia định, cùng với cuộc chiến đấu chống xâm lược, vè lịch sử đã nở rộ khắp Gia Định, Lục Tỉnh, những vấn đề thế sự đã nhường vị trí trung tâm cho những vấn đề lịch sử”(1). Nghĩa là bên cạnh đề tài kể vật kể việc và những đề tài thuộc phạm vi đời sống sinh hoạt hằng ngày ở các địa phương thì bây giờ, nội dung của vè đã tập trung vào các đề tài có tính lịch sử, cho thấy sự thay đổi nhận thức trong cả quá trình sáng tác lẫn lưu truyền và thị hiếu tiếp nhận của dân gian cũng đã nhanh chóng thay đổi theo điều kiện hiện tại của lịch sử nước nhà. Huỳnh Ngọc Trảng cũng cho rằng, sự chuyển đổi đề tài của vè từ thế sự sang lịch sử “có đặc điểm tương đồng với việc chuyển đổi đề tài từ ngâm vịnh thù tạc cổ điển sang đề tài yêu nước chống Pháp trong văn học viết Nam Bộ ở nửa cuối thế kỷ XIX”(2). Tức là song song với thay đổi nhận thức của lực lượng sáng tác trong văn học viết thì các nghệ nhân dân gian cũng đã hướng vào việc sáng tác và tuyên truyền nội dung các tác phẩm văn học dân gian sang đề tài đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

Nhìn chung nội dung của vè lịch sử Nam Bộ ra đời trong kháng chiến chống Pháp thường tập trung vào thể hiện ở các chủ đề chính như miêu tả lại, kể lại một cách chi tiết những sự kiện tiêu biểu trong kháng chiến hay trong thời kỳ đấu tranh tiền khởi nghĩa, kể tội thực dân Pháp và bè lũ tay sai, nhiều bài vè hướng dư luận vào vai trò lãnh đạo kháng chiến của Đảng, ca ngợi tấm gương sáng của lãnh tụ, bày tỏ lòng ngưỡng mộ và tiếc thương của nhân dân đối với các chiến sỹ anh hùng nhân dân. Ngoài ra còn có một nhóm những bài vè thể hiện tấm lòng của hậu phương đối với tiền tuyến, cuộc sống của nhân dân thời hậu chiến trong công cuộc thi đua yêu nước trên các mặt trận bình dân học vụ, xóa mù chữ, tăng gia sản xuất, ứng dụng công nghệ kỹ thuật mới vào sản xuất…

Đặc trưng của vè là tính sự kiện nóng hổi, kịp thời truyền đi được những tin tức mới nhất phục vụ sự quan tâm của dư luận, cho nên những sự kiện được kể lại trong vè thường là tức thì, ngày giờ và địa điểm xẩy ra sự kiện, tên họ hay chức vụ, hoàn cảnh của các nhân vật quan trọng có mặt trong sự kiện cũng thường được ghi lại một cách chi tiết. Những sự kiện được vè nhanh nhạy ghi lại và truyền đi trong thời kỳ này thường là những sự kiện có tác động nhiều đến cuộc sống của người dân ở một địa phương nào đó và ít nhiều có liên quan đến đời sống nhân dân ở các địa  phương lân cận. Đó có thể là một trận bố ráp của thực dân Pháp, trận đánh bom chìm tàu, trận phục kích của du kích ta vào đồn bốt giặc, hay sự kiện dân thường bị Pháp và tay sai đàn áp, bắt bớ, sự kiện lính Pháp phá đường, đốt trường học, giết sư, đốt chùa… Tất cả những sự kiện lớn nhỏ trong thời kỳ này có liên quan đến kháng chiến đều được ghi chép lại tỉ mỉ và truyền đi nhanh chóng từ người này sang người khác, từ địa phương này sang địa phương khác. Một số bài vè ghi lại các sự kiện lịch sử nổi bật gây ảnh hưởng không chỉ địa phương nơi xẩy ra sự kiện mà còn các địa phương lân cận hay toàn miền Nam và rộng ra là cả nước như  Vè Nam Bộ kháng chiến, Vè Cù lao Phong Nẫm, Vè anh hùng Trương Định, Vè thảm sát 1959, Vè chạy giặc năm Ất Tỵ, Vè trận Xẻo Me, Vè cách mạng Mậu thân

Chẳng hạn như bài vè Trước họa giặc Pháp dưới đây miêu tả viễn cảnh điêu tàn trong vận mệnh chung của dân tộc trước cảnh đàn áp của thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước cùng với những lầm than của quần chúng nhân dân:

Trời Nam đương hội mở mang/ Bỗng nhiên mắc lũ giặc loàn Tây Dương

Chó săn có lũ thằng Tường/ Thằng Lộc, thằng Tấn, thằng Phương một đoàn(3)

Xóm làng đình miễu tan hoang/ Thành xiêu vách đổ muôn vàn đắng cay

                                                       (Vè trước họa giặc Pháp)

Đồng thời cũng có những bài vè kể lại các sự kiện diễn ra ở các địa phương cụ thể, gây xáo trộn đến cuộc sống thường nhật của dân chúng như việc thực dân cưỡng ép nhân dân ở địa phương lao động khổ sai đào đường đặt bốt, phục vụ cho cuộc chiến chiếm đóng miền Nam Việt Nam của chúng:

Không ai độc ác cho bằng tụi thực dân Pháp

Tụi thực dân Pháp ở Sóc Trăng/ Chúng nó cả gan sửa con đường Đại Ngãi

                                                (Đại Ngãi, 1848)

Bên cạnh những bài vè có tính chất tự sự kể lại những sự kiện vừa diễn ra như những trận đánh, trận càn bố, bắt bớ và đàn áp dân chúng trong chính sách kinh tế chính trị tàn bạo của thực dân Pháp thì còn có những bài vè mà đọc lên nghe như là những lời tâm sự, lời oán than của người dân bị mắc ách gông xiềng, tiếng than về cuộc sống khốn khổ của quần chúng hiền lương trước chính sách khai thác thuộc địa triệt để của thực dân. Có thể thấy nội dung của những bài vè kể lại những trận càn bố, bắt bớ dân chúng miền Nam cùng các chính sách kinh tế chính trị tàn bạo của thực dân chính là những bản cáo trạng vạch trần tội ác của quân xâm lược một cách mạnh mẽ và rõ nét. Nội dung vừa chân thực vừa bi thương của những bài vè này đã gợi lên nỗi căm phẫn cực độ của đồng bào trước những tội ác lịch sử của giặc ngoại xâm, đồng thời cũng tiếp thêm cho nhân dân sức mạnh, truyền cho người đọc những cảm xúc quyết tâm cùng toàn thể đồng bào đoàn kết chiến đấu, động viên quần chúng vật lộn với kẻ thù trong những năm dài bị đô hộ.

Thực dân ác quá/ Bóc lột thẳng tay/ Rốt cuộc dân cày/ Đưa lưng ra chịu

Gia đình thống khổ/ Bữa đói bữa no/ Bông súng, củ co/ Ăn cho đầy ruột

                                 (Vè Tố cáo giặc Tây)

Pháp làm quá ngặt/ Khủng bố nước ta/ Cướp của đốt nhà/ Toàn dân hãm hiếp

Ruồng bố liên tiếp/ Lại thêm máy bay/ Nó ở bên Tây/ Qua đây cướp bóc

                                  (Vè kháng chiến)

Không chỉ phải đối diện với kẻ thù khác máu tanh lòng da trắng mắt xanh là Tây bang xa xôi mà người dân miền Nam còn phải chịu sự đàn áp dã man của chính đồng bào ruột thịt của mình, là những tên Việt gian bán nước đã cam tâm làm tay sai cho giặc, quay lưng lại bắn giết chính cha mẹ, anh em, họ hàng, làng xóm của mình. Đối với loại thù này, quần chúng vừa căm phẫn vừa khinh bỉ đến tột cùng:

Trách ai quái đản vô tình/ Việt Nam là nước của mình xưa nay

Nỡ nào mà lại ra tay/ Nước mình mình đánh mà hay nỗi gì

………

Trời xui khiến gặp bọn Việt gian tàn ác/ Vừa ra tay tận sát đồng bào

Gan dạ nào mi chẳng xót đau/ Xét cho kỹ mi thua loài cầm thú

                                (Vè kể tội Việt Gian)

Ơ này lũ nịnh theo Tây/ Khác nào thú vật mạng vàng đổi cây

Cả kêu bớ lũ quân xâm/ Đem thân bán nước, đáng hàng Việt gian

                                (Vè quốc sự)

Vè lịch sử ra đời trong cuộc chiến chống Pháp ở miền Nam còn là những bài ca ghi lại những tấm gương anh dũng của những người anh hùng nông dân ở chính địa phương mà họ đang sống như anh Hoặc, liệt sỹ Phạm Văn Khiết, người chiến sỹ Tiểu La Thành… đã hy sinh trong những trận đánh nhỏ ở các địa phương, không vang danh cả nước nên không được nhắc đến trong chính sử, tuy nhiên lại được ghi chép lại đầy đủ trong các bài vè kháng chiến – những trang sử được viết nên bởi những người dân lao động, những con người trực tiếp tham gia cuộc chiến và trải qua thời kỳ lửa khói binh đao của tổ quốc. Nhóm vè lịch sử có nội dung ca ngợi những tấm gương hy sinh anh dũng của những người chiến sỹ nông dân – những người thật việc thật đã ghi dấu và sống mãi trong lòng quần chúng lao động cùng những thắng lợi của quân và dân ta trong nhiều trận đánh lớn nhỏ trong cuộc chiến không cân sức với kẻ thù có thể được xem như là “tiếng nói ca ngợi sức mạnh của giai cấp vô sản trẻ tuổi, sớm đặt cho mình sứ mạng lãnh đạo cách mạng”… Đồng thời trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp gian khổ của nhân dân miền Nam, vè lịch sử đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trong việc cổ vũ và động viên tinh thần đoàn kết đấu tranh của nhân dân bởi vì “đối với vè lịch sử, tác giả của nó không chỉ là nhân chứng khách quan mà thậm chí có khi còn là người trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại giai cấp thống trị tàn bạo, chống lại ngoại xâm. Tác phẩm của họ là một bộ phận hữu cơ của công luận và là vũ khí tinh thần của phong trào đấu tranh dân chủ và dân tộc”(4).

2.2.         Nói thơ Bạc Liêu

“Nói thơ Bạc Liêu là hình thức diễn xướng các bài lục bát có nội dung cổ động và thông tin do nghệ sĩ ca nhạc tài tử Thái Đắc Hàng sáng tạo vào năm 1946. Từ Bạc Liêu, điệu nói thơ này phát triển và lan rộng khắp miền Tây, đến miền Trung, rồi miền Đông Nam Bộ. Do yêu cầu tuyên truyền và cổ động kháng chiến, trong thời kỳ chín năm (1945 – 1954) hình thức nói thơ Bạc Liêu được sử dụng phổ biến và mang cả tính chính luận tự sự lẫn trữ tình”(5). Nguồn gốc ban đầu của bài nói thơ Bạc Liêu có thể chỉ là những bài thơ có nội dung nói về kháng chiến được các nhà thơ sáng tác và được diễn xướng dưới một làn điệu dân ca mới như các bài Mười thương chiến sĩ, Tẩy chay giấy bạc xanh xăng, Thương anh Vệ quốc quân, Khuyên chồng ra mặt trận, Nam kỳ khởi nghĩa, Cổ động thanh niên tòng quân… tuy nhiên sau khi được truyền miệng qua nhiều người, nhiều địa phương khác nhau, các tác phẩm này đã không còn giữ được hình thức diễn xướng theo thể nói thơ như nguồn gốc ban đầu của nó nữa, đồng thời tên của các tác giả cũng rơi rụng dần đi, các bài nói thơ trở thành tài sản chung của tập thể, biến thể thành nhiều dị bản khác nhau và được lưu giữ trong trí nhớ và lưu hành một cách sống động trong các sinh hoạt của quần chúng nhân dân. Đồng thời cũng có trường hợp, những bài thơ dân gian viết về kháng chiến, sau khi ra đời và được lưu truyền trong dân gian, lại được các nghệ nhân dân gian diễn xướng theo thể nói thơ Bạc Liêu và thế là thành một bài nói thơ nổi tiếng khắp vùng đất Nam Bộ trong thời kỳ mà nó ra đời và còn tồn tại cho đến ngày nay. Nói thơ Bạc Liêu còn có thể là những bài thơ khuyết danh viết theo thể lục bát, nội dung phản đối cuộc chiến tranh đô hộ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng của người dân vùng đất phương Nam thành đồng tổ quốc, hay ngợi ca cuộc sống của những người mẹ người vợ chiến sĩ ngày đêm hăng say tăng gia sản xuất để phục vụ tiền tuyến và giữ vững hậu phương vững chắc.

Thái Đắc Hàng là một nghệ sĩ vọng cổ, ông sinh năm 1920 tại Bạc Liêu, những năm đầu 1950, có lệnh cấm ca vọng cổ vì cho rằng đây là thể loại âm nhạc buồn bã thê lương không phù hợp với không khí thời chiến. Để tưởng nhớ âm điệu của thể loại vọng cổ, ông Thái Đắc Hàng đã sáng tạo ra một làn điệu dân ca mới, gọi là “nói thơ Bạc Liêu”, đồng thời ông sáng tác luôn lời bài nói thơ đầu tiên có nhan đề  Mười thương:

Má ơi chiến sĩ của mình/ Đánh Tây giỏi quá khiến tình con thương

Một thương chiến sĩ sa trường/ Hai thương chiến sĩ can trường giết Tây

Ba thương lặn lội bùn lầy/ Bốn thương súng nốp vác hoài trên vai

Về sau, bài nói thơ này được truyền đi khắp nơi với một giọng điệu da diết khơi gợi lòng yêu thương quê hương đất nước và lòng tự hào về những người chiến sỹ anh hùng đang hằng ngày hy sinh xương máu cho hòa bình ấm no của dân tộc. Từ quá trình truyền miệng trên khắp chiến trường và khắp thôn cùng ngõ hẹp, bài nói thơ cũng dần xuất hiện nhiều dị bản, thay đổi vài câu thơ trong bài nhưng tinh thần chung vẫn là đủ mười lý do cho cô gái quê một lòng yêu thương và chờ đợi người chiến sỹ đánh Tây thành công trở về.

Bài nói thơ Mẹ chiến sỹ khuyên con tòng chinh cũng là một bài nói thơ nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến, lời ca trong bài là đại diện cho tiếng lòng của bao người mẹ Việt Nam anh hùng vượt qua được những tình cảm cá nhân, một lòng khuyên con tòng chinh ra chiến trường giúp dân giúp nước, với những lời lẽ chân thật nhưng cũng không kém phần bi tráng và hào hùng:

Thà là chết ở chiến trường/ Còn hơn sống ở trên giường thê nhi

Phản công súng nổ đì đùng/ Kìa bao chiến sĩ anh hùng xông pha

Giang san nghĩa nặng hơn nhà

                                                               (Mẹ khuyên con tòng chinh)

Bên cạnh lời của người mẹ Việt Nam anh hùng trong Mẹ khuyên con tòng chinh,  là lời của những người vợ chiến sỹ trung hậu đảm đang trong bài nói thơ Tiễn chồng ra trận. Những người đàn bà tưởng là yếu đuối và nhỏ bé đó lại là những con người bền gan với nước non, sẵn sàng coi nhẹ tình phu thê, đặt tình nhà sau nợ nước. Không chỉ động viên chồng ra tiền tuyến đánh Tây, họ còn ở hậu phương hăng say chiến đấu và sản xuất để phục vụ cho cuộc chiến sống còn của dân tộc. Họ là những người đàn bà nước Việt anh dũng kiên trung, luôn là hậu phương vững chắc cho đấng trượng phu ra trận vững vàng tay súng giết thù, hy sinh xương máu cho độc lập tự do cho dân tộc, cũng là để bảo vệ quê hương, làng xóm thân yêu nơi có mẹ cha và người vợ cùng những đứa con đang ngày đêm mòn mỏi chờ mong họ:

Mồ hôi đổ xuống ruộng bờ/ Mới thành hạt lúa đổ kho lần này

Chiến trường bộ đội diệt Tây/ Hậu phương xin giữ kho đầy lúa thơm

……..

Một đồng là một trăm xu/ Tiễn chồng lên chốn chiến khu nghìn trùng

Chàng đi giết giặc tranh hùng/ Thiếp về ngày tháng gánh gồng nuôi con

Mong chàng trả nợ nước non/ Giờ đây phận thiếp sớm hôm chu toàn

                                                                          (Tiễn chồng ra trận)

2.3.          Ca dao kháng chiến chống Pháp

Ca dao viết về đề tài kháng chiến chống Pháp được xếp vào mảng ca dao lịch sử bên cạnh mảng ca dao viết về tình yêu quê hương đất nước, tình yêu nam nữ hay tình yêu gia đình… Lịch sử nước ta từ thời Văn Lang - Âu Lạc đến 1000 năm Bắc thuộc hay giai đoạn bị giày xéo dưới sự cai trị của đế quốc Mỹ và thực dân Pháp đều được ghi lại đầy đủ trong ca dao lịch sử. Khái niệm ca dao lịch sử ở đây dùng để chỉ “những câu và những bài ca ngắn, lấy đề tài ở những sự kiện lịch sử, những biến cố lịch sử được ghi lại trong ca dao lịch sử là những biến cố ít nhiều có ảnh hưởng đến đời sống nhân dân đương thời”(6). Tuy nhiên khác với các thể loại văn học dân gian khác như vè lịch sử và truyền thuyết hay thơ ca kháng chiến, ca dao lịch sử không làm công việc miêu tả lịch sử, kể lại chi tiếp các sự kiện, biến cố đã diễn ra trong một thời điểm lịch sử tại một địa phương nào đó. Mà với tính chất là một thể loại trữ tình dân gian, ca dao lịch sử chỉ nhắc tới những sự kiện, những vị anh hùng đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của dân tộc với mục đích là để bày tỏ thái độ, quan điểm hay tình cảm cảm xúc của mình đối với sự kiện hay con người trong lịch sử đấu tranh của dân tộc mà thôi.

Chẳng hạn như cùng để lưu lại lịch sử về một người anh hùng có công trạng trong cuộc chiến kháng Pháp ở miền Nam là Thiên Hộ Dương thì thể loại vè ghi lại bằng những lời tự sự một cách khách quan, không bày tỏ thái độ tình cảm của người viết đối với nhân vật được kể lại trong sự kiện:

Nam kỳ có tướng Quan Thiên/ Cùng quan lớn Định cầm quyền đánh Tây

                                                                                                             (Vè Quản Thành)

Ngược lại, khi kể về hoàn cảnh xuất thân và tước vị của Thiên Hộ Dương trong lực lượng nghĩa quân của Trương Định, hai câu ca dao dưới đây đã bao hàm cảm xúc tình cảm của người sáng tác đối với vị tướng mà họ hàm ơn và tôn kính như một vị anh hùng đã góp phần mang lại ấm no cho dân tộc:

Chiều chiều mây giục gió vần/ Cảm thương Thiên Hộ xả thân cứu đời

Từ việc bày tỏ tình cảm của nhân dân đối với vị tướng Thiên Hộ Dương được thể hiện trong ca dao cũng đã cho thấy thái độ riêng, tình cảm riêng của quần chúng nhân dân miền Nam trong khi đánh giá về công trạng của những vị anh hùng trong kháng chiến. Khi nghiên cứu nhóm truyền thuyết về các nghĩa quân trung thành dưới trướng của Trương Định trong thời kháng chiến chống Pháp, nhà nghiên cứu Võ Phúc Châu cho rằng: “trong chính sử Thiên Hộ Dương bị triều đình gọi là giặc, thực dân Pháp gọi là kẻ phiến loạn, chỉ có văn học dân gian là ca ngợi người anh hùng”(7).

Trương Định cũng là một trong những người anh hùng chống Pháp được nhân dân miền Nam tôn kính và hàm ơn hết mực, không chỉ được kể đến nhiều trong truyền thuyết mà tên ông còn được nhân dân miền Nam nhắc lại trong ca dao với nhiều từ ngữ ngợi ca, kính trọng:

Gò Công anh dũng tuyệt vời/ Ông Trương đám lá tối trời đánh Tây

Hay

Phất  cờ chống nạn ngoại xâm/ Trương công nghĩa khí lẫy lừng trời Nam

Không chỉ ghi lại và bày tỏ thái độ cảm xúc về các sự kiện hay những người anh hùng trong kháng chiến mà ca dao lịch sử ở miền Nam thời kỳ này còn bày tỏ thái độ căm ghét của người dân đối với thành phần Việt gian bán nước cầu vinh, nhẹ thì trách móc như trong chuyện hờn dỗi của gái trai,

Anh mà đi với thằng Tây/ Em đành phải dứt hết dây nghĩa tình

……

Uổng công tháng đợi năm chờ/ Tưởng chàng có nghĩa ai ngờ theo Tây

Vùi thân trong đám bùn lầy/ Nước nào rửa sạch nhục này chàng ơi

Nặng thì chửi mắng và nguyền rủa bọn đầu Tây làm kẻ chỉ điểm cho giặc, đan tâm tàn sát đồng bào máu thịt của mình:

Cha đời mấy đứa theo Tây/ Mồ ông, mả bố, voi dày biết chưa

Hay lồng trong những câu ca dao trao gởi tình cảm gái trai là chuyện vận nước lâm nguy, sự chia xa thấy trước do họa giặc Pháp, qua đó cũng đồng thời ghi lại sự kiện thực dân Pháp đã chiếm đóng dần từng phần lãnh thổ của miền Nam Việt Nam:

Giặc Tây đánh đến Cần Giờ/ Biểu em đừng nhớ đừng chờ uổng công

 Hoặc bóng gió tình cảnh bi thương của người nông dân Nam Bộ cả đời chỉ biết chân chất làm ăn lại phải hứng chịu làn tên mũi đạn của quân Pháp xâm lăng thông qua hình ảnh con cò lặn lội kiếm ăn mà vẫn không thoát được súng đạn của quân thù:

Con cò mày đậu cành tre/ Thằng Tây nó bắn cò què một chân

Cuộc chiến kháng Pháp không chỉ hiện diện trong nội dung của các câu ca dao hay những bài dân ca của dân tộc Kinh ở vùng đồng bằng Nam Bộ mà cũng có không ít những câu hát ra đời từ trong lòng dân tộc thiểu số ở miền Đông, cũng thấm đẫm một tình yêu nước mãnh liệt, quyết chiến đấu chống lại thực dân trong một tinh thần đoàn kết một lòng với nhân dân cả nước dưới ngọn cờ lãnh đạo của giai cấp vô sản

“…Con gái đánh giặc bằng chày giã gạo/ Con trai đánh giặc bằng dao, bằng mác

Tất cả đứng lên như bông lau bông lách/ Giết cho bằng được thằng Tây…”(8)

2.4.  Truyền thuyết về người anh hùng kháng chiến chống Pháp

Chỉ trong một giai đoạn lịch sử ngắn ngủi nhưng đầy gian khổ và hào hùng trong kháng chiến chống Pháp từ 1958 đến 1918, vùng đất phương Nam sinh sau đẻ muộn lại sản sinh ra biết bao nhiêu những người con ưu tú và dũng mãnh với trái tim và nghị lực phi thường trong cuộc chiến đấu một mất một còn với giặc Pháp để đòi độc lập tự do cho dân tộc. Công trạng, hành trạng và lý do kết thúc sự nghiệp cách mạng của những người anh hùng miền Nam giai đoạn kháng Pháp đã được truyền thuyết ghi lại rất tỉ mỉ dưới nhiều bản kể khác nhau. Những người anh hùng luôn được người dân Nam Bộ nhắc đến trong truyền thuyết với lòng biết ơn không nguôi mà ta có thể kể đến là các vị thống lĩnh nghĩa quân đứng lên giành độc lập chủ quyền như Trương Định, Thiên Hộ Dương, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân…

Xung quanh truyền thuyết về những người anh hùng này còn có biết bao câu chuyện về những nghĩa quân hoạt động dưới trướng của họ, có cả đàn ông lẫn đàn bà, là những cánh tay đắc lực đã phò tá và cùng họ sống chết một lòng trong sự nghiệp chung. Những vị anh hùng này còn nhiều người chưa được tổ quốc ghi công, chưa được nhắc đến trong sử sách vì chính sử có thể còn nhiều khắc khe trong việc đánh giá công trạng và ghi tên họ trong những trang sử vàng của lịch sử quốc gia nhưng trong lòng nhân dân họ mãi mãi là những con người bất khuất đáng tôn kính. Nhân dân có thể nhìn rõ, thấy rõ và đánh giá đúng chiến công của họ vì chính người sáng tác và lưu truyền truyền thuyết cũng là những người trực tiếp tham gia vào trận chiến và còn có thể trực tiếp chứng kiến hành trạng của những người anh hùng này, hình ảnh của các vị tướng, phó tướng hay phu nhân của những vị tướng đó có khi mãi mãi khắc sâu trong trí nhớ của người miền Nam qua nhiều thế hệ mai sau

Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ, không chỉ kể về nguồn gốc xuất thân, hành trạng, chiến công và sự ra đi hay kết thúc sự nghiệp của những người anh hùng để lưu danh sử sách mà còn để củng cố niềm tin về những huyền tích, về cái kỳ ảo được kể lại trong truyền thuyết, về sự huyền diệu trong công đức hành trạng của người anh hùng… Người dân ở các địa phương nơi xuất thân hay mất đi của người anh hùng thường còn gắn liền những truyền thuyết đó với các chứng tích văn hóa nào đó như địa danh ra đời, địa danh xẩy ra trận đánh, lăng mộ của người anh hùng, lễ hội tưởng niệm công đức và ghi nhớ công lao to lớn của người anh hùng được tổ chức hàng năm ở các địa phương. Chẳng hạn hàng năm vào ngày 19 và 20 tháng 8, lễ giỗ người hùng Trương Định được tổ chức tại Gò Công (Tiền Giang). Truyền thuyết về ông kể lại rằng sau khi đã bắt được Trương Định sau nhiều tháng ngày ráo riết truy lùng, vào ngày 27 tháng 10 năm 1868 giặc lập pháp trường để xử tử ông. Tuy nhiên vì không tên lính nào dám ra tay nên chúng đã sai một thằng say rượu chém đầu viên tướng soái. Tương truyền rằng tuy bị chém nhưng đầu ông chưa đứt, máu từ cổ phun ra như cầu vồng. Mắt ông mở to, nhìn thẳng vào kẻ chém mình khiến nó ngã lăn ra tắt thở. Mắt ông nghiêng về bên phải, một loạt tên Pháp và tay sai ngã xuống. Mắt ông nghiêng bên trái, một loạt khác lìa đời. Bọn Pháp hốt hoảng vội cắt rời đầu ông, đem chôn kín một nơi. Đồng thời trong một truyền thuyết khác về Trương Định cũng ghi lại rằng, nơi ông ngã xuống là một khoảng đất trống, nay thuộc ấp 3, xã Tân Phước, huyện Gò Công Đông. Từ ngày Trương Định hy sinh, dân địa phương gọi đó là “khuôn đất Vinh”, về sau đào ao lấy nước gọi là “Ao Vinh”. Cũng tại nơi đây còn có 2 ngôi mộ, nhân dân vùng ấy cho rằng đó là hai ngôi mộ của nghĩa quân Trương Định(9).

Trong dân gian cho đến nay vẫn còn lưu lại bài Vè Trương Định với giọng điệu hào hùng khi kể về hành trạng, sự nghiệp và những chiến công của người anh hùng được toàn thể nhân dân miền Nam tôn kính này:

Kể từ Tây tới đến nay/ Giang sơn gần thuộc về tay người ngoài

Trương Công hùng lực thao tài/ Quyết đem binh mã thử vài trận chơi

Nghĩa thanh sấm động nhức trời /Biết bao hào kiệt đồng lời thệ minh

 Ở di tích Gò Tháp, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, vào ngày rằm tháng 11 âm lịch hàng năm là lễ giỗ của hai vị anh hùng dân tộc Thiên hộ Võ Duy Dương và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều được tổ chức hết sức trọng thể. Trong lễ giỗ hai ông người ta cũng không quên nhắc lại các giai thoại và những câu ca về người tướng lĩnh đại tài này:

Ai về Đồng Tháp mà coi/ Mả ông Thiên Hộ trăng soi lạnh lùng

Bà con đùm đậu quanh vùng/ Tháng giêng ngày giỗ xin đừng ai quên

Hay vào các ngày từ 26 đến 28 tháng 8 âm lịch, lễ giỗ của anh hùng nguyễn Trung Trực được tổ chức long trọng tại thành phố Rạch Giá của tỉnh Kiên Giang, Ngày 18 tháng 5 lễ giỗ Thủ Khoa Huân được tổ chức ở Mỹ Tho và Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang. Những ngày giỗ của các vị anh hùng này luôn luôn thu hút hàng ngàn người người dân ở các tỉnh thành Nam Bộ kéo đến dự lễ giỗ, bày tỏ lòng biết ơn và làm công đức.

Trong nhóm truyền thuyết kháng Pháp ở Nam Bộ còn có những câu chuyện về những người anh hùng cũng đã đóng góp không ít công lao và hy sinh xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc nhưng cho đến nay vẫn còn vô danh trong sách sử. Như những câu chuyện kể về mười tám nghĩa binh trung thành luôn theo sát phò tá Trương Định như  phó tướng Bình Tây Nguyễn Nhựt Chi, Trịnh Viết Bàng, Trương Điền, Trần Văn Thiện, Võ Đăng Được…Hay nổi bật lên là truyền thuyết về liệt nữ Trần Thị Sanh – người vợ thứ của Trương Định là người đã cung ứng tiền bạc cho Trương Định khai khẩn đất hoang vùng Gia Định, tạo nguồn hậu cần cho khởi nghĩa. Bên cạnh đó còn có những người đàn bà khác như bà Lưu, cô Hai Bến Nghé… cũng là những người phụ nữ mưu trí và gan dạ giữ vai trò hậu cần hỗ trợ lớn lao cho Trương Định trong thời kỳ kháng chiến. Theo phò tướng Thiên Hộ Dương có ông lực điền Phòng Biểu một vị tướng tài được nhân dân nhắc đến một cách tôn quý trong truyền thuyết. Hay các truyền thuyết không kém phần huyền bí vào hào hùng về những nhân vật anh hùng như Bà Điều, Bà Đỏ - nghĩa quân thân tín của Nguyễn Trung Trực, hay chuyện tướng cướp hoàn lương Sáu Hải – người đánh mõ trung thành của Thủ Khoa Huân cũng được lưu truyền rộng khắp trong các tỉnh thành Nam Bộ.

Nhận xét chung về đặc trưng của thể loại truyền thuyết về người anh hùng chống Pháp được sản sinh ra tại vùng đất Nam Bộ, nhà nghiên cứu Võ Phúc Châu cho rằng: “Song hành với chính sử, bổ sung cho chính sử và khác chính sử, truyền thuyết dân gian Nam Bộ đã kịp thời lưu giữ, theo cách của mình, tất cả các nhân vật và sự kiện làm nên lịch sử vùng đất mới, nó dự phần khắc sâu thêm những phẩm chất truyền thống của con người Việt Nam, đồng thời trực tiếp vẽ nên những tính cách riêng, phẩm chất mới của con người Nam Bộ”(10).

3.     Kết luận

Nhìn chung, thông qua nội dung thể hiện của văn học dân gian yêu nước chống Pháp những năm cuối TK XIX – đầu thế kỷ XX ra đời ở miền Nam, đặc biệt là nội dung của các tác phẩm ở các thể loại chủ yếu như ca dao lịch sử, nói thơ bạc Liêu, truyền thuyết, vè lịch sử… ta có thể khẳng định rằng, văn học dân gian miền Nam cùng với văn học viết đã đóng vai trò mà một thứ vũ khí tinh thần to lớn trong việc giáo dục lòng yêu nước và kêu gọi sự đoàn kết của toàn dân. Thứ vũ khí này đã được sử dụng hết sức hiệu quả vì đây chính là thứ vũ khí do nhân dân sáng tạo ra, được nhân dân sở hữu và trực tiếp sử dụng trong công cuộc đấu tranh giải phóng nước nhà. Đồng thời, cũng có thể khẳng định rằng sự phát triển mạnh mẽ của dòng văn học dân gian yêu nước chống Pháp đã tạo tiền đề cho sự phát triển của dòng văn học thành văn yêu nước và cách mạng ở miền Nam trong thời kỳ này.

Về phía ta, chính vì thấy rõ sự lợi hại của dòng văn học dân gian kháng Pháp nên lực lượng sáng tác thời kỳ này không chỉ là những người lao động bình dân mà còn có cả sự tham gia của tầng lớp sĩ phu yêu nước giấu mặt, họ sử dụng văn học dân gian như là một thứ vũ khí, một kênh thông tin tuyên truyền hiệu quả ý thức đấu tranh của dân tộc, giúp nhân dân nhận diện kẻ thù và đồng lòng hợp tác với chính quyền trong quá trình đấu tranh chống lại kẻ thù chung của dân tộc, Tất cả những nỗ lực ấy không chỉ riêng của các tác giả dân gian mà còn có phần đóng góp lớn lao của đội ngũ sáng tác chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp bao gồm các nhà thơ, nhà văn, nhà báo, cán bộ thông tin tuyên truyền, nhạc sĩ… Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Đinh Gia Khánh cho rằng: “Đứng về mặt lịch sử văn học thành văn của dân tộc mà nói thì từ những năm đầu thế kỷ trở đi, sự phát triển của thơ văn yêu nước và cách mạng (như thơ ca của phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, thơ ca của các chiến sĩ cách mạng…) được sáng tác trong khuôn khổ của những hình thức văn học dân gian – chủ yếu là những hình thức thơ ca dân gian – không những chỉ có thể được giải thích bằng tính quần chúng, bằng yêu cầu vận động quần chúng của những phong trào cách mạng, mà một phần lớn còn có thể giải thích bằng sự phát triển rực rỡ trước đó của bản thân bộ phận văn học dân gian yêu nước chống Pháp”(11)

Về phía thực dân Pháp do cũng nhận thức rõ được tác dụng mạnh mẽ của văn học dân gian đối với thời cuộc, đặc biệt là vè lịch sử kháng chiến cả về mặt chính trị tư tưởng lẫn mặt thẩm mỹ văn học cho nên thực dân Pháp đã tìm cách cấm đoán không cho in ấn và truyền bá những tác phẩm văn học dân gian có tác dụng nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và cổ vũ chiến đấu trong khắp miền Nam. Đồng thời chính quyền thực dân cũng thấy rõ được sự lợi hại của dòng văn học này nên đã cho in ấn và tái bản nhiều lần những tác phẩm thơ ca kháng chiến có nội dung bồi bút rõ rệt, đứng trên lập trường tư tưởng của chính quyền cai trị bênh vực cho hành động “khai hóa văn minh” của Pháp, đổ lỗi cho tay sai bản xứ đã làm càn làm quấy, chê bai nền văn minh ấu trĩ lạc hậu của xứ An Nam. Bên cạnh đó còn bôi đen, xuyên tạc phong trào khởi nghĩa nông dân và phong trào đấu tranh yêu nước của các tầng lớp nhân dân trong cả nước.  

 

Chú thích

  1. Huỳng Ngọc Trảng (1988); Vè Nam Bộ; NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr.20.
  2. Huỳng Ngọc Trảng (1988); Vè Nam Bộ; NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr.20.
  3. Tôn Thọ Tường, Trần Bá Lộc, Huỳnh Công Tấn, Đỗ Hữu Phương (chú thích của Huỳnh Ngọc Trảng trong Vè Nam Bộ trang 262).
  4. Huỳng Ngọc Trảng (1988); Vè Nam Bộ; NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr.19.
  5. Huỳng Ngọc Trảng (1988); Vè Nam Bộ; NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr.12.
  6. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997); Văn học dân gian Việt Nam, NXBGD, trang 440.
  7. Võ Phúc Châu; Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1958 – 1918); NXB Thời Đại, trang 66.
  8. Dẫn lại theo Mạc Đường trong Sơ khảo lịch sử chống xâm lăng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ; NXB Khoa học xã hội, HN, trang 70.
  9. Kể lại theo Võ Phúc Châu; Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1958 – 1918); NXB Thời Đại, trang 333, 337.
  10. Võ Phúc Châu; Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1958 – 1918); NXB Thời Đại, trang 230.
  11. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997); Văn học dân gian Việt Nam, NXBGD, HN, trang 212.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Võ Phúc Châu; Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1958 – 1918); NXB Thời Đại.
  2. Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn (1997); Văn học dân gian Việt Nam, NXBGD.
  3. Mạc Đường (2015); Sơ khảo lịch sử chống xâm lăng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Nam Bộ; NXB Khoa học xã hội, HN.
  4. Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật (2001); Kho tàng ca dao người Việt (2 tập); NXB Văn hóa Đông – Tây.
  5. Huỳng Ngọc Trảng (1988); Vè Nam Bộ; NXB Thành phố Hồ Chí Minh, tr.20
  6. Huỳnh Ngọc Trảng (1998); Ca dao dân ca Nam Kỳ lục tỉnh; NXB Đồng Nai.
  7. Hà Thắng (1997); Văn học dân gian đồng bằng sông Cửu Long; NXB GD

Nguồn: Tạp chí Đại học Sài Gòn, Bình luận văn học, Niên giám 2016

20171002 Van Kieu

Người Bru - Vân Kiều - Ảnh: Wiki

 

Nghiên cứu về căn tính tộc người có nhiều lối vào khác nhau: các thói quen của cuộc sống thường ngày, sinh hoạt tín ngưỡng và lễ hội, các truyện kể dân gian, v.v. trong đó, những dấu chỉ từ truyện cổ, từ thế giới biểu tượng luôn luôn có tiếng nói quan trọng.

Khảo sát từ thực tế văn bản truyện cổ Bru - Vân Kiều cho thấy biểu tượng hiến sinh và biểu tượng phục sinh mang nhiều ý nghĩa lớn trong nỗi ám ảnh tâm thức của tộc người này. Người ta sẵn sàng dâng hiến sự sống trong khát vọng da diết đến bất lực, và đền bù bằng một ý nghĩa thiêng liêng hay ảo ảnh về sự phục sinh. Đó là sự thỏa thuận/ dằng co của tộc người với tự nhiên về sự sống của mình.Trong truyện cổ của người Bru - Vân Kiều, hiến sinh được thực hiện với cả động vật và người. Sự hiến tế của họ gắn với ý tưởng về sự trao đổi. Vì mục đích tỏ ý xin một sự chứng giám, tức một trao đổi về tinh thần, để nâng cao tín nhiệm và hiệu lực của hành động mà họ sắp thực hiện, người Bru dâng một hiến vật bé. Trong truyện Anh mù và anh gù lưng có đoạn: “Không có gà làm vật cúng ăn thề, họ dìu nhau ra giữa dòng khe, cúi xuống uống một ngụm nước trong, cùng đọc một lời thề”(*). Truyện Ở hiền gặp lành kể: “Hai người đặt gà lên chỗ cao ở gác hang làm lễ và cùng ăn. Họ thành vợ chồng và rất yêu thương nhau”. Ở đây không nhắc đến việc phân chia hiến vật. Không rõ họ có dành một phần nhất định nào đó thật sự cho “người chứng giám” không. Chắc chắn họ ăn phần vật hiến để minh chứng cho sự đồng ý của đối phương trong cuộc trao đổi (tức thần); hay minh chứng cho một sự cầu đồng đã bị che giấu rất kỹ, hàm ý họ có thể ăn uống cùng nhau chứng tỏ họ cùng thuộc về một thế giới. So với ý nghĩa của biểu tượng hiến sinh thì đây có thể là một vị thần (phân biệt với thế giới ma). Ở đây lại tiếp tục sự mơ mộng cầu đồng với sức mạnh, quyền năng của thế lực nhận lễ. Có thể liên tưởng đến biểu tượng âm phủ một chút, ở chỗ họ không thừa nhận hành động ăn uống của người sống ở thế giới của người chết. Mặc dù có thể đi lại tương đối dễ dàng, cởi mở nhưng có vẻ như họ đã mặc định sự tách biệt giữa hai cuộc sống trước và sau khi chết.Để thỉnh cầu sự trợ giúp trong một sự việc thiên về tinh thần, họ cúng một gà như truyện Niềng Càm hay Niềng Độc Khằm: “Nỗi ghen tuông, hậm hực của những người vợ trước đối với Niềng Càm, kéo xích họ thân nhau. Nhân lúc Ai Koong đi buôn chưa về, cả bốn người vợ bàn mưu lập đàn, đem thịt gà ri và thịt mang ra cúng ma, nhờ ma đuổi Niềng Càm ra khỏi bản”. Khác với những sự việc hướng tới điều tích cực, con người cúng/ dâng lễ cho các vị thần hay Dàng, tức các thế lực minh bạch; những sự việc mang tính mờ ám, thuộc vùng tối của tâm linh, họ tìm đến và thương lượng trao đổi với ma, là thế lực u tối. Cũng không thể khẳng định các thế lực minh bạch hay u tối theo hướng tốt hay xấu. Chỉ có thể khẳng định họ đều có những quyền năng nằm ngoài phạm vi thế giới người; và mỗi thế lực ngự trị một lãnh địa riêng, có lẽ, họ tôn trọng nhau. Sự phân tách thành hai thế lực siêu hình chính là biểu hiện của sự phân tách tâm thức con người. Những điều cấm kỵ (trước bản thân hay trước cộng đồng) thường giấu mình trong vùng u tối. Và nó biết rằng nó chỉ đạt được mục đích/ sự tương ứng nếu nó thực hiện trao đổi với thế lực cùng chiều, để gia tăng sức mạnh, và chắc chắn không chịu bất kỳ đối lực nào cản trở/ triệt tiêu năng lượng.Để cầu xin an lành, tẩy uế, xua trừ dịch bệnh, người Bru - Vân Kiều thực hiện nhiều lần hiến sinh. Ban đầu họ dâng một gà trong lễ cúng. Nếu không được như ý, họ sẽ dâng lợn. Nếu vẫn không được, họ dâng trâu/ bò. Và tiếp tục dâng thêm về số lượng nếu việc vẫn chưa thành. Truyện Anh Ra-Xứt có đoạn: “Hai vợ chồng đã cúng Ma, Dàng hết cả trâu trong chuồng, gà trên ổ, mà không vẫn hoàn không”. Đó là trường hợp cầu con của vợ chồng Ra - xứt. Họ vẫn duy trì niềm tin rằng cuộc trao đổi nhất định sẽ thành. Khi nó chưa được thì chứng tỏ là hiến vật chưa tương xứng với điều mà họ cầu xin. “A-nha đã mời hết thầy Mo mười bản quanh đây, đã cúng lễ hết trâu đàn, lợn bầy mà con nó cứ chết. Hết cách rồi”. Truyện Nhắc cô-phan kể: “Đứa con trai đẹp vậy, lại ốm yếu quá. Ba ngày đau một trận bảy ngày nóng đầu, ỉa chảy một lần… Trong nhà luôn luôn nghe tiếng cúng bái của thầy Mo. Lợn gà giết để làm lễ xương chất thành đống”.Thấy rằng, qua việc dâng lễ của người Bru - Vân Kiều trong truyện, hành động hiến sinh rất mờ. Họ không mô tả trực tiếp hành động hủy diệt. Hiến sinh ở đây có thể hiểu là hiến sinh gián tiếp. Vì nghi lễ không được thực hành trong thời điểm hành quyết con vật. Nghi lễ chỉ được thực hiện dựa trên kết quả thu được của hoạt động hành quyết mà thôi. Vì không thấy xuất hiện máu như là vật cúng trong lễ cúng, nên không thể xác định được độ lùi thời gian của các nghi lễ hiến sinh trong cộng đồng Bru. Cũng có thể nghĩ đến trường hợp, người sưu tầm, biên soạn, vì những khác biệt về tập tục đã cho là không thật thuận tiện để trình bày những chi tiết/ hay những truyện có chi tiết cụ thể, trực tiếp về hành động hiến sinh. Trong hoàn cảnh này, cần hoài nghi một chút về cả người cung cấp thông tin trong các cuộc điền dã sưu tầm ngữ văn dân gian. Họ là những người nội tộc, trong vai trò đại diện giao tiếp với những người ngoại tộc. Trong tâm thế đó, không tránh khỏi sự dè chừng. Và đặc biệt, những cấm kỵ của tộc người, hẳn nhiên không thể tiết lộ.Có thể xem xét thêm ở một vài trường hợp hiến sinh người. Truyện Anh mù và anh gù lưng có đoạn kể: “Nhắc pơ-lơ-pụt cai quản cả vùng. Nó ăn thịt người. Chúng em là mồi của nó. Đến mùa lúa nó bắt các A-nha quanh vùng nộp con gái. Nuôi cho đến mùa mưa, khi nó không đi kiếm ăn xa được, thì ăn thịt con gái. Lũ con gái trong vùng đã bị Nhắc ăn hết. Chúng em là con gái A-nha hai bản chịu đem nộp mồi cho Nhắc” (lời hai cô con gái A- nha). Truyện Pí Trỏ, Pí Cula: “Cô gái nén không cho tiếng khóc bật ra, nói: - Chúng tôi sắp chết đây. Các anh không biết đây là nơi thờ ma-lai sao? - Chao! Các anh đi đi. Chúng em là của lễ dân bản nộp cho ma-lai. Người con giá kia tiếp lời: - Lũ ma-lai này quen ăn thịt con gái. Mỗi năm các bản quanh đây phải nộp cho nó hai con gái, nó mới để cho bản làng sống yên. - Dàng bảo chị em chúng tôi phải chết cho dân bản sống, nên phải chịu thôi”.Đến đây cũng nên lật lại vấn đề người sưu tầm, biên soạn và người cung cấp thông tin. Nếu họ thực sự chưa vượt qua những khác biệt để trình bày các nghi thức hiến sinh trực tiếp thì tại sao lại có thể chia sẻ những sự kiện hiến sinh người. Thật ra sự kiện hiến sinh người đã xuất hiện trong rất nhiều truyện cổ từ Đông sang Tây. Trong truyện cổ người Việt cũng có thể kể đến Thạch Sanh. Trong sự hiến sinh này con người không tham gia trực tiếp vào sự hành quyết nên không tồn tại mặc cảm giết đồng loại. Song nếu xét đến giá trị của hiến lễ thì người được/ bị đem hiến cho các thế lực u tối (bằng chứng là cộng đồng đã mất hẳn con người/ hiến vật đó) đã trở nên thiêng liêng khi bảo vệ được sự yên lành của cuộc sống chung trong một quãng thời gian (cũng là một phương diện ưu việt của cuộc sống, dù thời hạn rất ngắn).Trong số 40 truyện chúng tôi khảo sát cho bài báo này thì 9 truyện xuất hiện hoàn cảnh hiến sinh. Mật độ này không dày, không ám ảnh, nhưng cũng được ghi lại như một dấu văn hóa khá rõ. Trong ý niệm của người Bru - Vân Kiều, chắc chắn có sự di truyền kinh nghiệm cầu xin và trao đổi với thế giới siêu nhiên. Tuy nhiên, việc trao đổi diễn ra khá dè dặt. Điều này có thể minh chứng cho tính cách không thực dụng của tộc người. Họ không vồn vã, không mãnh liệt mà từ tốn và kiên trì. Không phải bao giờ họ cũng cầu xin, nhưng khi đã cầu xin, họ sẽ theo đuổi lâu dài.Hiến sinh “là hành động làm cho một vật hoặc một người nào đó trở thành thiêng liêng, nghĩa là làm cho cái đem dâng hiến, cho dù đó là của cải riêng hoặc cuộc sống của bản thân, cách biệt với người dâng hiến; đồng thời cũng tách biệt cả với nhân quần trần tục, cách biệt với chính mình để được dâng cho Thần Linh, nhằm chứng tỏ sự lệ thuộc, phục tùng, sự ăn năn hối lỗi hay tình yêu… Hiến tế là một biểu tượng của sự chối bỏ những mối liên hệ trần thế vì tình yêu tinh thần hay vì tình yêu thần thánh… Sự hiến tế gắn với ý tưởng về một sự trao đổi, ở cấp độ năng lượng sáng tạo hoặc năng lượng tinh thần”(1).Như vậy, hiến sinh là một kiểu tư duy trao đổi. Hiến sinh với mục đích nhận về cho sự sống trần gian một giới hạn mới về hạnh phúc và yên lành trong sự tôn trọng sự toàn vẹn của một sự sống khác (thế giới thần linh) là một thông điệp hồi đáp đồng thuận với thế giới tự nhiên. Nó góp phần bảo vệ trạng thái cân bằng của tạo hóa. Mặc dù có những khoảnh khắc xót xa, hay hoảng loạn, nhưng người Bru - Vân Kiều vẫn thực hành nguyên tắc ấy trong chuỗi mắt xích đời sống của mình.Phục sinh chúng tôi muốn nói đến ở đây là hiện tượng sống lại của con vật, người, và thần nhờ vào những bí thuật. Truyện cổ Bru - Vân Kiều thực sự còn để lại một nỗi ám ảnh, băn khoăn không dứt về những lần phục sinh bằng thần thái điềm tĩnh. Dường như ở họ không có bất kì vướng mắc nào về sự trở lại của những vật, người đã chết. Hẳn là họ đã nhìn thấy cuộc sống này trong những sắc màu huyền nhiệm.Truyện cổ Bru - Vân Kiều có những tình huống hồi sinh theo cùng một phương cách. Truyện Anh Ra-Xứt: “Con khỉ đực chạy vội xuống, kéo con khỉ cái đặt vào một hốc cây, rồi vội vã đi đến một cây xanh bên bờ khe hái về một nắm lá. Khỉ đực nhai ngấu nghiến và phun vào khắp người khỉ cái. Chẳng mấy chốc khỉ cái động đậy, tỉnh dậy và cùng khỉ đực nhảy lên cành cao chạy vụt vào rừng… Chị đến chỗ con khỉ nằm, nhặt những lá còn lại và chạy vào rừng hái về một ôm lá ấy. Chị ngồi nhai mãi và phun đều khắp thân thể chồng. Xác chồng chị mềm dần. Anh Ra-Xứt sống lại, ngồi dậy, hỏi chị... Vợ Ra-Xứt và dở mặt lật áo người chết ra. Chị nhai kỹ nắm lá hồi sinh phun đều lên thân thể con trai A-nha. Người chết dần dần tỉnh lại và bật ngồi dậy, xin nước uống”. Bí mật của sự sống thuộc về loài khỉ. Vì may mắn mà con người biết được và làm theo. Nó trở thành bài thuốc quý và có thể mang đến cả sự sống, cả sự giàu sang.Chuyện hai anh em mồ côi: “Thỏ nhảy đại vào rừng, bỗng vấp phải một hòn đá, ngã lăn, gãy mất chân sau. Nhân lúc đau quá, thỏ vơ quàng một nắm lá gặm nhấm rồi phun lên chân mình. Tự nhiên thỏ thấy chân mình hết đau và đi lại bình thường. Thỏ ta mừng quá, ngắt luông một nắm to tha chạy trở về gốc đa. Bầy thú thấy thỏ về đều chạy lại vây quanh. Được thỏ cho biết mình đã kiếm được lá thuốc cả bọn đều mừng rỡ, xúm lại nhai lá phun vào cổ anh con trai và lắp chiếc đầu vào. Đầu anh con trai lên với cổ. Cả bầy thú thấy thuốc hiệu nghiệm thì bảo thỏ dẫn đường cùng chạy phi lên rừng hái lá. Bầy thú phun lá thuốc lần thứ hai anh con trai thở được, phun đến lần thứ ba thì anh con trai ngồi dậy, nói năng bình thường”. Ở đây, bí mật sự sống thuộc về tự nhiên. Con thỏ vì vô tình mà biết, và đã dùng lá thuốc cứu con người sống lại. Như vậy, sự sống lại không nằm trong tay con người.Truyện Piềng Riềng cũng vậy: “Con cù-xoong (do Dàng phái xuống) đi sau thấy thế (thấy con cù-xoong chết), đến ôm con cù-xoong chết đặt thẳng lên một phiến đá rồi chạy biến vào rừng. Chỉ một lát sau nó lấy về một nắm lá lạ, ngồi nhai, thổi vào chỗ bị thương và khắp xác con vật chết. Trong nháy mắt con vật chết đã cựa quậy, sống trở lại… Nhìn rõ hết cảnh tượng ấy, Piêng-riềng gạt nước mắt, đến phiến đá nhặt những chiếc lá lạ xem xét, rồi ù chạy vào rừng. Piềng-riềng cũng đã ôm về được một ôm những cành lá lạ ấy. Theo cách của cù-xoong, Piêng-riềng nhai lá phun đều lên thân thể chồng. Người em út sống lại… Chị xua mọi người ra khỏi sàn nhà và đỡ xác đứa trẻ ra. Sau khi đã nắn vuốt cho đứa trẻ nằm ngay ngắn trên sạp sàn, chị nhai lá lạ phun lên chỗ đầu vỡ, phun khắp thân thể nó. Một lúc sau đứa bé cựa người, khóc thét lên gọi mẹ, gọi cha”. Lần này, con cù - xoong, sứ giả của Dàng là nhân vật nắm giữ bí quyết của sự sống. Con người lại tự nhận sự may mắn ngẫu nhiên. Có lẽ, với người Bru, sự có mặt và sự sống của con người là một điều kỳ diệu, là sự may mắn của số mệnh. Nó nằm ngoài khả năng của người. Con người chỉ có thể nhận lãnh sự sống từ tay Dàng/ hay các sứ giả của Dàng (tự nhiên). Người Bru khi đó trong tâm thức đã tách mình ra khỏi thế giới tự nhiên với nỗi mong nhớ khôn nguôi và luôn tìm cách trở về, soi mình vào thế giới mênh mông đó.Người Bru - Vân Kiều đã từng nổi tiếng với bí mật chữa trị bệnh tật bằng cây lá trong rừng. Phương thức này xuất hiện ở hầu hết các tộc người như là những bí mật về sức khỏe và sự sống. Song ở người Bru, có điều đặc biệt là những bài thuốc được chia sẻ rộng rãi với mọi thành viên trong cộng đồng. Họ biết nhận diện, sử dụng nhiều loại cây lá rừng để tự chữa bệnh và giúp đỡ người khác. Thầy mo của họ chỉ có năng lực đặc biệt hơn mọi người ở chỗ sử dụng được nhiều loại thảo dược hơn vì thực hành phương pháp thổi. Việc xuất hiện lá thuốc hồi sinh trong văn bản truyện cổ khả dĩ là sự lỡ lời của tộc người về sự thừa truyền kinh nghiệm của thế giới tự nhiên.Cũng thừa nhận sự bất lực của con người trước sự sống, nhưng thay vì bị động và chờ đợi điềm may thì truyện Niềng T-ré kể về sự chủ động bày tỏ và cầu xin sự sống: “- Dàng ơi! Có rắn độc vấn chân con. Con xin Dàng lấy lại của cải Dàng đã ban phát cho vợ chồng con. Con xin Dàng cứu cho chồng con sống lại. Lời Niềng T-ré vừa dứt, sấm chớp nổi lên ầm ầm, trời đất lại đen kịt như dính vào nhau. Lúc trời quang, chồng Niềng T-ré đã hiện ra bên vợ con”. Sự phục sinh/ tái sinh này là do Dàng ban phát. Một cách trực tiếp, nó thể hiện quyền năng tối cao của Dàng; và thể hiện lòng tin của người Bru vào sự hiện hữu của Dàng.Cũng có những cuộc hồi sinh/ phục sinh dựa vào nỗ lực của con người. Truyện Niềng Càm hay Niềng Độc Khằm kể: “Hoảng quá, Ai Ân vớ mấy ống nước cạnh cửa dội vào bếp lửa. Bếp lửa phụt tắt. Trong đám khói và tro bùng cuộn lên dày đặc, vợ anh bỗng hiện ra xinh đẹp hơn xưa”. Sự nỗ lực này không phải vì nhận thức chủ động mà có. Con người cũng chỉ đạt đến sự phục sinh nhờ vào ngẫu nhiên may mắn, theo ý Dàng. Nhưng ít ra con người đã nỗ lực tự hành động, độc lập, và không bắt chước tự nhiên. Rõ ràng đây là tình thế đường cùng, không có hình mẫu để bắt chước. Con người đã không đầu hàng và đã hành động. Kết quả đạt được là sự chiến thắng tự thân đáng khích lệ. Tuy có khi chính vì sa vào “chiến thắng” này mà con người lại quên dần đi bản chất tự nhiên của mình. Họ tự mãn với thân thế tự tạo và bắt đầu khổ đau từ đó. Lại có trường hợp phục sinh hoàn toàn chỉ nhờ vào may mắn. Đó là sự trở về của Xađie trong truyện Rú roọc - Xađie.Một truyện có lẽ cổ xưa hơn là Vì sao người sống không còn thăm người đã chết được nữa đã kể rằng, người em đuổi theo con lợn xuống được địa phủ, cứu được vợ sống lại bằng cách vượt qua dòng sông xanh. Trường hợp này con người cũng phải đi theo sự dẫn đường của con lợn để tìm lại đường sống cho người thân. Tuy nhiên, trong tâm thế đó, con người nhận thức rằng, việc trở lại cuộc sống trần gian của người chết là bình thường, là hiển nhiên, chưa phải là những cấm kỵ ma thuật. Mặc dù sự sống không nằm trong tay của con người, nhưng con người nhận thức có thể dựa vào tự nhiên để có được.Hiện tượng phục sinh xuất hiện ở 7 trong số 40 truyện chúng tôi đã khảo sát. Con số này tương đối khiêm tốn. Song không vì thế mà biểu tượng phục sinh mờ nhạt trong thế giới tinh thần của người Bru - Vân Kiều. Thứ nhất, qua văn bản truyện, cả 7 tình huống người chết vì bị ám hại, hay người chết lành đều được cứu sống bằng con đường bí mật của tự nhiên. Đây là ý niệm về trạng thái thăng bằng cuộc sống đồng hòa của con người trong thế giới tự nhiên. Thứ hai, những bí mật từ tự nhiên khi kết nối với thế giới con người cũng cần thực hành theo nguyên tắc bí mật. Sự có mặt hạn chế của hoàn cảnh phục sinh trong truyện là sự ngầm định của nguyên tắc này.Phục sinh/ hồi sinh là một ẩn số trong các huyền thoại. Nó, nhiều khả năng nhất chính là biểu tượng của xung năng sống, là khát vọng sống mãnh liệt của con người. Việc lặp lại nguyên tắc: bí mật sự sống không nằm trong tay con người ở hầu khắp các tộc người trên thế giới đã nhấn mạnh nhận thức và sự cam chịu của họ trước tự nhiên. Kể lại một cách thiêng liêng những câu chuyện ấy như một sự lỡ lời của các tộc người, trong đó có tộc Bru. Phục sinh là “một biểu tượng hiển nhiên nhất về sự hiện hữu của Thượng Đế, vì theo các truyền thuyết, bí mật của sự sống chỉ có thể thuộc về Thượng Đế” (Có thể các con vật biết được bí mật sự sống, vì con vật là sứ giả của tự nhiên). Mọi nỗ lực của con người nhằm tiếp cận và thực hành bí quyết phục sinh luôn phải chịu sự trừng phạt của thượng đế. Tuy nhiên không vì thế mà con người đánh mất niềm hi vọng bền bỉ của mình vào sự phục sinh. Đó là bí nhiệm dựa trên nguyên tắc nằm ngoài khả năng của con người. “Dù là huyền thoại, ý tưởng hay sự thật đều là một biểu tượng về sự siêu phàm và về toàn bộ quyền năng đối với sự sống chỉ thuộc về Thượng đế”(2).Qua văn bản truyện cổ Bru - Vân Kiều, thấy rằng, biểu tượng hiến sinh và phục sinh là những ám ảnh lớn trong tâm thức tộc người. Truy tìm và theo đuổi sự sống là động lực duy nhất, mãnh liệt và da diết, của định mệnh chung. Dâng hiến sự sống hay tái sinh đều là trải nghiệm dữ dội của họ, đều là con đường tìm về cội nguồn, nơi tận cùng đau đớn và hủy diệt đã làm nảy sinh một trạng thái đối nghịch - trạng thái sống.Đ.N.H
(TCSH343/09-2017)------------
(*) Những đoạn trích từ các truyện cổ, chúng tôi trích từ Truyện cổ Vân Kiều, Mai Văn Tấn  (1974), Nxb. Văn hóa, Hà Nội, và Truyện cổ Vân Kiều, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1978 (cùng  tác giả).
(1), (2) Chevalier, J. và Gheerbrant, A. (2015) (Nhiều người dịch), Từ điển biểu tượng văn hóa thế  giới, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng.

Nguồn: Tạp chí Sông hương, ngày 25/9/2017

Hoàn cảnh ra đời của tín ngưỡng Thiên Hậu ở Cà Mau là sự hòa trộn giữa những người Hoa lưu vong và dân tứ xứ quần tụ về vùng đất mới khai hoang mở cõi. Họ không phải là các tầng lớp trên với học vấn uyên bác có những nhu cầu nhất định về cuộc sống vật chất lẫn tinh thần mà là những con người đã kinh qua bao sóng gió, mang trong lòng tâm hồn hào sảng, khẳng khái chỉ mong được an cư lạc nghiệp và ổn định cuộc sống. Đối với họ, chỗ dựa về tinh thần là thiết yếu, thế nên tín ngưỡng Thiên Hậu đã phát triển hết sức tự nhiên và thuận lợi qua hình ảnh vị Mẫu thần đầy quyền năng luôn che chở bảo bọc và chăm lo cho cuộc sống nhân sinh.

Có thể nhận thấy quá trình phát triển của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam nói chung và ở Cà Mau nói riêng là quá trình giao lưu và tiếp biến không ngừng với các cộng đồng anh em (Việt và Khmer), tín ngưỡng Thiên Hậu cũng không nằm ngoài quy luật đó. Trải qua hơn 300 năm tồn tại trong cộng đồng đa sắc tộc, tín ngưỡng Thiên Hậu đã dung hợp phần nào các đặc trưng văn hóa của các tộc. Tính dung hợp thể hiện rõ ở các khía cạnh như phương diện nhận thức, đối tượng thờ tự, cách tổ chức hoạt động tín ngưỡng, thành phần dân cư tham gia tín ngưỡng và kiến trúc mỹ thuật.

Về mặt nhận thức, tính dung hợp hể hiện ở quan niệm coi Bà Thiên Hậu là thần cai quản cả thế giới tự nhiên và thế giới nhân sinh, vừa là thần thánh vừa là Mẫu thần. Từ xưa thần tích của Bà đã gắn liền với việc cứu giúp các ngư dân hay người đi biển gặp nạn, hướng dẫn các ghe đánh cá, thương thuyền vào bờ trong những lúc thời tiết nguy hiểm và khắc nghiệt nhất. Do vậy trong tâm thức người dân, Bà là vị thần cai quản vùng biển khơi (còn gọi là Hải Thần). Sau này, khi định cư nơi thị tứ, nhu cầu của con người chuyển sang ước vọng sung túc về tài chính, mạnh khỏe trong cuộc sống và hạnh phúc trong gia đình. Khi đó Bà Thiên Hậu không chỉ là nữ Thần nơi biển cả mà còn kiêm nhiệm vai trò của vị phúc Thần mang đến cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đảm đương vai trò của thần phồn sinh và thần bảo hộ cho cuộc sống nhân sinh. Ngoài vai trò là vị Thần được mọi người thờ phụng, trong tâm tưởng của người dân, Bà còn là một vị “Mẫu thần”. Danh xưng “Mẫu thần” ở đây là do là sự tôn sùng, thành kính trước sự linh thiêng, ban phúc và che chở của Bà. Trong tín ngưỡng Thiên Hậu, khó có thể phân tách rạch ròi giữa vai trò thần thánh và “Mẫu” mà cả hai đã hòa quyện và dung hợp vào nhau.

Trong đối tượng thờ tự các cung thờ Thiên Hậu ở Cà Mau thể hiện rõ nét sự dung hợp giữa tín ngưỡng của người Hoa cùng tín ngưỡng dân gian bản địa, tín ngưỡng của người Khmer và Phật giáo, tạo nên nét đặc trưng đa văn hoá qua đối tượng thờ tự. Chẳng hạn trong cung thờ Bà còn thờ thêm nhiều vị thần khác như thần Hổ, xương cá Đao, Thổ địa, Chiến sĩ trận vong, Tiền hiền - Hậu hiền. Một số nơi còn thỉnh tượng Phật Quan Âm(1) đặt phía trước sân như một sự kết hợp giữa hình thức thờ Phật và thờ Thần hay đặt miếu thờ ông Tà (dạng tín ngưỡng có nguồn gốc của người Khmer nhưng đã được người Việt tiếp thu một cách gần như trọn vẹn) thay cho miếu thờ Hỏa Đức Nương Nương (ở Thiên Hậu Cung Thới Bình). Đồng thời cũng có hiện tượng theo chiều ngược lại như một số miếu thờ của người Việt phối thờ Thiên Hậu. Điển hình là Tam vị cổ miếu tại khóm 2, thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước hay miếu Bà Thủy thuộc khóm 5, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân.

Ngoài các ngày lễ mang đậm nét đặc trưng riêng biệt, đặc thù dành cho Bà như lễ nghênh đón Bà hồi cung vào mùng ba Tết, lễ vía Bà vào 23 tháng ba âm lịch và lễ cuối năm đáp tạ thần ân vào tháng 12 âm lịch do Ban Trị sự chọn ngày tốt, còn lại đa phần là các dịp có sự kết hợp với các ngày lễ của Phật giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng dân gian và phong tục, lễ tết của người Việt. Các ngày lễ mang tính Phật giáo kết hợp với tín ngưỡng dân gian, phong tục lễ Tết của địa phương như lễ Thượng Ngươn (Nguyên) vào rằm tháng giêng cũng là dịp Tết Nguyên Tiêu; lễ Trung Ngươn cúng rằm tháng bảy kết hợp với lễ Vu Lan hay lễ Hạ Ngươn vào ngày 15 tháng 10 âm lịch. Đồng thời còn có các lễ như cúng Đoan Ngọ mùng năm tháng năm và lễ Đông chí vào tháng 11 âm lịch. Bên cạnh đó cũng có một số ngày lễ mang tính Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian tiêu biểu như cúng Ngọc Hoàng vào sáng mùng chín Tết, cúng Thần Nông vào sáng mùng năm Tết, cúng Thần Hổ (có nơi còn gọi là “Thiên soái Hổ gia”(2)) vào 16 tháng giêng để cầu mưa thuận gió hòa. Các nghi thức tế lễ cũng ảnh hưởng phần nào theo Nho giáo như phân cao thấp tôn ti trong trình tự tế lễ, hay những người hành hương phải thể hiện sự tôn trọng, lễ phép khi bước vào nơi tôn nghiêm. Phần diễn hội hàng năm gồm múa lân, hát tuồng hầu Bà và cho cả người dân thưởng thức. Hiện nay hình thức diễn chủ yếu là văn nghệ quần chúng, trong đó các bài tân nhạc biểu diễn bằng tiếng Hoa, tiếng Việt và cả tiếng Khmer, còn các tuồng tích thì diễn bằng tiếng Việt và theo phong cách Việt kịch dù nội dung tuồng có gốc tích từ Trung Quốc để đáp ứng nhu cầu của khán giả. Điều này cho thấy tín ngưỡng Thiên Hậu trong các sinh hoạt cộng đồng đã thực sự tiếp nhận văn hóa của các tộc người trong cộng đồng, có sự kết hợp, dung hòa giữa cái riêng và cái chung, tạo nên sự hòa điệu giúp người dân gần gũi và dễ tiếp nhận tín ngưỡng.

Tín ngưỡng Thiên Hậu ban đầu chỉ gói gọn trong cộng đồng người Hoa nhưng đến ngày nay đã trở thành tín ngưỡng phổ biến của người dân nơi đây. Theo tư liệu khảo sát điền dã, thành phần Ban quản lý hay còn gọi là Ban trị sự ở các cung thờ hiện nay đã có sự hòa trộn giữa Hoa và Việt do thế hệ con cháu tiếp nối đã mang dòng máu Hoa - Việt và thậm chí ở một số nơi như chùa Bà Thiên Hậu ở huyện Cái Nước, Thới Bình và Đầm Dơi đã có người Việt tham gia vào Ban Trị sự dù không chiếm tỷ lệ cao, chỉ khoảng 2 đến 5 người. Một số người khi được phỏng vấn khẳng định có người Khmer tham gia vào các hoạt động tín ngưỡng. Nếu nói Cà Mau có ba tộc người chính Việt – Hoa – Khmer thì tín ngưỡng Thiên Hậu đang thu hút phần lớn người Việt tham gia và một số ít người Khmer có điều kiện kinh tế khá giả.

Về mặt địa hình, các cung thờ Thiên Hậu thể hiện rõ đặc trưng: gần sông, gần chợ giống như quan điểm chọn nơi xây nhà của người Việt là “nhất cận thị, nhì cận giang, tam cận điền”. Hình thức kiến trúc và nguyên vật liệu xây dựng cũng mang nhiều dấu ấn bản địa hóa. Theo thời gian, những chất liệu bằng gỗ thường có tuổi thọ thấp, thêm vào đó bị thiên nhiên tàn phá, nên trong quá trình trùng tu, sửa chữa, họ phải thay bằng các chất liệu mới có sẵn tại địa phương. Những chi tiết trang trí mỹ thuật ban đầu thường là những đồ án cổ điển của Trung Hoa như bát tiên, bát bửu, long mã hà đồ, lưỡng long tranh châu, lưỡng long triều nhật, chồng thư ống bút, mâm bồng lọ hoa, quả đào, quả lựu, hoa cúc, hoa mẫu đơn, rồng phượng; các tích truyện của Trung Quốc như Bát Tiên quá hải, Tam quốc diễn nghĩa, v.v… dần được thay đổi hoặc có thêm nhiều mô típ trang trí mới, gắn liền với thiên nhiên, con người, động vật, thực vật của vùng đất Cà Mau trù phú. Chẳng hạn, hình vẽ trang trí các loại trái cây gồm đu đủ, mãng cầu, khóm, dưa hấu, chuối, măng cụt, v.v…; các loại rau củ có bí rợ, cà rốt, khổ qua, cà tím, v.v… ở hai bên thiên tỉnh của Thiên Hậu Cung thành phố Cà Mau hay vách ngoài cửa vào chính điện ở huyện Đầm Dơi. Còn Thiên Hậu Cung ở thị trấn sông Đốc, huyện Trần Văn Thời trên vách mái ngoài có vẽ hình các loài thủy hải sản như cá voi, cá đao, cá đuối, ba ba, rắn biển, v.v… và cảnh tàu đánh bắt cá neo tại cảng sông Đốc trang trí bên vách cửa chính điện.

Từ việc hấp thụ các đặc trưng văn hóa như trên, giá trị của tín ngưỡng Thiên Hậu ở Cà Mau nhìn từ góc độ giao lưu văn hóa thể hiện ở những điểm chính như sau:

1. Giá trị giữ gìn văn hóa tộc người

Tín ngưỡng Thiên Hậu dưới sự tác động của quá trình giao lưu văn hóa đã dung hợp nhiều yếu tố từ các nền văn hóa của các tộc người anh em nhưng vẫn giữ được các giá trị truyền thống vốn có của cộng đồng Hoa. Trong số đó thể hiện rõ nhất qua phương diện sinh hoạt tín ngưỡng và đặc trưng kiến trúc của cơ sở thờ tự.

1.1. Văn hóa tộc người qua hoạt động tín ngưỡng

Sinh hoạt tín ngưỡng là một thể hiện của văn hóa truyền thống. Xét trên góc độ giao lưu văn hóa, vốn văn hóa truyền thống được bảo tồn tự thân nó đã thẩm thấu những yếu tố văn hóa mới của các cộng đồng lân cận, tự thân vận động và điều chỉnh để thích nghi. Trong năm vào các ngày rằm và mùng một hàng tháng, người dân thường đến thắp hương và cúng viếng tại các cung thờ Bà. Ở Thiên Hậu cung Cà Mau lễ hội chính trong năm gồm nghi thức đón Bà mùng 3 Tết, cúng rằm tháng giêng, vía Bà 23 tháng 3, cúng rằm tháng bảy và trả lễ Bà cuối năm vào tháng 12 âm lịch. Những ngày lễ hội tại cung thờ Bà Thiên Hậu là dịp tôn vinh thần thánh, đề cao những giá trị đạo đức như lòng nhân hậu, hiếu thảo, biết hi sinh vì mọi người cũng như để tỏ lòng biết ơn, uống nước nhớ nguồn trước sự cưu mang, bảo bọc của Bà và nhắc nhở con người hướng thiện, sinh sống hài hòa với các cộng đồng xung quanh.

Bên cạnh ý nghĩa về mặt tâm linh, các ngày lễ còn tạo ra hiệu ứng xã hội tích cực là cải thiện các mối quan hệ giúp mọi người có dịp gặp gỡ, cùng chuyện trò và thể hiện sự quan tâm lẫn nhau. Ngoài ý nghĩa đáp ứng nhu cầu tâm linh cho con người, lễ hội tín ngưỡng Thiên Hậu ở Cà Mau cũng chính là những nét phác họa chân thật và sinh động về đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng Hoa. Trong các nghi thức cúng tế trang nghiêm thì lễ vật dâng cúng đóng vai trò rất quan trọng. Theo quan niệm của họ, thức ăn cũng là lễ vật biểu hiện lòng thành của con người đối với thần thánh. Quan trọng nhất là lễ vía Bà hàng năm, 12 món lễ vật được Ban thầu náng chuẩn bị gồm: rượu, trà, hương đăng (nhang đèn), giấy chúc thọ, bông trắng thơm (thường dùng hoa lài), bánh bao đào, trái cây, mì thọ, bánh bò, cốm phước, ngũ sanh (gồm thịt của năm loài vật là tôm, cua, heo, gà, vịt) và sớ tế. Trong đó mì xụa và cốm phước là những món đặc trưng của người Hoa Triều Châu dùng trong những dịp quan trọng. Rượu trà vừa là đồ cúng truyền thống trong những nghi lễ, vừa là thức uống quen thuộc trong những dịp tụ họp gia đình, bạn bè.

Người Hoa quan niệm sắc đỏ mang ý nghĩa cát tường, tượng trưng cho may mắn, tài lộc nên trang phục đỏ luôn là lựa chọn hàng đầu cho các dịp lễ tiết quan trọng. Trong nghi thức diễu hành ngày vía Bà, các thiếu nữ xinh xắn mặc sườn xám đỏ(3) đi theo đám rước tạo nên bức tranh sinh động đầy sức sống thể hiện không khí vui vẻ và cuộc sống thịnh vượng của người dân. Trang phục truyền thống Hoa như sườn xám, áo xẩm cho nữ, trường bào cho nam cũng xuất hiện xen lẫn trong trang phục của các dân tộc khác (Việt, Khmer) trong các tiết mục biểu diễn văn nghệ làm tăng thêm bản sắc tộc người, tô điểm và tạo nét riêng cho không khí lễ hội. Lòng tôn sùng và ngưỡng vọng oai linh thánh mẫu khiến người Hoa có xu hướng muốn gần gũi với Bà. Họ thích sống quần tụ xung quanh nơi thờ Bà để tiện việc nhang khói, thờ phụng cũng như thụ hưởng ân lộc từ Bà.

20170718. H1. Le vat

Hình 1: Các món lễ vật cúng Bà

20170718. H2. Dieu hanh

Hình 2: Đoàn diễu hành trong lễ vía Bà

Ngoài ra tín ngưỡng Thiên Hậu còn lưu giữ không ít các giá trị về văn hóa nghệ thuật như nghi thức diễu hành, múa lân, trình diễn cổ nhạc và các tiết mục hát xướng. Mỗi dịp lễ hội là người dân có thể tham gia và thưởng thức các hoạt động biểu diễn như một cách thỏa mãn nhu cầu giải trí đồng thời bảo tồn các giá trị nghệ thuật truyền thống.

1.2. Văn hóa tộc người qua kiến trúc cơ sở thờ tự

Dưới góc nhìn giao lưu văn hóa, các cung, miếu thờ Thiên Hậu ở Cà Mau lưu giữ được những đặc trưng văn hóa tộc người trên phương diện kiến trúc – mỹ thuật là một điều đáng quý. Theo chiều dài lịch sử của các cung, miếu thờ Bà ở tỉnh có thể thấy Thiên Hậu cung Cà Mau là nơi xây dựng đầu tiên, lâu đời nhất và còn lưu giữ nhiều giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật theo kiểu đền miếu cổ Trung Hoa như bộ khung chịu lực bằng gỗ, mái lợp ngói ống, chân mái được viền bằng hàng ngói thanh lưu ly, đường bờ mái cong nhẹ, trang trí hoa văn gốm sứ thanh thoát hình hoa lá, chim muông và sử dụng các tông màu sặc sỡ tươi sáng với màu đỏ (tượng trưng cho may mắn và hạnh phúc) chiếm vai trò chủ đạo là đặc trưng dễ nhận thấy ở chùa miếu của nhóm Hoa Triều Châu. Trong khi phong cách kiến trúc của người Hoa gốc Quảng Đông có bộ mái nặng, nhiều họa tiết bằng gốm sứ mô tả nhà cửa, phố phường, con người với đầu đao vuông thành sắc cạnh. Còn đặc trưng của người Phúc Kiến là những đường bờ nóc uốn cong hình thuyền, hai đầu đao vút cong có gắn các mô hình tòa thành hay những nhân vật bằng gốm sứ thể hiện những điển tích trong văn học cổ Trung Quốc.

Giá trị về kiến trúc còn bao gồm cả nghệ thuật phù điêu chạm lộng và chạm nổi. Những bức phù điêu chạm nổi được bảo quản trong các lồng kính gắn trên vòm cửa ra vào miêu tả các điển tích Trung Hoa mang ý nghĩa giáo dục về nhân – lễ – nghĩa – trí – tín như Đào viên kết nghĩa, Bát tiên quá hải, v.v… tinh tế và tỉ mỉ. Hai bên vách ngoài chạm nổi hình thanh sư, bạch tượng, còn vách trong dưới thiên tỉnh là hình long, hổ được đắp bằng xi măng thật sống động. Các phù điêu đều thể hiện hình ảnh các con vật cùng chơi đùa với ấu thú giống hình tượng mẹ con nhằm thể hiện ước muốn sinh sôi, nảy nở, phồn vinh cũng như ý thức đùm bọc, gắn bó thân tộc - dòng họ, và tinh thần tương trợ cộng đồng.

20170718. H3. Bach tuong

Hình 3: Bạch tượng vui đùa cùng con trang trí ở vách ngoài Thiên Hậu Cung Cà Mau

20170718. H4. Hoanh phi

Hình 4: Các bảng hoành phi trong chính điện 
Thiên Hậu Cung Cà Mau

Trên các vì kèo, đầu cột là các phù điêu gỗ được sơn thếp vàng tạo vẻ lộng lẫy hoành tráng dưới mái hiên được trang trí công phu với hình đóa sen chạm ngược nở nhiều lớp, tượng kỳ lân ngậm châu, tôm cua bơi lội và các dây hoa chạm trổ tinh xảo. Kỹ thuật chạm lộng sử dụng trong việc trang trí các bao lam trang thờ rất phong phú như hoa văn dây quấn, hình sóng nước, hoa, điểu, hình kỷ hà, v.v… với các đường nét uyển chuyển, tinh tế tôn tạo sắc thái trang nghiêm và thần thánh cho điện thờ.

Nghệ thuật thư pháp qua các bảng hoành phi, câu đối ở đây ngoài tài nghệ chạm khắc thủ công còn là sự biểu diễn với các kiểu chữ “thảo”, “khải”, “lệ” qua các nét bút bay bướm, điêu luyện nhưng không kém phần mạnh mẽ. Ngoài ra miếu còn lưu giữ khá hoàn hảo các cổ vật như tượng tròn, chuông đồng, bia ký, tranh dân gian có niên đại lâu đời giúp nâng cao giá trị văn hóa lịch sử của cung thờ giúp các thế hệ sau hiểu biết nhiều hơn niềm tin tín ngưỡng của cha ông. Cụ thể như bức hoành có niên đại từ thời Quang Tự (1899) ở gian tiền điện, chiếc chuông đồng được khắc dấu tích thời Quang Tự (1897) và tấm bảng đồng khắc họ tên của 48 vị phu nhân đã quyên góp tiền bạc, gạch đá để trùng tu cung thờ vào năm Trung Hoa dân quốc thứ 17 (1928). Tranh vẽ các vị võ tướng môn thần (thần canh cửa) trên cửa ra vào với đường nét sắc sảo và màu sắc sinh động có từ lần trùng tu năm 1903.

2. Giá trị định hướng phát triển văn hóa cộng đồng

2.1. Định hướng nhân cách sống

Trên phương diện định hình nhân cách, tín ngưỡng Thiên Hậu cũng là một kênh giáo dục đạo đức, lối sống hiệu quả và sâu sắc cho cộng đồng. Miếu Bà đã trở thành nơi để lập những lời thề nguyền tuyên xưng sự trung thực, để xác tín những điều không thể hay khó kiểm chứng từ việc làm ăn buôn bán, đến trao đổi vay mượn và cả những lời thề tình yêu đôi lứa. Khi đó vai trò của Bà lại trở thành người làm chứng, giám sát và thực thi trừng phạt. Đồng thời cũng không thể bỏ qua chức năng quan trọng khác của tín ngưỡng nói chung hay tín ngưỡng Thiên Hậu nói riêng đó là mang lại trạng thái cân bằng cho tâm lý con người. Xét ở phương diện tâm thần, có thể nói đây cũng chính là liệu pháp điều trị khủng hoảng tâm lý bằng phương pháp “tự kỷ ám thị” nhằm giải tỏa mọi ức chế bằng cách trút gánh nặng của mình vào thần linh để đầu óc thanh thản, tạo sự cân bằng tâm lý để tiếp tục sinh hoạt, sắp xếp những công việc hàng ngày và vững bước tiến tới mục tiêu đã hoạch định. Không thể phủ nhận mỗi lần đến cung thờ hay tham gia vào những sinh hoạt lễ hội của tín ngưỡng, dưới sự ảnh hưởng của không khí thiêng liêng, phảng phất uy linh thần thánh soi rọi qua những nghi thức trang trọng cùng với những hoạt động nhằm đề cao lòng biết ơn, cách sống nhân nghĩa, hướng thiện, tinh thần vì cộng đồng sẽ giúp người tham dự nhìn nhận lại bản thân.

Ý thức mượn tục thờ Thiên Hậu, mượn “cái thiêng” để thực hiện chức năng giải tỏa ức chế tâm lý, giáo hóa tâm tính con người, giúp định hình nhân cách và hướng cộng đồng về lối sống cao đẹp được người Hoa thực hiện suốt hơn ba trăm năm qua và nay dưới sự chung tay góp sức của các tộc người anh em đã góp phần chứng minh giá trị về mặt văn hóa tinh thần của tín ngưỡng Thiên Hậu đối với người dân ở Cà Mau.

2.2. Giá trị cố kết cộng đồng

Giá trị cố kết cộng đồng là đặc điểm vốn có của mọi dạng thức tín ngưỡng do con người biết tận dụng uy linh, quyền năng thần thánh (cái siêu hình) để gắn kết các thành viên cộng đồng mình cho các mục đích nhân sinh được định dạng sẵn.

Miếu Thiên Hậu ở Cà Mau cũng không ngoài xu hướng chung đó. Những người Hoa di cư luôn mang theo tâm lý phải rời xa xứ sở, lưu lạc tha phương nên họ muốn giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau không chỉ vì tình đồng hương mà còn để khỏa lấp tâm lý nhớ quê nhà, để cảm thụ tình cảm ấm áp giữa những người cùng ngôn ngữ nơi đất khách và giữ mối liên lạc với quê hương bản quán. Có thể nói ở giai đoạn đầu của làn sóng di cư đến Nam Bộ, Hội quán đóng vai trò quan trọng hơn cơ sở thờ tự do nhu cầu ổn định cuộc sống và thực hiện sinh kế là điều thiết yếu, phải quan tâm hàng đầu.

Sau đó, khi đã có nơi trú ngụ và công việc, người ta mới nghĩ đến nhu cầu tâm linh và việc giữ gìn ngôn ngữ bản quán. Thế nên miếu thờ và trường học được xây dựng để phục vụ cộng đồng. Vai trò của Hội quán là nơi đón tiếp, giúp đỡ những người Hoa mới nhập cư về mặt kinh tế. Miếu thờ là chỗ dựa tinh thần, nơi ghi nhớ công ơn thần thánh và đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng trong những lúc nhân sinh mỏi mệt. Còn trường học dạy tiếng Hoa miễn phí cho con em trong cộng đồng để duy trì truyền thống tộc người. Nói cách khác, ở giai đoạn này, bộ ba thành phần Hội quán – miếu thờ – trường học là những mắt xích để cố kết cộng đồng, là mối liên hệ ràng buộc kết nối các nhóm phương ngữ để giữ gìn văn hóa truyền thống và phát huy tinh thần tương thân tương ái giúp cộng đồng người Hoa trụ vững trên vùng đất mới.

Hiện nay đại diện cho cộng đồng người Hoa ở Cà Mau là Hội Tương tế người Hoa trực thuộc quản lý của Ủy ban Mặt trận tổ quốc, đặt trụ sở tại số 88 đường Lý Thái Tôn, phường 2, thành phố Cà Mau. Hoạt động của Hội Tương tế và trường dạy tiếng Hoa (trước đây mang tên Dục Tài, sau này đổi thành Nguyễn Tạo) đã từng có thời gian suy giảm do kinh phí hạn hẹp và những chính sách quản lý giáo dục của nhà nước. Trong khi đó người tham gia tín ngưỡng Thiên Hậu ngày càng đông, dân chúng chủ yếu quyên góp cúng dường cho miếu Bà. Chính vì thế để thuận tiện cho hoạt động của Hội, cộng đồng người Hoa đã thống nhất nguyên tắc, trưởng Ban Trị sự của miếu Bà sẽ là Hội trưởng của Hội Tương tế. Như vậy chi phí cho các hoạt động của Hội cũng được nguồn quỹ của miếu Bà san sẻ. Từ đó miếu Bà trở thành nguồn đóng góp chính cho các hoạt động xã hội của cộng đồng người Hoa ở Cà Mau, và trở thành mắt xích chính, nhân tố chủ chốt trong việc cố kết tộc người qua các hoạt động từ thiện và công ích. Chẳng hạn hoạt động phát gạo cho người nghèo vào dịp rằm tháng bảy; tham gia các hoạt động như chương trình “Nhịp cầu yêu thương” ủng hộ xây dựng 13 cây cầu xi măng cho các huyện vùng sâu như U Minh, Bộ Tời với chi phí 260 triệu; chương trình xây nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết cho bà mẹ Việt Nam anh hùng hay các hộ nghèo khó khăn khoảng 450 triệu; ủng hộ 20 suất học bổng cho hội khuyến học giúp đỡ học sinh nghèo hiếu học khoảng 30 triệu và đóng góp cho chương trình cứu trợ thiên tai lũ lụt cho đồng bào miền Trung khoảng 250 triệu, v.v… Các hoạt động này đã giúp tăng thêm tình làng nghĩa xóm, tinh thần tương trợ và đoàn kết lẫn nhau. Ở đây sự cố kết cộng đồng không chỉ tồn tại trong phạm vi tộc người mà đã lan ra toàn xã hội.

2.3. Giá trị ứng biến với những tác động của thời cuộc

Với đà biến chuyển của xã hội hiện đại, khoa học kỹ thuật phát triển đi cùng với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa dẫn đến nhu cầu di chuyển để học tập, làm việc ở đô thị lớn đã làm tan chảy một phần trí tuệ cư dân Cà Mau (trí thức rời quê). Hiện tượng giới trẻ quay lưng với văn hóa truyền thống và hào hứng đón nhận các luồng văn hóa mới đã đặt ra một thách thức lớn cho sự phát triển của các loại hình tín ngưỡng dân gian, ứng biến để đồng hành với thời cuộc hay trôi vào quên lãng? Với những kinh nghiệm ứng biến với các nền văn hóa đã diễn ra trong lịch sử, tín ngưỡng Thiên Hậu ở Cà Mau đã và đang phát triển theo chiều hướng tích cực.

Do tín ngưỡng không tách rời khỏi đời sống xã hội nên nó luôn vận động và biến đổi theo nhịp sống của thời đại. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, tín ngưỡng Thiên Hậu đã có nhiều trải nghiệm trong việc thích ứng với xã hội. Chẳng hạn việc “nội kết ngoại tùng” (liên kết trong, mở rộng ngoài) thể hiện qua hai bình diện sinh hoạt tín ngưỡng và cấu trúc kiến trúc, mỹ thuật đã đề cập ở phần trên. Thế nên ứng biến với thời cuộc là biết lưu giữ truyền thống một cách phù hợp với cuộc sống hiện tại tạo sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại. Như nhận định của ông Trịnh Văn K. về những biến đổi của tín ngưỡng Thiên Hậu ở thành phố Cà Mau: “Những lễ hội thì nghe theo những người đi trước, cụ ông cụ bà truyền lại, cố gắng giữ truyền thống. Nhưng cũng có một số giản lược chẳng hạn hồi xưa mỗi 24 Tết đưa Bà về trời thì trống chiêng dẹp hết không cho đánh, rồi tối mùng ba khi rước Bà về thì trong Ban hội xin keo để xem năm nay có mưa thuận gió hòa không, nghi lễ có múa lân đốt pháo còn bây giờ Nhà nước không cho đốt pháo thì chỉ múa lân thôi. Trước đây bắt buộc phải đúng 12 giờ khuya mới rước Bà về còn bây giờ thì rước sớm một chút khoảng 10 đến 11 giờ khuya để mọi người về lo cúng trong gia đình”(4).

Hay những thay đổi ở phương diện biểu diễn nghệ thuật như sự có mặt của đội kèn Tây trong Hội âm nhạc Đồng Tâm đã giúp cho hoạt động của Hội thêm phần khởi sắc và theo kịp thị hiếu của cộng đồng. Còn trong chương trình sân khấu vào lễ vía Bà là sự kết hợp hài hòa giữa âm nhạc và nghệ thuật biểu diễn của ba cộng đồng Hoa - Việt - Khmer (đã đề cập phần trên) minh chứng cho sự thay đổi khéo léo, vận động theo xu hướng hiện đại để thu hút số đông cộng đồng, giúp tín ngưỡng ngày càng phát triển cũng như nâng cao tinh thần đoàn kết các tộc người trong xã hội.

Thiên tai, lũ lụt và biến đổi khí hậu ngày càng rõ nét khiến cho tỉnh Cà Mau và nhiều khu vực Tây Nam Bộ chịu ảnh hưởng nặng nề. Theo lý thuyết thang nhu cầu của Abraham Maslow, một khi bối cảnh sống thay đổi lập tức nó tác động đến từng bậc nhu cầu của con người, trong đó nhu cầu được an toàn càng có giá trị then chốt. Khi đó những kinh nghiệm dân gian đúc kết được gắn với uy linh của Bà Thiên Hậu chắc chắn càng có giá trị (sự kết hợp các giá trị thiêng và phàm), ví như kinh nghiệm đi biển, kinh nghiệm đi rừng, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, kinh nghiệm tổ chức, gắn kết cộng đồng, tinh thần tương thân tương ái v.v… càng phát huy tác động sâu sắc đối với đời sống xã hội. Mặt khác, các giá trị tôn trọng tự nhiên và thái độ chung sống hài hòa thể hiện qua tín ngưỡng thờ Thiên Hậu sẽ góp phần thay đổi thái độ nhận thức và hành vi của cộng đồng đối với môi trường và xã hội.

Bên cạnh đó xu thế mới của chủ nghĩa hậu hiện đại đặt trọng tâm ở sự trải nghiệm, sự hiểu biết tri thức, kinh nghiệm sống của các cộng đồng cư dân bản địa được coi trọng. Thế hệ trí thức mới đặc biệt chú trọng ở sự ngưng tụ của lịch sử văn hóa, đọng lại ở từng mái ngói, từng tiếng trống đình miếu và không khí tưng bừng, náo nhiệt của hội hè đình đám. Khi tư tưởng và cách nhìn nhận của thế hệ trẻ dần thay đổi thì văn hóa tín ngưỡng cũng thay đổi theo, bởi họ chính là những chủ thể sẽ duy trì và sáng tạo thêm những giá trị mới cho tín ngưỡng đã có. Xu hướng này đã bắt đầu xuất hiện ở một số tỉnh thành khi ra đời loại hình du lịch văn hóa – hành hương vừa tham quan các di tích, danh lam thắng cảnh kết hợp với thỏa mãn nhu cầu tâm linh và tìm hiểu văn hóa tộc người là dạng du lịch mang đến nhiều trải nghiệm thú vị có thể thu hút lượng lớn du khách tham gia, nhất là giới trẻ muốn tìm hiểu về văn hóa dân tộc hay các khách ngoại quốc muốn hiểu biết thêm về văn hóa Việt Nam. Chẳng hạn miếu Thiên Hậu Tuệ Thành ở quận 5, thành phố Hồ Chí Minh là một trong những di tích mang đậm nét kiến trúc – mỹ thuật độc đáo của cộng đồng người Hoa Chợ Lớn luôn là điểm tham quan quan trọng của các đoàn du khách trong và ngoài nước khi đến thăm viếng thành phố mang tên Bác. Tương tự, Kiến An cung ở Sa Đéc, Vĩnh An cung ở Vĩnh Long, miếu Thiên Hậu Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng và miếu Thiên Hậu thành phố Cà Mau cũng là các di tích kiến trúc – mỹ thuật quan trọng, là điểm đến được cộng đồng chia sẻ.

Có thể thấy là một phần của văn hóa tín ngưỡng được chia sẻ bởi cả ba cộng đồng Hoa, Việt, Khmer, tín ngưỡng thờ Thiên Hậu ở Cà Mau đã và đang thay đổi để ứng biến với các tác động của thời cuộc, để tiếp tục phát huy các giá trị lưu giữ truyền thống, định hướng các giá trị chân thiện mỹ, giáo dục nhân cách sống và cố kết cộng đồng đa văn hóa đồng thời chấp nhận dung hòa với các dòng văn hóa đại chúng mới như đã từng điều chỉnh để thích ứng với môi trường đa văn hóa ở địa phương.

Kết luận

Cùng với quá trình dung hợp văn hóa đa tộc người trong suốt ba trăm năm qua, tín ngưỡng Thiên Hậu dần hấp thụ yếu tố văn hóa từ các cộng đồng xung quanh để phù hợp với nhịp sống xã hội hiện tại. Ngược lại, các tộc người cũng dần chấp nhận tín ngưỡng với tấm lòng thành kính và xem đó như là một trong những hình thức tín ngưỡng dân gian của vùng. Tục thờ Thiên Hậu nhìn chung mang tính mở, sẵn sàng giao lưu văn hóa đa tộc người trở thành biểu tượng của sự giao lưu văn hóa Hoa – Việt – Khmer đồng thời phản ánh sinh động tính dung hợp văn hóa đa tộc người tại tỉnh Cà Mau cũng như toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Bên cạnh đó, tín ngưỡng cũng mang lại các giá trị thiết thực khi bảo lưu những di sản văn hóa quý báu cho đời sau, trở thành chỗ dựa tinh thần vững chắc cho người dân và đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng đời sống xã hội. Có thể khẳng định tín ngưỡng giống như chất keo gắn kết cộng đồng Hoa giúp giữ gìn bản sắc tộc người đồng thời góp phần nâng cao tinh thần đoàn kết các dân tộc trong vùng thông qua việc đề cao những giá trị nhân văn như lòng biết ơn, tinh thần tương thân tương ái, biết chia sẻ đùm bọc lẫn nhau nhằm hướng đến sự phát triển bền vững của xã hội.

 

Chú thích:

  1. Tại Thiên Hậu Cung xã Phú Hưng, huyện Cái Nước; thị trấn sông Đốc, huyện Trần Văn Thời; thị trấn Thới Bình, huyện Thới Bình.
  2. Cung thờ tại thị trấn sông Đốc, huyện Trần Văn Thời.
  3. Tên gọi Việt hóa theo cách phát âm trong tiếng Quảng Đông của từ “長衫” nghĩa là trường sam, áo dài. Một loại trang phục truyền thống Trung Quốc hay thấy ở vùng Thượng Hải nên còn gọi là áo dài Thượng Hải.
  4. Biên bản phỏng vấn số 7.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Hội Văn học Nghệ thuật Cà Mau (2008), Đôi nét phác thảo văn hóa dân gian Cà Mau, Nxb Phương Đông, Hồ Chí Minh.
  2. Trần Hồng Liên (2005), Tục thờ cúng và lễ hội truyền thống của Bà Thiên Hậu ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, tham luận Hội thảo Folklore Châu Á, Viện Văn hóa dân gian, Hà Nội.
  3. Trần Hồng Liên (2005), Văn hóa người Hoa ở Nam Bộ - Tín ngưỡng và Tôn giáo, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  4. Trần Hồng Liên (chủ biên) (2007), Văn hóa người Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  5. Nghê Văn Lương – Huỳnh Minh (1972/2003), Cà Mau xưa, Nxb Thanh Niên, Hồ Chí Minh.
  6. Ngô Đức Thịnh (2009), Đạo Mẫu Việt Nam, Tập 1, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
  7. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2001), Tín ngưỡng và Văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  8. Nguyễn Ngọc Thơ (2011), Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hoa Nam, Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, (tập 14), tr 42-60.
  9. Phạm Văn Tú (2008), Miếu, Lăng, Cung thờ ở Cà Mau – Tín ngưỡng và giá trị nhân văn, Luận án Tiến sĩ Văn hóa học, Viện nghiên cứu Văn hóa.
  10. Phạm Văn Tú (2011), Tín ngưỡng thờ Bà Thiên Hậu ở Cà Mau, Nxb Khoa học Xã hội, Hồ Chí Minh.
  11. Phan An (chủ biên) (2004), Chùa Hoa ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
  12. Phan An (chủ biên) (2006), Góp phần tìm hiểu văn hóa người Hoa ở Nam Bộ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hồ Chí Minh.
  13. Tsai Maw Kuey (1968), Người Hoa ở miền Nam Việt Nam, Luận án Tiến sĩ (Bản dịch của Ủy ban nghiên cứu Sử học và Khoa học của Bộ Quốc gia Giáo dục Sài Gòn). - Paris: Thư viện Quốc Gia Paris.

Nguồn: Tạp chí Văn hóa và Du lịch, Vol. 7, số 2&3 (82&82), tháng 3&5/2016

20170922 Mieu ba chua Xu

Ảnh: Miếu Bà chúa Xứ - Châu Đốc

Nam Bộ là vùng đất mới, trong quá trình khai hoang mở đất của cư dân cũng là quá trình cư dân mang theo hành trang tinh thần của mình từ nhiều vùng, miền khác nhau khi đến tụ cư tại Nam Bộ. Tín ngưỡng ở Nam Bộ vì vậy càng phong phú, đa dạng. Mặt khác, tín ngưỡng ở Nam Bộ còn là sản phẩm của quá trình giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân sống cộng cư và cận cư. Vì vậy, có thể thấy các thành tố có trong tín ngưỡng từng tộc người cư trú ở Nam Bộ như Kinh, Hoa, Chăm, Khmer đều có một ảnh hưởng nhất định trong việc định hình thể loại, diện mạo của các tín ngưỡng thờ nữ thần cũng như thờ mẫu ở Nam Bộ.

Khó có thể thống kê hết số cơ sở thờ tự thuộc tín ngưỡng dân gian ở Nam Bộ. Ngoài những đình, miếu, đền, điện được phân bố đều khắp có đặt thờ nữ thần, mẫu, các vị này còn được đặt thờ phối tự bên trong nhiều ngôi chùa Phật giáo. Không gian tín ngưỡng ở Nam Bộ vì vậy khá rộng rãi và mang tính phức hợp.

Bài viết giới hạn trong việc nêu lên những đặc điểm thờ mẫu ở Nam Bộ trong sự so sánh với Bắc Bộ, Trung Bộ và với một số nơi khác trong khu vực có thờ mẫu, góp phần nhận diện những giá trị tinh thần trong tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nêu lên đặc trưng tín ngưỡng mang yếu tố văn hóa vùng Nam Bộ; đồng thời cũng góp phần nhận diện quy luật thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam, để từ đó gợi mở hướng bảo tồn các giá trị tinh thần này trong bối cảnh hội nhập

1.  Thờ mẫu ở Nam Bộ - Những đặc điểm

Thờ mẫu có quan hệ mật thiết với thờ nữ thần. Ngô Đức Thịnh đã từng nhấn mạnh: “Mẫu đều là nữ thần nhưng không phải tất cả nữ thần đều là mẫu thần, mà chỉ một số nữ thần được tôn vinh là mẫu thần (...) đạo mẫu gắn liền với tục thờ mẫu dân gian, nhưng như thế không có nghĩa mọi mẫu thần đều thuộc điện thần của đạo mẫu”.(1)

“Mẫu có gốc từ Hán-Việt, tiếng Việt là mẹ. Nghĩa ban đầu, mẫu hay mẹ đều để chỉ một người phụ nữ đã sinh ra một người nào đó, là tiếng xưng hô của con đối với người sinh ra mình. Ngoài ý nghĩa xưng hô thông thường, từ mẫu và mẹ còn bao hàm ý nghĩa tôn xưng, tôn vinh, chẳng hạn như mẹ Âu Cơ, mẫu Liễu Hạnh, mẫu nghi thiên hạ (...) là các vị thần linh gắn liền với các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ được người đời gán cho chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người. Đó là trời, đất, sông nước, rừng núi”.(2)

Thờ mẫu ở Nam Bộ mang tính phức hợp, đa dạng và đa nguyên. Có thể lần lượt phân tích, tìm hiểu đặc điểm của các tính chất này.

1.1. Tính đa dạng

Ở miền Nam, tín ngưỡng thờ mẫu không chỉ đơn thuần là sự lưu giữ, kế thừa từ tín ngưỡng thờ mẫu ở miền Bắc. Nếu như ở miền Bắc, tín ngưỡng thờ mẫu với hình thức từ Tam phủ (Mẫu Thoãi, mẫu Thượng Thiên, Địa Mẫu) đến Tứ phủ (Mẫu Thoãi, mẫu Thượng Thiên, Địa Mẫu, mẫu Thượng Ngàn) cho thấy hình thức tín ngưỡng nữ thần đã được phát triển, nâng cao địa vị các nữ thần, đặc biệt là những thần nữ có liên quan đến 4 yếu tố: trời, đất, nước, rừng, là 4 yếu tố chiếm vị trí quan trọng trong đời sống con người, trong sản xuất nông nghiệp cũng như đời sống tâm linh, đã trở thành đạo mẫu; thì ở miền Nam, tính đa dạng trong thờ mẫu được thể hiện qua tư duy tích hợp và hướng thượng. Từ các nữ thần có liên quan đến 4 yếu tố trời, đất, nước, rừng, tư duy hướng thượng của cư dân Nam Bộ còn “sắp xếp” những bậc thang của mẫu Nam Bộ theo chiều cao: từ Thánh Mẫu đến Phật Mẫu / Vô Cực Đại Thiên Tôn. Có thể nhận thấy tính đa dạng của các mẫu ở Nam Bộ thông qua từng vị, liên quan

đến các cõi trời, đất, nước, rừng. Tuy nhiên, càng đi vào miền đồng bằng Nam Bộ, yếu tố rừng ngày càng nhạt dần, yếu tố nước nổi trội hơn. Vì vậy, tính đa dạng của hình thức thờ mẫu ở Nam Bộ, ngoài sự đa dạng trong chức năng, còn thể hiện sự đa dạng trong không gian thờ tự, trong tượng thờ và cách thờ phối tự trong một cơ sở.

Diêu Trì Kim Mẫu

Địa Mẫu chơn kinh ghi rằng: “Phật Địa Mẫu, có pháp danh là Diêu Trì Kim Mẫu, biệt hiệu Vô Cực Tổ Mẫu, ngự trên cõi thượng tối cao”.(3) Tín đồ Minh Sư gọi Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Thiên Tôn. Như tên gọi cho thấy vị trí tối thượng của Diêu Trì Kim Mẫu. Trong điện thờ chính của đạo Minh Sư,(4) vị trí của Diêu Trì Kim Mẫu được đặt ở trung tâm. Minh Sư là một đạo giáo có nguồn gốc từ Trung Quốc, được truyền sang Việt Nam vào năm 1863. Thành viên tham gia phong trào Thiên Địa Hội. Đầu thế kỷ 20, ở Việt Nam, thành viên còn bao gồm những người yêu nước chống Pháp. Đạo in ấn sách Đạo Nam kinh, như là một hịch truyền kháng chiến chống xâm lược, thể hiện tinh thần yêu nước. Cần thấy rằng, từ những thế kỷ đầu Công nguyên, ở Việt Nam đã từng tồn tại một hình thức đa dạng trong tín ngưỡng tôn giáo, đó là hình thức tam giáo, được gọi là tam giáo đồng nguyên, tổng hợp Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo. Tam Tông miếu là cơ sở quan trọng tại Thành phố Hồ Chí Minh còn lưu giữ hình thức thờ tam giáo này. Trong quá trình phát triển, tam giáo chia ra 5 dòng: Minh Sư, Minh Lý, Minh Tâm, Minh Thiện, Minh Đường.

Trong 52 Phật đường (cơ sở thờ tự) của Giáo hội Phật đường Minh Sư đạo (đạo Minh Sư),(5) Quang Nam Phật đường (Quận 1, TPHCM) là cơ sở trung ương của đạo Minh Sư ở Nam Bộ hiện nay. Tại vị trí trung tâm ở chính điện, các Phật đường đều đặt thờ Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Thiên Tôn. Có nơi còn đặt thờ thêm tượng Địa Mẫu bên cạnh.(6)

Cách gọi và hình tượng thờ Diêu Trì Kim Mẫu tuy có khác biệt đôi chút, do quan niệm về ngôi vị của mẫu này trong dân gian, cũng như trong một số Phật đường của đạo Minh Sư, nhưng Diêu Trì Kim Mẫu vẫn luôn ở vị trí tối thượng. Diêu Trì Kim Mẫu thường được tạc tượng có tư thế ngồi trên ngai, nhưng Địa Mẫu lúc nào cũng trong tư thế đứng trên quả đất, mình khoác áo màu đen. Tại Quý Nam Phật đường (Quận 10, TPHCM), ngoài tượng cốt thờ Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Thiên Tôn, còn có bài vị ghi: “Vô Cực Cổ Phật”. Hay bên trái của Nam Nhã Phật đường (thành phố Cần Thơ), còn xây thêm ngôi miếu nhỏ, đặt thờ Địa Mẫu bằng tranh vải, đắp nổi. Ngoài cách thờ tự, những người theo Giáo hội Phật đường Minh Sư đạo còn thường xuyên sử dụng kinh Địa Mẫu chơn kinh, Vô Cực truyền tông chỉ. Đặc biệt, Cổ Phật cứu kiếp Đại Phạm Vương kinh được sử dụng khi cầu đại nguyện. Đây là những quyển kinh ca tụng, ngưỡng vọng và cầu xin sự trợ giúp của Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Đại Thiên Tôn, vị mẫu được người dân tín ngưỡng và đặt ở vị trí tối thượng, trong tâm thức cũng như trên điện thờ. Tính đa dạng trong thờ tự, trong cách gọi của Diêu Trì Kim Mẫu cũng được thể hiện qua kinh sách đọc, tụng. Từ quyển kinh chữ Hán như Kinh Địa Mẫu, qua quá trình phát triển, kinh đã được Việt hóa, có phần chánh văn và diễn nghĩa.(7) Có quyển còn được thể hiện song ngữ Hán-Việt, hoặc Hán-Nôm, sau này được Lê Công Đồng chuyển hoàn toàn sang Việt ngữ. Trong ngôi chùa Bửu Sơn, còn gọi là chùa Đất Sét ở thị xã Sóc Trăng, của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, ngoài các thần linh thể hiện đậm nét mối giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc Việt-Hoa qua việc thờ Thiên Phụ, Địa Mẫu trên bàn lộ thiên đặt giữa sân, như hầu hết các miếu của người Hoa, bên trong chùa còn có bàn thờ riêng dành cho Phật Mẫu Diêu Trì. Trên điện thờ của nhóm theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, một đạo giáo do Phật thầy Tây An khai sáng ở Nam Bộ, tại Ngọc Liên Hoa tịnh thất (Quận 7, TPHCM), cũng đặt tượng Diêu Trì Kim Mẫu trên chính điện, phối tự với Ngọc Hoàng Thượng Đế và Mẫu Mẹ.(8)

Trong đạo Cao Đài, vốn là tôn giáo bản địa, xuất hiện ở Nam Bộ vào năm 1926, đã thể hiện ý thức thờ tự cặp đôi, đối sánh âm-dương, trời-đất qua việc đặt thờ vị trí tối cao dành cho Ngọc Hoàng Thượng Đế (cha Trời) và Diêu Trì Kim Mẫu (mẹ Đất). Đạo Cao Đài quan niệm Phật Mẫu được nhân loại tôn xưng bằng nhiều danh hiệu khác nhau, tùy theo tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc và địa phương, bao gồm các danh xưng: Phật Mẫu, Diêu Trì Kim Mẫu, Kim Bàn Phật Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Đại Từ Mẫu, Tây Vương Mẫu, Địa Mẫu, Mẹ Sanh. Mỗi một thánh thất của đạo Cao Đài thuộc hệ phái Tây Ninh đều có thêm một điện thờ, được gọi tên là điện thờ Phật Mẫu, được xây dựng cách thánh thất khoảng 10 đến 20 mét.

Diêu Trì Kim Mẫu cũng được đặt thờ trong miếu, chùa của người Hoa như ở chùa Thiên Ý (Quận 6, TPHCM). Hình tượng Địa Mẫu với tư thế đứng trên trái đất, mình khoác áo choàng màu đen, lại được đặt trước cửa vào điện thờ Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen.

Trong cộng đồng người Hoa gốc Hải Ninh (Quảng Ninh) định cư tại tỉnh Đồng Nai, trong Quan Âm Hộ Quốc miếu đặt thờ Quan Thế Âm là chính, nhưng còn phối tự thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, Chúa Xứ Thánh Mẫu và Địa Mẫu ở xã Bàu Hàm, huyện Trảng Bom và xã Phú Vinh, huyện Định Quán…

Trong Khổng Thành miếu, còn được gọi là Minh Đức Nho Giáo Đại Đạo Chí Thiện Minh ở huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, bài vị chính tại chính điện đặt thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, bên phải phối tự bài vị Diêu Trì Kim Mẫu.

Tại Huế, “từ người con gái trưởng thành cho đến người phụ nữ 60 tuổi, trước khi ra lão đều thờ Tây Cung Vương Mẫu, hay còn gọi là Đoài Cung Thánh Mẫu, một vị nữ thần hộ mệnh của mình. Nơi thờ là trang Bà, đặt ở vị trí cao của gian tả trong nhà, trông về hướng tây”.(9)

Cửu Thiên Huyền Nữ

Là mẫu cai quản ở cõi Trời (Thiên Phủ) được thờ trong nhiều ngôi chùa của người Việt như Thiên Phước (Vĩnh Long); Bửu Lâm (Tiền Giang)… Bà còn là vị nữ thần độ mạng cho phái nữ trong từng gia đình. Mỗi gia đình ở nông thôn thường đặt trang thờ Bà, đối xứng với trang thờ Quan Thánh Đế Quân, vốn được xem là vị độ mạng cho phái nam.

Tại các miếu của người Hoa, như miếu Thiên Hậu-hội quán Quảng Triệu (Quận 1, TPHCM) cũng có trang thờ Bà. Cửu Thiên Huyền Nữ, như vậy, đối với dân gian, đã mang một chức năng kép. Trên chính điện của miếu Thiên Hậu của cộng đồng tộc người Hoa huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh, đặt thờ 3 vị mẫu: Cửu Thiên Huyền Nữ được đặt bên trái, phối tự với tượng Thiên Hậu Thánh Mẫu ở giữa và Chúa Xứ Thánh Mẫu bên phải. Đây là hình thức thờ tự khá đặc biệt, hiếm thấy trong ngôi miếu thờ Thiên Hậu ở đồng bằng sông Cửu Long.(10) Dọc chính điện, người Hoa còn đặt trang thờ Bà Chúa Tiên, Chúa Ngọc bằng tranh màu lộng kiếng. Như vậy, chỉ trong một ngôi miếu thờ Thiên Hậu của cộng đồng người Hoa, nhưng đã đặt thờ hầu hết các mẫu của cả người Hoa và người Việt tin theo. Sự tích hợp yếu tố âm (nữ) không chỉ qua các mẫu được đặt thờ mà còn có cả trang thờ, bài vị dành cho Các Bà Tiền Hiền của miếu ngay tại chính điện.

Chúa Xứ Thánh Mẫu

Là vị thánh mẫu quan trọng ở Nam Bộ. Hai ngọn núi cao ở Nam Bộ là nơi đặt thờ Linh Sơn Thánh Mẫu (núi Bà Đen) và Chúa Xứ Thánh Mẫu (Núi Sam). Tính đa dạng trong chức năng thờ tự và trong nghi thức thờ tự, cách phối tự thờ phụng cũng được thể hiện tại nhiều địa phương khác nhau. Cách thờ tự tại miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam đã thể hiện nhiều lớp văn hóa được hình thành trong quá trình giao lưu từ nhiều vùng miền khác nhau trong cả nước, và đọng lại qua hình thức thờ tự tại đây. Ngô Đức Thịnh đã dầy công nghiên cứu và có nhận xét rằng: “Nhìn vào các lớp văn hóa tạo nên biểu tượng tâm linh Bà Chúa Xứ, chúng ta đều thấy thấp thoáng hình bóng Bà Mẹ Xứ Sở-Pô Inư Nưgar của người Chăm, Thánh Mẫu Thiên Y A Na của người Việt, nữ thần Neang Khmau (Bà Đen), tục thờ Neak Tà của người Khmer và xa xưa hơn, nhưng cũng hiển hiện hơn là tất cả các biểu tượng trên đều được quy tụ trong linh tượng Shivalinga và Sakti của Shiva là nữ thần Uma của Bà La Môn giáo, mà truyền thuyết bức tượng Bà Chúa Xứ An Giang đã mách bảo chúng ta những điều như vậy, cho dù bề ngoài bức tượng đó cũng đã được cải trang dưới hình dáng thánh mẫu của người Việt”.(11)

Chúa Xứ Thánh Mẫu được đặt thờ không chỉ trên sườn Núi Sam (phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang), mà còn trong những ngôi miếu riêng biệt tại nhiều vùng miền ở Nam Bộ; trong điện thờ của đạo Minh Sư như Nam Nhã Phật đường (thành phố Cần Thơ); trong nhiều ngôi miếu ở sân chùa thuộc hệ phái Phật giáo Bắc Tông… Người dân còn đặt tên cho các cơ sở thờ bà ở nhiều nơi khác là miếu Bà Chúa Xứ 2, miếu Bà Chúa Xứ 3, như trường hợp ở Thủ Thiêm, tỉnh Bình Dương, để chỉ “mạng lưới” thờ tự bà xuống khắp các địa phương, nhưng đồng thời cũng cho thấy tính thống nhất về một mối của ngôi miếu thờ mang tính trung tâm của các miếu khác, là ở Núi Sam Châu Đốc. Người dân đến cúng bái đều cho là Bà Chúa Xứ 2, 3 là em của chị cả Chúa Xứ ở Châu Đốc!

Tính đa dạng trong tín ngưỡng Chúa Xứ Thánh Mẫu ở Nam Bộ còn được thể hiện qua cách thờ tự. Tại chính điện chùa Tây An (tỉnh An Giang), hai bên Chúa Xứ Thánh Mẫu còn có bà Chúa Tiên, Chúa Ngọc chầu hầu. Tính chất đa dạng, đa nguyên của tín ngưỡng Chúa Xứ đã làm cho hình tượng Chúa Xứ Thánh Mẫu ở Nam Bộ khoác nhiều chức năng khác nhau, tùy vào tâm thức của cư dân vùng, miền ở nhiều địa phương của Nam Bộ. Bà vừa là Địa Mẫu (cai quản càn khôn vũ tru), vừa là chức năng của một vị “Thành hoàng bổn cảnh” (cai quản vùng đất), vừa là vị thần hỗ trợ, ban phát tài lộc cho con người. Trong sân Phước Thái cung của cộng đồng người Hoa (huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh) còn đặt thêm ngôi miếu nhỏ thờ Chúa Xứ Thánh Mẫu.

Tại miếu Bà Chúa Xứ xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, bài vị thờ bà trong miếu cho thấy đây chính là Bà Chúa Ngọc: “Thiên Y A La Vằng Chúa Ngọc Tý Nương Tổng Chư Địa Đạo Chúa Xứ linh ứng chi vị”(12) hay miếu Bà Chúa Xứ ở xã Phước Tỉnh, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, vốn là một nhân thần, tên Nguyễn Thị Thảo, là phụ nữ người Hoa Triều Châu, từ Trung Quốc vào xã, khai hoang, lập nghiệp.(13)

Chính vì vậy, trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với quốc tế và khu vực, các cơ sở Bà Chúa Xứ 2, Bà Chúa Xứ 3 có điều kiện hình thành, phát triển. Ở những cơ sở này, chức năng ban phát tài lộc, hỗ trợ cho con người cả về sức khỏe và sự thịnh vượng là yếu tố nổi trội hơn chức năng là mẫu cai quản càn khôn vũ trụ.

Thiên Hậu Thánh Mẫu

Vốn là vị nữ thần phù hộ người đi biển của người Trung Hoa. Bà họ Lâm, tên Mặc, người đời Tống Huy Tông, sinh năm 1104, mất năm 1119, lúc 16 tuổi. Có thuyết nói bà sinh đầu đời Tống, mất lúc 21 tuổi. Trong cộng đồng người Hoa định cư ở Nam Bộ, thuộc nhiều nhóm phương ngữ khác nhau, đều thờ phổ biến Thiên Hậu Thánh Mẫu.

Mỗi triều đại ở Trung Quốc, bà đều được vua phong tặng mỹ hiệu:(14) đời Tống (Tống Cao Trung) phong tước vị đầu tiên là Phu Nhân Linh Huệ, kèm theo vinh hiệu là Thiên Ân vào năm 1156. Đời Nguyên, bà được phong tặng Thiên Phi; đời Thanh/ Khang Hy 1682, bà được gia phong Thiên Hậu Thánh Mẫu. Tổng cộng qua các đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, bà được phong tặng 28 lần mỹ hiệu, tước hiệu.(15) Do sự hiển linh cứu giúp người đi biển, ngoài tước hiệu và danh vị chính thức, người Hoa còn tôn xưng bà bằng nhiều tên gọi khác nhau. Người Phúc Kiến và Hải Nam thích gọi bà là Đại Mẫu. Người Quảng Đông gọi là Đức Bà. Ngôi miếu thờ bà, người Quảng Đông gọi Phò Miếu. Ngày nay, trong giai đoạn phát triển kinh tế đất nước Việt Nam, hội nhập khu vực và thế giới, Thiên Hậu Thánh Mẫu lại có thêm một chức năng mới, trở thành người phù hộ cho giới buôn bán, như chức năng của một vị thần tài. Tính địa phương hóa, đa dạng hóa trong không gian thờ tự, thời gian tiến hành lễ hội Thiên Hậu Thánh Mẫu cũng được thấy rõ như tại miếu Thiên Hậu ở Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương) của người Hoa. Do chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phong tục tập quán và văn hóa Việt/ Kinh, nên ngày vía Bà Thiên Hậu, thay vì là 23 tháng 3 âm lịch như những vùng khác, lại tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng, tức tết Nguyên tiêu của người Hoa và lễ Thượng nguyên của người Việt. Sau năm 2009, lại đổi thành ngày 26 tháng Giêng, do lễ hội ngày rằm tháng Giêng quá đông(16) khó tổ chức vía Bà chu đáo.

Ở thành phố Batangas (Philippines), nơi có đông cộng đồng theo Công giáo cư trú, trong chính điện miếu Thiên Hậu Thánh Mẫu đặt thờ pho tượng như cả hai bà: Mã Châu (Matzu) và Đức Trinh Nữ Caysasay, một biểu hiện của Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.(17) Trong ngày sinh nhật bà, linh mục Công giáo được mời đến nói chuyện cho nhiều người trước miếu. Ngôi miếu ấy mang tên: “Mã Châu Thiên Hậu cung” (Ma-tsu Tian Hou Kong). Đây là dạng đặc biệt của tiếp biến văn hóa khó có thể thấy ở Indonesia, Malaysia hoặc bất kỳ nơi nào ở Đông Nam Á.(18)

Linh Sơn Thánh Mẫu

Còn được gọi với tên phổ biến là Bà Đen. Tính đa dạng của tín ngưỡng Linh Sơn Thánh Mẫu được thể hiện trước hết qua nguồn gốc về vị mẫu này. Có hai truyền thuyết khác nhau. Một cho bà là người Khmer, tên Nàng Đênh, bị cha mẹ ép gả chồng, không đồng ý, nàng trốn vào núi và bị mất tích. Vì vậy, ngọn núi mang tên bà, núi Bà Đênh, gọi trại ra là Bà Đen.(19) Một truyền thuyết khác cho là bà mang tên Lý Thị Thiên Hương, đã có người yêu. Bà lên núi lễ Phật, bị quan quân rượt đuổi hãm hiếp, nên để bảo toàn trinh tiết, bà nhảy xuống vực sâu tự vẫn. Từ sự hiển linh của bà sau khi chết, nên khi lên ngôi, vua Gia Long sắc phong cho bà là Linh Sơn Thánh Mẫu.

Ngoài cơ sở thờ tự dành cho Linh Sơn Thánh Mẫu tại núi Bà Đen, còn khá nhiều ngôi chùa Phật giáo Bắc Tông, trong sân cũng đặt miếu thờ bà như chùa Giác Lâm (quận Tân Bình, TPHCM); hay trong chùa cũng dành một trang thờ bà riêng biệt trong chính điện (chùa Phụng Sơn, Quận 11, TPHCM).

Tính đa dạng trong thờ mẫu ở Nam Bộ còn được thể hiện qua việc khá nhiều nữ thần có liên quan đến trời, đất, nước, rừng, nhưng có nơi lại tôn xưng thành Thủy Long Thánh Mẫu, có nơi chỉ gọi là Thủy Long Nương Nương, như trường hợp miếu Bà Thủy tại xã An Thủy, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre đặt bài vị: “Thủy Long Thánh Mẫu Thiên Nương chi thần vị”.(20) Vì vậy, có thể thấy danh xưng mẫu đối với cư dân Nam Bộ còn tùy thuộc vào vị trí của nữ thần này trong bối cảnh địa-văn hóa của từng địa phương, tùy thuộc vào nhu cầu, khát vọng của người dân địa phương cần thiết có bà, vì bà đóng vai trò tối thượng trong cuộc sống của họ.

Điểm độc đáo, thể hiện tư duy tích hợp, đa dạng, đa nguyên trong thờ mẫu Nam Bộ còn là bức tranh thờ 12 vị thánh mẫu ở miếu Bà An Thuận, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre. Tranh thờ dạng tranh màu lộng kiến, thờ 12 vị mà dân gian đã nâng lên hàng mẫu, từ trên xuống gồm: Phật Bà Quan Âm, Phật Mẫu Chuẩn Đề, Phật Mẫu Diêu Trì, Địa Mẫu (hàng giữa); Linh Sơn Thánh Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Tiên, Chúa Ngọc (bên trái); Thiên Hậu Thánh Mẫu, Long Mẫu, Kim Hoa Thánh Mẫu, Hoàng Mẫu (bên phải).(21)

Nếu như tính tích hợp trong thờ mẫu có kết hợp với yếu tố Phật giáo để có danh xưng Diêu Trì Phật Mẫu ở Nam Bộ, thì cũng trong cộng đồng người Kinh sống định cư ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) lại lập miếu Tam Bà thờ Quan Âm Lão Mẫu, Liễu Hạnh Công Chúa và Đức Chiêu Quân. Cả ba đều được tôn thành thánh mẫu, là 3 vị mẫu mang chức năng ban phát con cái, phù hộ cho gia đình được bình an, may mắn và hạnh phúc.(22)

1.2. Tính đa nguyên

Tính đa nguyên của thờ mẫu ở Nam Bộ dễ nhận thấy vì được di dân từ nhiều nguồn gốc nhập cư vào. Ở miền Trung, tín ngưỡng thờ Mẹ Xứ Sở của người Chăm là bà Pô Inư Nưgar, còn được người Chăm gọi là Pô Nư Cành, đã được kết hợp với tín ngưỡng dân gian của người Việt, hình thành một dạng thức thờ tự mới, với cơ sở nổi tiếng là điện Hòn Chén (Huế), nơi đặt thờ bà Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi. Ngô Đức Thịnh đã nhận xét rằng: “vị nữ thần Chăm này là sự kết hợp giữa nữ thần Chăm bản địa và nữ thần Uma, vợ của Shiva. Bà là vị thần cao nhất của vương quốc Chămpa, được tôn xưng là Mẹ Xứ Sở”.(23) Nếu như ý thức tôn vinh Thiên phủ đã có trong tín ngưỡng thờ mẫu ở miền Bắc, thì khi vào miền Trung và Nam Bộ đã được chuyển hóa. Thời vua Khải Định, tín ngưỡng này được tôn thành Thiên Tiên Thánh Mẫu (Bà Mẹ Trời, Tiên, Thánh). “Ở Huế, tín ngưỡng thờ mẫu nơi đây đã phân lập khái niệm Thiên phủ ra hai cõi: Thượng thiên và Trung thiên. Khái niệm Địa phủ lại được chuyển hóa thành khái niệm Thượng ngàn. Trung thiên được hiểu là cõi trời trung gian giữa cõi trời Thượng thiên và thế gian”.(24) Do hai tên gọi của cùng một vị thánh mẫu này, tên gọi bà Chúa Tiên, phổ biến ở vùng Khánh Hòa, còn Chúa Ngọc phổ biến ở Huế, nên khi du nhập vào Nam Bộ, có người vẫn lầm tưởng đó là hai vị khác nhau, vì vốn xuất phát từ hai hướng.

Diêu Trì Kim Mẫu có nguồn gốc xuất phát buổi đầu từ sự phân nhánh của tam giáo đồng nguyên, dòng Minh Sư thuộc một trong năm nhánh này, được đưa từ Trung Quốc sang hay Thiên Hậu Thánh Mẫu, vốn là vị nữ thần hỗ trợ người đi biển, xuất hiện đầu tiên ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc); bà Chúa Tiên, Chúa Ngọc từ Huế và Nha Trang đưa vào…

Như vậy, có thể thấy tính chất phức hợp, đa dạng, đa nguyên của hình thức thờ mẫu ở Nam Bộ được thể hiện qua cách gọi, qua nghi thức thờ tự cũng như không gian thờ tự và trong cả cộng đồng tộc người Hoa và Việt.

2. Giá trị tinh thần truyền thống trong tục thờ mẫu ở Nam Bộ

Ở Nam Bộ, hình tượng thờ mẫu khá khác biệt so với miền Bắc và miền Trung. Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ có kế thừa, tiếp thu và sáng tạo. Tín ngưỡng thờ mẫu Nam Bộ thể hiện mối quan hệ, giao lưu văn hóa giữa Việt-Khmer (miếu Ông Tà trong sân miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam, hay trên núi Bà Đen), hay giữa Việt-Hoa (chùa Hải Phước An ở Sóc Trăng của người Việt có thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu) tạo ra một quần thể tín ngưỡng hay một điện thờ đa văn hóa. Ta thấy “có hiện tượng tích hợp nhiều lớp văn hóa-tín ngưỡng khác nhau: lớp văn hóa Phù Nam, lớp văn hóa cổ truyền Khmer, lớp văn hóa Chăm và lớp văn hóa Việt.(25)

Một nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng: “Khi những tôn giáo đã không còn đủ sức thu hút vào niềm tin cứu đời, thì thánh mẫu xuất hiện”.(26) Từ đó có thể thấy không phải ngẫu nhiên mà hai vị thánh mẫu quan trọng nhất ở Nam Bộ được đặt ở vị trí chiến lược, trên hai ngọn núi cao nhất Nam Bộ, là vùng tiếp giáp biên giới. Chính tâm thức của người dân có nhu cầu, khát vọng về một cuộc sống bình an, hạnh phúc đã đưa đến việc đặt để vị trí thờ tự trên. Khát vọng chính đáng ấy nói lên tư duy sáng tạo, xuất phát từ bối cảnh địa-chính trị, địa-lịch sử và địa-văn hóa của Nam Bộ. Tín ngưỡng Mẹ Xứ Sở đã được tôn vinh thành thánh mẫu ở miền Trung với Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi, một lần nữa lại tích hợp vừa là Địa Mẫu (Địa phủ), vừa là Mẫu Thượng Thiên (Thiên phủ) của đất Bắc. Chức năng tổng hợp dành cho các thánh mẫu ở Nam Bộ nói lên nhu cầu cần thiết được bảo vệ, được che chở tại một vùng đất phải đối đầu với quá nhiều cuộc chiến tranh xâm lược trực tiếp, cần thiết phải bảo vệ biên cương lãnh thổ. Huyền năng của các bà, các nữ thần đã được tôn vinh thành thánh mẫu ở Nam Bộ đã nói lên tinh thần yêu nước, khát vọng thanh bình, hạnh phúc hơn nơi nào hết của cư dân vùng đất mới! Đồng thời với những huyền thoại, truyền thuyết do người dân nêu lên đã phản ánh một bức tranh đa dân tộc, đa tôn giáo và đa văn hóa của Nam Bộ.

Nghi thức cúng tế trong các miếu, điện thờ mẫu cũng giống với nghi cúng đình vào dịp lễ Kỳ yên ở Nam Bộ. Tuy nhiên ở đình không diễn ra múa bóng rỗi, mà chỉ có ở miếu. Tính cộng đồng vẫn chiếm vị trí chủ đạo, vẫn là niềm tin và sự kỳ vọng chung của cư dân Nam Bộ đối với các thánh mẫu.

Nơi thờ tự các mẫu ở Nam Bộ có tên gọi khác với ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Nếu ở miền Bắc, thờ mẫu được đặt trong những phủ, đền, hay những quán của đạo Lão, hay một phần trong các chùa chiền, thì ở Nam Bộ, mẫu thường thấy phổ biến ở các đình làng, trong miếu, vốn là những nơi thờ tự phổ biến tín ngưỡng của cộng đồng cư dân tại đây.

Khảo sát danh xưng các mẫu ở Nam Bộ cho thấy những nữ thần được tôn vinh mẫu đều được gọi qua danh xưng Thánh Mẫu, Phật Mẫu. Điều này khá khác biệt so với tên gọi mẫu ở phía Bắc (Mẫu Thoãi, mẫu Thượng Ngàn, mẫu Thượng Thiên, Địa Mẫu) hay Lão Mẫu ở Quảng Tây. Nếu như mẫu chính là những nữ thần đã được tôn vinh, được đưa lên vị trí tột đỉnh, có liên hệ đến 4 yếu tố trời, đất, nước, rừng, thì khi vào miền Trung và Nam Bộ, các yếu tố ấy vẫn được lưu giữ, nhưng cũng đưa đến hiện tượng đặt nặng yếu tố này hơn yếu tố khác, hoặc sáng tạo thêm một số yếu tố mới, như cõi Trung thiên ở miền Trung, hay kết hợp nữ thần với thánh mẫu để hình thành một thần điện mới (thờ Bảy Bà). Điều này được quy định từ tính chất địa-văn hóa của vùng miền. Khung cảnh thiên nhiên khác biệt, xa dần vùng rừng núi, tiếp cận với đồng bằng Nam Bộ, nên mẫu Thượng Ngàn đã trở nên mờ nhạt. Thiên phủ đã được chuyển hóa, từ nhiên thần đến nhân thần (Thiên phủ Liễu Hạnh) rồi lại từ nhân thần đến nhiên thần (Liễu Hạnh  Cửu Thiên Huyền Nữ). Địa phủ, Thủy phủ được tôn thờ, được giữ lại qua các lớp văn hóa mới bao phủ, được gọi theo một danh xưng mới, nhưng về chất thì vẫn không thay đổi. Vì vậy, ta vẫn thấy về Địa phủ còn lại tên gọi Địa Mẫu, nhưng đã hình thành những “Mẫu mới”, được thánh hóa thành Chúa Xứ Thánh Mẫu, thành Linh Sơn Thánh Mẫu, cai quản một vùng đất rộng lớn, là hình tượng của Mẹ Xứ Sở, một Pô Inư Nưgar ở góc trời Nam. Những truyền thuyết khác nhau về hai vị thánh mẫu này chính là những cốt lõi, định hình cho cuộc thánh hóa này, để đưa những vị mẫu này, tuy ở vị trí tối cao nhưng có thể gần gũi hơn với con người, bởi vì họ cũng là người, được nhân dân gắn vào truyền thuyết nên có họ, có tên (Lý Thị Thiên Hương, Nàng Đênh…).

Từ đó có thể thấy, thờ mẫu ở Nam Bộ đã bộc lộ được một giá trị tinh thần phong phú của cư dân vùng đất mới. Ý thức lưu giữ, nhớ lại cội nguồn qua việc thờ Tam phủ, Tứ phủ vẫn đang còn tiếp tục hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh qua đền Sòng Sơn Thánh Mẫu (Quận 3), đền Mẫu Tuyên, đền Mẫu Thiên Hoàng, đền thờ Hai Bà Trưng và Thánh Mẫu Phủ Giầy; dù rằng về kiến trúc, bài trí tượng thờ đã có một ít khác biệt. Tiếp tục tôn thờ triết lý âm dương, ngũ hành nhưng có sáng tạo, tích hợp những yếu tố mới do quá trình giao lưu văn hóa ở miền Trung (Chúa Tiên, Chúa Ngọc) để hình thành tín ngưỡng Bảy Bà ở Nam Bộ. Đó là kết quả của tư duy tổng hợp giữa các nữ thần (bà Chúa Động, bà Cố Hỷ, bà Thủy, bà Hỏa và thánh mẫu Chúa Tiên, Chúa Ngọc, bà Chúa Xứ).

Cũng dễ dàng nhận thấy yếu tố sông nước được đặt lên vị trí tối cao của Mẫu Thoãi, vì Nam Bộ là vùng sông nước. Nhưng vào miền Nam, do quá trình cộng cư với người Hoa, nên tín ngưỡng Thiên Hậu Thánh Mẫu, vốn có nguồn gốc từ vị nữ thần của biển cả, bảo vệ người đi lại trên sông nước, đã được người Hoa tín ngưỡng phổ biến rộng rãi, đã chiếm đa số, có mặt hầu hết các vùng miền. Ở đồng bằng sông Cửu Long, khá nhiều ngôi miếu thờ bà đã được xây dựng cách nay hơn một trăm năm. Người Hoa ở Cà Mau, Bạc Liêu còn gọi bà là bà Mã Châu, phiên âm của tên gọi Mazou, có từ Trung Quốc.(27)

Phải chăng do ảnh hưởng gia phong danh xưng Thiên Hậu Thánh Mẫu dưới thời Thanh mà từ thế kỷ 17 về sau, ở Nam Bộ, các mẫu được gọi phổ biến là thánh mẫu? Ảnh hưởng giao lưu văn hóa qua danh xưng từ đời nhà Thanh có điều kiện du nhập và lưu giữ ở Trung và Nam Bộ rõ nét hơn Bắc Bộ, nhất là từ sau sự kiện phân chia Đàng Trong và Đàng Ngoài, di dân và tín ngưỡng-tôn giáo từ Trung Quốc đã có điều kiện đi thẳng vào Trung và Nam Bộ.

Trong đạo Cao Đài, một tôn giáo mang yếu tố dân tộc khá rõ nét, đã nêu chủ trương nổi bật trong giáo lý mang tính tổng hợp của đạo là “Quy nguyên tam giáo, ngũ chi phục nhất”. Phương châm hành đạo ấy cho thấy một nhân sinh quan, một nếp sống đạo vừa mang tính tổng hợp, vừa thể hiện quá trình tâm linh trong việc tu chứng. Theo đạo Cao Đài, quá trình tiến tu ấy phải tiến lên 5 bậc, đi từ Nhân đạo đến Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạoPhật đạo. Khi hình tượng, thiêng hóa các mẫu, đưa lên vị trí tôn vinh các mẫu ở Nam Bộ, ta thấy có danh xưng thánh mẫu (Linh Sơn Thánh Mẫu, Chúa Xứ Thánh Mẫu, Thiên Hậu Thánh Mẫu), còn vị trí tối thượng, cao nhất trong 5 bậc, được nâng lên hàng Phật, tương xứng với Phật Mẫu dành cho Diêu Trì Kim Mẫu, vì trong đạo Cao Đài chủ trương “tam giáo quy nguyên” trong đó có Phật giáo. Như vậy, ngoài danh xưng thánh mẫu phổ biến cho các mẫu, thì cũng thấy có Phật Mẫu. Do đó, từ tín ngưỡng nữ thần, qua quá trình dung hợp văn hóa, từ địa bàn chuyển cư miền Bắc vào Nam, Nam Bộ là vùng đất cuối cùng của tổ quốc, đã tích hợp, dung chứa trong nó bức tranh khá toàn cảnh về quá trình phát triển tâm thức về mẫu, đã thể hiện 5 bậc thang tiến hóa, hướng thượng, dành cho một số nữ thần ở Nam Bộ, có liên quan đến các yếu tố trời, đất, nước được tôn vinh, được đưa lên vị trí cao hơn nữ thần, để trở thành Thánh Mẫu, Phật Mẫu.

Từ yếu tố này đã bộc lộ trong tín ngưỡng thờ mẫu một tư duy hướng thượng và hướng thiện. Tâm thức phiếm thần của cư dân Việt dung chứa trong nó tư duy hướng thiện sâu sắc. Không phải ngẫu nhiên mà Lý Thị Thiên Hương (hay Nàng Đênh) lại được ngưỡng vọng và tôn kính đến nhường ấy. Huyền thoại về cái chết của cô gái trung trinh Lý Thị Thiên Hương, mượn cái chết để bảo toàn phẩm giá, là bài học lớn về việc giáo dục nhân cách cho người phụ nữ. Cũng không phải ngẫu nhiên mà bà Thiên Hậu lại được du nhập vào điện thờ Phật giáo, được đặt thờ phổ biến trong chùa Việt, trong miếu của người Hoa. Lòng hiếu thuận và tinh thần vô úy, xả thân vì mọi người như bà đáng được làm tấm gương soi cho nhiều thế hệ phụ nữ đời sau, và lại cũng gần gũi với tinh thần vô úy (không sợ hãi); với cái “dũng”, một trong ba yếu tố cơ bản của người theo đạo Phật phải có là bi, trí, dũng.

Tín ngưỡng thờ mẫu nếu như đã góp phần mang lại nhiều ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, thì một mặt khác, cũng chính xuất phát từ những điều kiện và các yếu tố ấy lại làm cho dạng thức tín ngưỡng này nhuốm màu sắc mê tín, nặng tính thần quyền, đưa đến một số suy nghĩ có thể sai lệch. Các bàn thờ mẫu, thờ cô (Cô Hồng, Cô Hạnh), thờ chúa (Chúa Hòn) bên trong chính điện đã “góp phần” đưa vào đây nhiều nghi lễ liên quan đến việc cầu cúng, xin xăm, bói quẻ, xin keo. Hình ảnh, tên gọi Phật Mẫu, vô hình trung đã đưa lại trong tư duy một số phật tử về một đạo Phật ngưỡng vọng Thượng Đế, tin rằng Thượng Đế ngự trị, ban phúc giáng họa, có quyền năng chi phối cuộc sống con người.(28) Những pho tượng thờ thần, thánh, đã làm mờ nhạt đi quan niệm và vai trò tự lực của con người. Tha lực của Phật, Bồ Tát chỉ góp phần hỗ trợ, vì Phật Thích Ca đã chẳng từng khuyên nhủ các đệ tử của mình: “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”.(29)

Các hình thức cúng tế như múa bóng, lên đồng, đâu phải lúc nào tự nó cũng đủ sức thuyết phục về một sự tích hợp các giá trị văn hóa-nghệ thuật. Từ các công trình nghiên cứu về hát văn, múa bóng, về đạo mẫu Việt Nam(30) quả đã mang lại một giá trị khoa học, một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, góp phần làm rõ, đi đến việc thừa nhận những giá trị văn hóa-nghệ thuật mà trong suốt tiến trình đi về phương Nam, tín ngưỡng thờ mẫu của dân tộc Việt Nam đã được tích hợp.

Như vậy, có thể thấy, thờ mẫu ở Nam Bộ không mang tính khuôn mẫu như ở Bắc Bộ, không trở thành một đạo mẫu, vì trong quá trình du nhập và phát triển ở Nam Bộ, do giao lưu văn hóa với nhiều vùng miền khác nhau, thờ mẫu ở Nam Bộ đã mang tính thoáng, mở, đã tích hợp nhiều loại hình tín ngưỡng thờ mẫu khác nhau. Từ nữ thần, một số bà đã được nâng lên vị trí mới, phổ biến với tên gọi thánh mẫu, Phật Mẫu có liên quan đến đất, nước, trời. Trong thờ mẫu ở Nam Bộ vẫn còn đọng lại những hình thức thờ tự của đạo mẫu Bắc Bộ. Thờ mẫu ở Nam Bộ vừa mang tính chung nhất vừa thể hiện nét đặc thù. Vì vậy, có thể nói rằng, thờ mẫu ở Nam Bộ đã góp phần minh chứng cho quy luật thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam.

3.         Bảo tồn và phát huy giá trị tinh thần của thờ mẫu Nam Bộ trong quá trình hội nhập

Trong giai đoạn hội nhập và toàn cầu hóa của đất nước và trên thế giới, việc bảo tồn, phát huy những giá trị tinh thần của thờ mẫu Nam Bộ cần nhắm đến mục tiêu phát huy vai trò của hệ giá trị (value system)(31) văn hóa cho sự phát triển xã hội Việt Nam hiện nay. Muốn vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị này cần thiết phải được thực hiện đúng hướng, sao cho hoạt động bảo tồn và phát triển mang tính hài hòa, hỗ trợ lẫn nhau, trên cơ sở “nguyên tắc phát triển phải là nguyên tắc chỉ đạo cho việc bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống.(32) Dựa trên những đặc điểm của tín ngưỡng thờ mẫu Nam Bộ, với tính chất thoáng mở, tích hợp và đa nguyên, đa dạng, sẽ là những tiền đề tốt, tạo điều kiện cho việc phát triển các đặc tính này trong quá trình hội nhập. Vì vậy, qua chức năng đa dạng của thờ mẫu Nam Bộ cho thấy chủ nghĩa yêu nước là nhân tố hàng đầu trong bảng hệ giá trị dân tộc. Phát huy tinh thần yêu nước cũng cần xét đến mối tương quan trong tọa độ không gian, thời gian và chủ thể văn hóa. Cần xét đến tính tương đối và tính chất lịch sử, cụ thể của chủ nghĩa này.

Tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ đã thể hiện tính chất khá tương đồng với các hình thức tín ngưỡng tại một số quốc gia Đông Nam Á, châu Á, vốn đã được địa phương hóa, đa dạng hóa văn hóa trong quá trình phát triển, như trường hợp cộng đồng người Hoa hải ngoại tại Indonesia, Malaysia, Philippines...

Chính tính chất thoáng mở đã thúc đẩy quá trình hội nhập văn hóa giữa các quốc gia, giữa tín ngưỡng với tôn giáo diễn ra nhanh chóng hơn, nhưng cũng dễ dàng đưa đến việc đánh mất bản sắc một cách sớm hơn so với những lĩnh vực mang tính bảo thủ, khép kín, khuôn mẫu. Vì vậy, nhận định, đánh giá, đi đến việc định hướng cho từng lĩnh vực riêng lẻ, chỉ ra những đặc điểm và các giá trị tinh thần của từng lĩnh vực trong văn hóa Việt Nam hiện nay, trong giai đoạn hội nhập lại càng trở nên cấp thiết. Cuộc khảo sát, điều tra xã hội học vừa qua đã được tiến hành tại miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam Châu Đốc, của Phân viện Văn hóa-Nghệ thuật Việt Nam tại TPHCM,(33) là một trong những hoạt động nghiên cứu khoa học có ý nghĩa thực tiễn, góp phần vào việc định hướng và đề ra giải pháp khả thi cho sinh hoạt tín ngưỡng, trong đó có thờ mẫu ở Nam Bộ, trong quá trình đổi mới và hội nhập.

Nhiều giá trị mới sẽ được nảy sinh, định hình, phát triển trong quá trình hội nhập, toàn cầu hóa theo phương thức mà Ngô Đức Thịnh gọi là đa tuyến, sẽ làm mất đi một số giá trị văn hóa truyền thống, nhưng sẽ làm nảy sinh một xu hướng mới là “dân tộc hóa quốc tế”, sẽ làm cho thế giới lúc nào cũng “gồ ghề” và đa dạng.(34) Thời gian tới, tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ sẽ còn có những chuyển đổi mới, mang tính tích hợp thêm nữa và chắc chắn sẽ thể hiện đậm nét hơn nữa tính chất đa nguyên vì sẽ được tích hợp từ nhiều quốc gia ở Đông Nam Á và châu Á.

T H L

CHÚ THÍCH

  1. Ngô Đức Thịnh, 2009. Đạo Mẫu Việt Nam, tập I, Nxb Tôn giáo, Hà Nội, tr. 29.
  2. Ngô Đức Thịnh, sđd, tr. 29, 31.
  3. Kinh Địa Mẫu Chánh văn và diễn nghĩa và Ngọc lộ kim bàn diễn nghĩa tức là Diêu Trì Kim Mẫu cho nguyên nhơn xuống trần (1958), soạn giả Lâm Xương Quang, dịch giả Nguyễn Văn Nở, tr. 3.
  4. Nay đã được công nhận tư cách pháp nhân, có tổ chức giáo hội, mang tên Giáo hội Phật đường Minh Sư đạo.
  5. Theo số liệu thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ năm 2006. Năm 2008, đạo được công nhận tư cách pháp nhân, chính thức thành lập giáo hội có tên Giáo hội Phật đường Minh Sư đạo.
  6. Như tại Quang Nam Phật đường.
  7. Như quyển do Nguyễn Văn Nở dịch vào năm 1958.
  8. Theo sự giải thích của người phụ trách tịnh thất này thì Mẫu Mẹ ở đây là thờ mẹ của Ngọc Hoàng Thượng Đế.
  9. Trần Đại Vinh. Tín ngưỡng dân gian Huế, 1995, Nxb Thuận Hóa, tr. 85-86.
  10. Thông thường, trong ngôi miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, người Hoa thường phối tự hai bên là tượng Quan Thánh Đế Quân (trái) và Phúc Đức Chính Thần (phải).
  11. Ngô Đức Thịnh, sđd, tr. 282.
  12. Dương Hoàng Lộc 2008. Văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng ngư dân ven biển Bến Tre, Luận văn Thạc sĩ Văn hóa học, Đại học KHXH&NV, tr. 42.
  13. Trần Hồng Liên (chủ biên), 2004. Cộng đồng ngư dân Việt ở Nam Bộ, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 97.
  14. Tổng hợp từ các tư liệu:
    • Tsai Maw Kuey. Người Hoa ở miền Nam Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Thư viện Quốc gia Paris, 1968. Bản dịch tiếng Việt.
    • Bia ký miếu Thiên Hậu, Hội quán Tuệ Thành. Lập năm 1988.
    • Phan An, Phan Yến Tuyết, Trần Hồng Liên, Phan Ngọc Nghĩa. Chùa Hoa Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb TPHCM ,1990.
    • Liêu Địch Sinh. Hương Cảng Thiên Hậu sùng bái. Tam Liên thư điếm, Hương Cảng, 1996.
    • Sự tích bà Thiên Hậu. Hà Chương hội quán.
    • Keith Stevens. Chinese Gods, Collins & Brown, 1997.
  15. Liêu Địch Sinh. Hương Cảng Thiên Hậu sùng bái. Tam Liên thư điếm, Hương Cảng, 1996. Bản chữ Hán.
  16. Mỗi năm, số người các nơi về tham dự lễ hội hơn 10.000 người.
  17. Teresita Ang See and Go Bon Juan, 1997. The Chinese in the Philippines: problems and perspective, Kaisa Para Sa Kaunlaran, Inc. Manila, page 63.
  18. Tan Che-Beng, 2000. “Localization, Transnational relations, and Chinese religious traditions” in Intercultural relation, cultural transformation, and identity: the ethnic Chinese: Selected papers presented at the 1998 ISSCO conference, Edited by Tersita Ang See, Nxb Kaisa Para Sa Kaunlaran, Inc, Manila, page 289.
  19. Đỗ Thị Hảo, Mai Thị Ngọc Chúc, 1993.  Các nữ thần Việt Nam, Nxb Phụ nữ, tr. 147.
  20. Xem thêm Dương Hoàng Lộc, luận văn đã dẫn, tr. 49 và 184.
  21. Xem thêm Dương Hoàng Lộc, luận văn đã dẫn, tr. 56 và 184.
  22. Mã Cư Li, 2010. “Tôn giáo tín ngưỡng của người Kinh ở thôn Sơn Tâm, tỉnh Quảng Tây và chức năng xã hội của nó”, Nguyễn Thị Hường dịch. Tham luận Hội thảo quốc tế So sánh văn hóa Lan Thương và các dân tộc thuộc tiểu vùng sông Mê Kông, TPHCM, tháng 12/2000.
  23. Ngô Đức Thịnh, sđd, tr. 279.
  24. Trần Đại Vinh, sđd, tr. 137.
  25. Ngô Đức Thịnh, sđd, tr. 286.
  26. Ngô Hưng Đan, 2008. “Thờ Phật và thờ thánh mẫu vùng đồng bằng Nam Bộ”, http:// daophatngaynay.com/viet/vh/thoPhatvathoThanhMau.htm
  27. Tượng bà Mã Châu dễ nhận biết qua khuôn mặt đen, hai tay cầm thẻ bài và đưa ngang trước ngực.
  28. Trong khi đó, Phật giáo chủ trương không có Thượng Đế ban phúc giáng họa cho con người, mà mọi hành động đều do từ mỗi cá nhân tạo nên.
  29. Trần Hồng Liên, 2009. “Giá trị tinh thần truyền thống trong tín ngưỡng thờ mẫu ở Nam Bộ (Nghiên cứu so sánh với Bắc và Trung Bộ)”. Tham luận Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa trong truyền thống Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập, Chương trình KX.03/06-10, đề tài KX.03.14/06-10, Trường ĐHKHXH và NV TP HCM, Khoa Văn hóa học, Biên Hòa.
  30. Xem Ngô Đức Thịnh, sđd.
  31. Theo Ngô Đức Thịnh hệ giá trị hay bảng giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng thường bao gồm 2 ý nghĩa: một là, các giá trị riêng lẻ liên kết nhau tạo nên một hệ thống các giá trị; hai là, có sự sắp đặt trước sau, độ nhấn về tầm quan trọng của từng nhân tố giá trị trong một bảng giá trị.
  32. Ngô Đức Thịnh, 2009. “Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập” trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, Tlđd, tr. 18.
  33. Xem: Phân viện Văn hóa-Nghệ thuật Việt Nam tại TPHCM, 2012. “Một vài nhận xét về hoạt động quản lý và tổ chức cúng lễ miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam”, Văn hóa Lịch sử An Giang, số 86, 87, tháng 5, 6/ 2012.
  34. Ngô Đức Thịnh, 2009. “Một số vấn đề lý luận nghiên cứu hệ giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập”, tư liệu đã dẫn, tr. 18-19.

Trần Hồng Liên, Hội Dân tộc học và Nhân học Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 9 (107), 2013

1. Biểu tượng là khái niệm phức tạp, có nhiều nghĩa. Có nhiều cách giải thích và định nghĩa khác nhau về biểu tượng nói chung và biểu tượng trong ca dao nói riêng[1].

Để hiểu rõ hơn bản chất của biểu tượng trong tác phẩm văn học và cũng từ đó phân biệt đầy đủ hơn các loại biểu tượng trong ca dao, theo chúng tôi, cần xác định sự khác nhau giữa ba khái niệm: hình ảnh, hình tượngbiểu tượng trong ca dao. Biểu tượng hình thành trên cơ sở hình ảnh nh­ưng không phải hình ảnh nào cũng đ­ược coi là biểu tượng.

20170808. truyen co tich

I. Trong những công trình nghiên cứu thuộc lĩnh vực văn hóa - văn học dân gian của Giáo sư Nguyễn Đổng Chi, bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam có một vị trí đặc biệt. Dư luận chung của giới khoa học cũng như của đông đảo bạn đọc xem bộ sách sưu tầm và nghiên cứu truyện cổ tích Việt Nam dày tới 2.740 trang(1) ấy là một “công trình nghiên cứu folklore đã trở thành cổ điển”.(2)

Năm 1990, trong một bài viết để tưởng niệm GS Nguyễn Đổng Chi,(3) GS Đinh Gia Khánh có một nhận xét tinh tế như sau: “Cần phải nhấn mạnh rằng trong không ít trường hợp, khi đọc lại lần thứ hai công trình của Nguyễn Đổng Chi, người ta lại thấy một khía cạnh mới của đối tượng khoa học văn hóa được đề cập đến ở trong ấy. Trong cùng một công trình khoa học của Nguyễn Đổng Chi, có thể thâu nhận được những khía cạnh thông tin khác nhau, nếu người đọc xuất phát từ những giác độ tiếp cận khác nhau và nhằm tới những mục tiêu khác nhau”.

Năm nay, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của GS Nguyễn Đổng Chi, đọc lại bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tôi đã có dịp trải nghiệm “cách đọc Nguyễn Đổng Chi” của GS Đinh Gia Khánh: “thấy được khía cạnh mới của đối tượng khoa học”, “thâu nhận được những khía cạnh thông tin khác nhau… xuất phát từ những góc độ tiếp cận khác nhau và nhằm tới những mục tiêu khác nhau”.

Bài viết ngắn này là một ghi chép sơ lược những “thâu nhận” bước đầu của tôi. Bài viết chỉ xoay quanh vấn đề mối quan hệ của truyện cổ tích với hiện thực, trong vấn đề ấy cũng chỉ nhằm tới một mục tiêu: Tìm lời đáp cho câu hỏi hiện thực trong truyện cổ tích là những hiện thực nào?

II.     Trước hết, xin tóm tắt trong một ít dòng cách tôi hiểu thế nào là quan niệm rộng về hiện thực trong truyện cổ tích.

Trong triết học, hiện thực/thực tại là thuật ngữ dùng để chỉ “toàn bộ những sự vật, sự việc đã biết hoặc chưa biết, bền vững hoặc nhất thời… [nói chung] là toàn bộ những gì đang xảy tới hoặc đang tiếp diễn… [Thuật ngữ] tính hiện thực chỉ tính chất của những gì có thực. Tính hiện thực là đặc điểm của các sự vật, sự việc và cả của toàn bộ các sự vật, sự việc, trong chừng mực mà những sự vật, sự việc ấy tồn tại độc lập với chúng ta… Tính hiện thực đối lập với hiện tượng bề ngoài, với ảo ảnh, ảo tưởng”.(4)

Trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn khác nhau, có những thuật ngữ khác nhau được dùng để chỉ những sự vật, sự việc “tồn tại độc lập đối với chúng ta” ấy. Thí dụ trong xã hội học, đó là các sự kiện xã hội, trong khoa học lịch sử đó là các sự kiện lịch sử, trong dân tộc học đó là các sự kiện dân tộc học, trong tâm lý học đó là các sự kiện tâm lý.

Về mối quan hệ của con người (chủ thể nhận thức) với hiện thực (khách thể/ đối tượng nhận thức của con người), đã từng diễn ra một cuộc tranh luận kéo dài giữa khuynh hướng gọi là hiện thực/duy thực chủ nghĩa với khuynh hướng gọi là phản/chống chủ nghĩa hiện thực/duy thực (Anti-réalisme). Chẳng hạn quan điểm xã hội học theo khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa khẳng định sự tồn tại của các sự kiện xã hội độc lập đối với các sự kiện tâm lý/tâm thức cá nhân (như niềm tin, sự ưa thích, các xúc động…) và có thể được giải thích bằng quan hệ nhân quả. Trong các thập niên gần đây, quan điểm này đã nhường chỗ cho những quan điểm được gọi là chống chủ nghĩa hiện thực, cho rằng các trạng thái tinh thần là những sự kiện/hiện tượng có tính độc lập đối với các cơ sở vật lý (não hoặc cơ thể nói chung) hoặc không thể đơn giản quy về các cơ sở vật lý ấy.(5) Trong khoa học về văn chương, Roland Barthes đã nhấn mạnh vào cái mà ông gọi là ấn tượng của hiện thực (l’effet du réel). Quan niệm về “ấn tượng của hiện thực” dẫn đến cách tiếp cận văn bản văn học không chỉ đơn thuần là một sự phản ánh, vì văn bản văn học mang chứa trong nó những sự giống nhau với hiện thực dưới hình thức các chi tiết cụ thể. Những chi tiết cụ thể ấy tạo nên thứ ảo ảnh làm cơ sở cho mỹ học về cái giống như thực. Phát triển quan niệm ấy của Roland Barthes, Pierre Bourdieu cho rằng văn học có khả năng sản sinh ra một thứ ảo ảnh (simulacre) của hiện thực, gợi lên một dạng niềm tin rất đặc thù: Hư cấu văn học, thông qua một sự quy chiếu về một hiện thực nhất định nào đó, vừa cho phép ta biết được thực sự đó là gì, lại vừa không thừa nhận là có thể biết được thực sự đó là gì.(6)

Cuộc tranh luận giữa khuynh hướng của chủ nghĩa hiện thực/duy thực với khuynh hướng chống chủ nghĩa hiện thực/duy thực ấy cũng đã từng diễn ra trong khoa học về folklore. Bàn về mối quan hệ giữa folklore với thực tại, một nhà folklore học Nga nổi tiếng thế giới, V. Ia. Propp đã từng nhiều lần phát biểu một cách rõ ràng và dứt khoát một quan niệm đối lập lại với khuynh hướng diễn giải biện minh cho cái gọi là “sự phản ánh thực tại chân thực” của folklore. Thí dụ trong trường hợp thể loại truyện cổ tích, ông cho rằng “một trong những đặc điểm của thể loại này là có những truyện không thể và không bao giờ có thể xẩy ra được”. Ông gọi đó là những sự kiện khác thường. Cái khác thường là cái mà trong đời sống thực tế không thể xẩy ra được. Theo ông thì đúng là trong truyện cổ tích sinh hoạt là loại truyện đã từng được định danh là truyện cổ tích hiện thực, truyện cổ tích có tính chất truyện ngắn, đa số trường hợp không có sự phá vỡ những quy luật tự nhiên, tất cả những điều mà truyện kể lại, thực ra mà nói thì cũng có thể có xảy ra. Song dù sao đi nữa thì những điều có thể xảy ra ấy vẫn mang tính chất khác thường. Đó là vì trong folklore truyện kể không dựa trên cơ sở miêu tả những hoàn cảnh thông thường hoặc những hành động thông thường trong những hoàn cảnh thông thường mà ngược lại: truyện kể về những điều làm ta phải sửng sốt vì tính chất khác thường của nó. Dựa trên một thí dụ tiêu biểu làm mẫu là truyện cổ tích sinh hoạt về cái xác chết bất hạnh, phổ biến ở nhiều dân tộc trên thế giới, ông đặt câu hỏi: tại sao một cốt truyện gây căm phẫn như vậy (nếu được tiếp nhận như một truyện “phản ánh thực tại chân thực” - CXD chú thêm) lại được phổ biến rộng rãi như thế? Câu trả lời của ông là: “chỉ có thể tại vì truyện cổ tích ấy chính là một câu chuyện vui nhộn mà thôi. Người kể cũng như người nghe không ai coi câu chuyện ấy có dính dáng gì tới hiện thực. Nhưng đối với người nghiên cứu truyện cổ tích thì lại có thể cần phải liên hệ câu chuyện đó với hiện thực cuộc sống và xác định xem những khía cạnh sinh hoạt nào đã làm nảy sinh ra cốt truyện ấy.(7)

Sự phát triển của khoa học về folklore trên thế giới từ gần một thế kỷ nay đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu và đã đề xuất được những quan điểm lý thuyết và phương pháp luận có hiệu quả đối với việc giải quyết các nhiệm vụ khoa học của mình, trong đó những kinh nghiệm ứng dụng hướng tiếp cận liên ngành đặc biệt có ích đối với nhiệm vụ phát hiện và xác định các dạng thức hiện thực trong folklore nói chung và trong thể loại truyện cổ tích nói riêng. Chẳng hạn đối với cách tiếp cận liên ngành, kinh nghiệm cho thấy muốn hiểu được các sự kiện folklore, cần phải phát hiện ra được mối quan hệ giữa các sự kiện folklore với các sự kiện dân tộc học, hơn nữa phải xem các sự kiện folklore cũng chính là các sự kiện dân tộc học.

Trên cơ sở những nhận thức rút ra được từ lịch sử cuộc tranh luận giữa khuynh hướng và chủ nghĩa hiện thực/duy thực với khuynh hướng chống chủ nghĩa hiện thực/duy thực, kết hợp với những nhận thức rút ra được từ kinh nghiệm ứng dụng hướng tiếp cận liên ngành trong folklore học, tôi thử đề xuất giả thuyết về sự có mặt của ít nhất là ba phạm trù hiện thực như sau trong truyện cổ tích:

  1. Phạm trù hiện thực xã hội hay cụ thể hơn: hiện thực của những mối quan hệ gia đình và quan hệ xã hội, được miêu tả từ góc nhìn xã hội học.
  2. Phạm trù hiện thực dân tộc học, được miêu tả từ góc nhìn dân tộc học.
  3. Phạm trù hiện thực tâm lý, được miêu tả từ góc nhìn tâm lý học, hay chính xác hơn: từ góc nhìn phân tâm học.

Trong mỗi phạm trù hiện thực trên đây có thể xác định cụ thể những dạng thức hiện thực khác nhau. Truyện cổ tích phản ánh các dạng thức hiện thực ấy thông qua các “sự kiện” thi pháp truyện kể. Thi pháp truyện cổ tích có thể xác định từ góc nhìn của thi pháp văn học nhưng lại có những đặc trưng riêng. Chính đặc điểm của các dạng thức hiện thực trong truyện cổ tích quy định những đặc trưng riêng của thi pháp truyện cổ tích.

Xin tạm coi những định hướng như trên là giả thuyết bước đầu mà tôi dựa vào để đọc lại Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của GS Nguyễn Đổng Chi từ quan niệm rộng về hiện thực trong cổ tích.

III. Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam được đánh giá là một công trình khoa học lớn không phải chỉ do ấn tượng về số lượng trang sách lên tới gần 3.000 trang, mà chủ yếu là do tầm bao quát rộng lớn rất nhiều lĩnh vực nghiên cứu truyện cổ tích.

Bộ sách này được hình thành từ kết quả của ba loại công việc:

  1. Sưu tập các văn bản (truyền miệng và thành văn) truyện cổ tích của người Việt, các dị bản hoặc các cốt truyện, motif... tương đương trong kho tàng truyện cổ tích của các dân tộc và các quốc gia khác trên thế giới. Sưu tập này được tác giả dùng để biên soạn phần Khảo dị và là nguồn tài liệu thực tế cho phần nghiên cứu.
  2. Biên soạn 200(8) truyện cổ tích của người Việt được chọn ra từ nguồn sưu tập nói trên. Cách sử dụng nguồn sưu tập để viết lại (văn bản hóa) những truyện đó mang dấu ấn của cách hiểu, cách tiếp nhận truyện cổ tích của người viết truyện. Có thể thấy ở đây có “sự ăn khớp” nhất định giữa quan điểm của người nghiên cứu với văn phong của người kể chuyện. Vì vậy, ở chừng mực nhất định, có thể gọi 200 truyện này là Truyện cổ tích (của) Nguyễn Đổng Chi, phỏng theo cách gọi “Truyện cổ tích Grimm” (Đức) “Truyện cổ tích Perrault” (Pháp)...
  3. Nghiên cứu (phát hiện và diễn giải) những đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam trên hầu hết các phương diện chủ yếu: bản chất thể loại, lịch sử hình thành và phát triển của thể loại, đặc điểm nội dung phản ánh và nghệ thuật của truyện cổ tích Việt Nam, nguồn gốc bản địa và nguồn gốc ngoại lai của truyện cổ tích Việt Nam, v.v..

Như vậy khi bàn về vấn đề các phạm trù hiện thực trong truyện cổ tích Việt Nam qua việc tiếp nhận công trình truyện cổ tích Việt Nam của GS Nguyễn Đổng Chi, là giới hạn trong chỉ một phương diện thành quả nghiên cứu nhiều mặt của ông, và vì thế cần nhận ra được những mối quan hệ giữa các lĩnh vực sưu tập, viết lại nghiên cứu nói trên.

Trước hết có thể nhận ra ngay rằng phạm trù hiện thực trong truyện cổ tích Việt Nam được ông đặc biệt quan tâm và nghiên cứu nhiều hơn cả, là phạm trù hiện thực xã hội. Về mặt lý thuyết phạm trù hiện thực xã hội được ông xem là tiêu chí chủ yếu phân biệt cổ tích với thần thoại. Ông viết: “Như ai nấy đều biết, truyền thuyết, cổ tích xuất hiện không cùng một thời với thần thoại. Nếu chủ đề của thần thoại thường thiên về giải thích tự nhiên, mô tả cuộc đấu tranh giữa người với tự nhiên là chủ yếu, thì trái lại, chủ đề của truyền thuyết, cổ tích thường thiên về giải thích xã hội, mô tả chủ yếu cuộc đấu tranh giữa người và người”.(9) Ông dẫn lại câu nói nổi tiếng của Mác: “Khi con người đã có thể khống chế được thực sự những lực lượng tự nhiên thì thần thoại sẽ biến mất”.(10) Ông xác định “giai đoạn hình thành của việc sáng tác truyền thuyết và cổ tích là thời kỳ công xã thị tộc tan rã, thời kỳ chiếm hữu nô lệ và phong kiến nối tiếp thịnh hành”.(11) Ông nhận thấy sự xuất hiện của truyện cổ tích thường gắn chặt với những đặc điểm về sản xuất, về sinh hoạt, tư tưởng của một thời đại lịch sử, cho nên cũng như thần thoại, nó có thời kỳ phồn vinh và thời kỳ suy tàn. Thế kỷ của máy móc, của điện tử là thế kỷ suy tàn của truyện cổ tích”.(12)

Trong Phần thứ Nhất (in ở Tập I) nhan đề “Nghiên cứu truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tích Việt Nam”, ông đã dựa vào nội dung những truyện cổ tích tiêu biểu và những tài liệu sưu tầm ghi chép quen thuộc trong thư tịch về truyện cổ Việt Nam, phác họa nên một bức tranh “Truyện cổ Việt Nam qua các thời kỳ”, từ “Thần thoại, truyền thuyết, loại truyện xưa nhất của người Việt” qua “Truyện cổ tích thời phong kiến tự chủ” tới “Thời kỳ suy tàn của truyện cổ tích Việt Nam”, và đưa ra nhận định: “Thời kỳ mà chế độ quân chủ ngự trị ở Việt Nam, thời kỳ mà tín ngưỡng phức tạp thịnh hành trong dân chúng, thời kỳ mà nghệ thuật tiểu thuyết chưa phát triển trên văn đàn, đều là thời kỳ hoàng kim của truyện cổ tích” (những chỗ nhấn mạnh là của tác giả).(13)

Trong Phần thứ Ba (in ở Tập V) nhan đề “Nhận định tổng quát về truyện cổ tích Việt Nam”, tác giả cung cấp cho người đọc một sự khảo sát đặc sắc và những kết luận quan trọng về “Đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam”.(14) Tuy định hướng của tác giả, như tôi đã hiểu theo cách của tôi là định hướng tập trung vào nghiên cứu nội dung lịch sử xã hội, nhưng những khảo sát và kết luận của tác giả không đơn giản chỉ là những khảo sát và kết luận xã hội học. Tác giả đã có ý thức rất rõ về điều đó khi viết rằng: “không ai đánh đồng các phẩm chất xã hội học với các phẩm chất mỹ học với nhau”(15) và đã nhận ra rằng “trên một chuỗi vận động rất dài, “cái lịch sử” được cải tạo thành “cái thẩm mỹ” là một hiện tượng có ý nghĩa”.(16) Ở đây, tôi sẽ không miêu tả lại cách tác giả đã nghiên cứu “cái lịch sử” được cải tạo thành “cái thẩm mỹ” ấy như thế nào. Việc này đã được Hy Tuệ thực hiện một cách xuất sắc trong bài viết nhan đề “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam - Từ bình diện một công trình nghiên cứu”.(17) Tôi chỉ muốn khoanh lại ở hai vấn đề có liên quan trực tiếp tới quan niệm về hiện thực xã hội trong truyện cổ tích, vì đối với hai vấn đề này tuy tác giả Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã đưa ra kiến giải của mình, song vẫn còn một khoảng trống nhất định cho những ý kiến khác nhau.

Vấn đề thứ nhất có liên quan đến quan niệm về thể loại. Ở trên tôi đã nêu lên nhận xét rằng, về mặt lý thuyết, phạm trù hiện thực xã hội được GS Nguyễn Đổng Chi xem là tiêu chí phân biệt truyện cổ tích với thần thoại. Nhưng khi nói về sự phân biệt này, ông thường ghép cổ tích vào thành một nhóm với truyền thuyết (“chủ đề của truyền thuyết, cổ tích thường thiên về giải thích xã hội”). Cách ghép thành một cặp hai thể loại truyền thuyết và truyện cổ tích vốn thường được giới nghiên cứu folklore thế giới và cả ở Việt Nam hiện nay nữa xem là hai thể loại khác nhau, dường như chưa được ổn. Chính tác giả cũng nhận xét: “truyền thuyết của ta xuất hiện nhiều nhất vào thời kỳ Bắc thuộc” và “truyền thuyết phản ánh cuộc đấu tranh tích cực của nhân dân nhằm giải phóng khỏi ách áp bức dị tộc”,(18) trong khi “truyện cổ tích xuất hiện trong thời đại tự chủ… hầu hết đều thể hiện rõ đặc điểm, tính cách của người nông dân… nói lên quan điểm của họ về số phận và cuộc đời, về cảnh nghèo túng, nỗi đau khổ, những ước mơ và hy vọng”. Còn về truyện cổ tích lịch sử thì ông không có chỉ dẫn chung nào để phân biệt với truyền thuyết mà chỉ cho biết đó là những truyện hoặc nói về một ông vua (Đinh Tiên Hoàng), một võ sĩ (Lê Phụng Hiểu), một tăng lữ (Từ Đạo Hạnh) hoặc là một thổ hào địa phương (Phạm Bạch Hổ tức vua Mây)...(19)

Xét từ quan điểm phân loại dựa trên các phạm trù hiện thực trong truyện dân gian, nếu có sự khác nhau giữa truyền thuyết, cổ tích lịch sử với truyện cổ tích đích thực thì sự khác nhau đó là ở chỗ phạm trù hiện thực trong truyền thuyết và cổ tích lịch sử là phạm trù hiện thực lịch sử (các sự kiện lịch sử) còn phạm trù hiện thực trong truyện cổ tích là phạm trù hiện thực xã hội (các sự kiện xã hội). Chính là từ quan niệm này mà GS Đinh Gia Khánh, ở phần viết về truyện cổ tích trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, ra đời 15 năm sau Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam Tập I, đã chủ trương “chia truyện cổ tích làm hai loại chính: truyện cổ tích lịch sử và truyện cổ tích thế sự”. Ông giải thích như sau: “Dẫu nội dung cuộc sống trong truyện cổ tích phức tạp đến thế nào đi nữa thì cũng có hai loại sự kiện. Một loại sự kiện có liên quan đến vận mệnh toàn dân tộc, có ảnh hưởng đến toàn thể xã hội hoặc ít ra có ảnh hưởng đến một vùng rộng lớn trong đất nước: đó là những sự kiện có tính chất lịch sử. Một loại sự kiện khác tuy không có tác dụng to lớn như loại trên nhưng phổ biến hơn, đa dạng hơn: đó là những sự kiện xẩy ra trong đời sống bình thường của nhân dân. Những truyện về những sự kiện đó là truyện cổ tích thế sự”. Trong bảng phân loại trên đây, GS Đinh Gia Khánh tỏ ý tiếp nhận quan điểm phân loại của GS Nguyễn Đổng Chi, nhưng cho rằng không nên phân thêm một loại cổ tích thần kỳ. Theo ông “không cần phân ra một loại truyện cổ tích hoang đường (thần kỳ) làm gì. Truyện cổ tích lịch sử và truyện cổ tích thế sự cũng có yếu tố hoang đường. Vả lại không có truyện cổ tích hoang đường nào lại không phản ánh lịch sử hoặc phản ánh đời sống thế tục”.(20)

Như vậy ở cả hai bảng phân loại của GS Đinh Gia Khánh và GS Nguyễn Đổng Chi đều có chỗ không ăn khớp với bảng phân loại truyện dân gian được nhiều nước và cả Việt Nam hiện nay áp dụng. Ở GS Đinh Gia Khánh, đó là quan niệm không coi truyền thuyết là một thể loại truyện dân gian. Ở GS Nguyễn Đổng Chi đó là quan niệm xếp chung truyền thuyết và truyện cổ tích vào một loại. Trong bài báo đã dẫn trên, Hy Tuệ cho rằng “thật ra gọi “cổ tích lịch sử” là cách gọi cụ thể hóa hơn nữa đối với một loại hình mà ở Tây Âu vẫn xếp vào một kho chung với cái tên “truyền thuyết (légende)”(21) và cho rằng Nguyễn Đổng Chi “đưa vào bảng phân loại một loại hình chưa được mấy ai nói đến là cổ tích lịch sử, hình như cũng là một loại hình hiếm thấy trong truyện cổ tích nhiều nước Á Âu”.(22)

GS Nguyễn Đổng Chi đã giải thích quan điểm phân loại ấy của ông như sau: “truyện cổ tích lịch sử có thể là một thể loại mang đậm nét đặc thù của truyện dân gian Việt Nam, bởi lẽ con người Việt Nam xưa nay do điều kiện lịch sử luôn luôn phải chống ách đô hộ xâm lược để bảo vệ nền độc lập, nên trong tâm thức vẫn gắn bó với xã tắc và do đó thường xuyên có cái nhìn “lịch sử hóa” đối với mọi hiện tượng sự vật”.(23)

Theo tôi, về phương diện tiêu chuẩn phân loại khoa học, chưa hẳn đã có thể đồng ý với kiến giải của tác giả Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, nhưng phải công nhận rằng đó là một kiến giải có ý nghĩa khoa học vì nó phản ánh nhận thức về tính đa dạng của các loại truyện cổ dân gian trên thế giới. Vấn đề là cần nhận ra được góc nhìn khác nhau đối với tiêu chuẩn phân loại giữa GS Nguyễn Đổng Chi và các nhà nghiên cứu khác. Ta có thể nhận ra được sự khác nhau về góc nhìn ấy khi thảo luận tiếp về vấn đề thứ hai, vấn đề về tính hiện thực của folklore nói chung, của các thể loại truyện kể dân gian nói riêng. Đây là một vấn đề có tính đặc thù trong khuôn khổ một vấn đề chung, phổ quát của triết học là vấn đề về mối quan hệ của con người (chủ thể nhận thức) với hiện thực (khách thể/đối tượng nhận thức của con người) mà tôi đã nói tới trong đoạn 2 về cách tôi hiểu thế nào là quan niệm rộng về hiện thực trong truyện cổ tích.

Theo dõi những kiến giải của tác giả Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam về đặc điểm tính dân tộc của truyện cổ tích Việt Nam, người đọc có thể thấy có một mối quan hệ giữa kiến giải của tác giả về phạm trù hiện thực xã hội trong truyện cổ tích với kiến giải về tính hiện thực của truyện cổ tích. Mối quan hệ này hiển lộ trong kiến giải của tác giả về cái mà tác giả gọi là tâm lý sáng tạo nghệ thuật dân tộc. Tác giả đã khảo sát tâm lý sáng tạo nghệ thuật dân tộc này trên nhiều phương diện.

Trước hết, tác giả dựa vào sự khảo sát tài liệu thực tế. Tác giả “tạm làm thử một thống kê” những truyện sưu tầm được của bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và đã thấy: 1/ tiểu loại thần kỳ có 10%, 2/ Tiểu loại thế sự có 30% và 3/ Tiểu loại lịch sử có 18%. Nếu thêm vào ba tiểu loại trên một tiểu loại nữa để bao quát những truyện chủ yếu là thế sự nhưng có mang trong nó ít nhiều yếu tố thần kỳ (hay hư ảo) thì tiểu loại này chiếm đến non nửa: 42%. Nếu cộng gộp cả 2 loại thế sự và nửa thế sự thì rõ ràng chúng chiếm đến 2/3 tổng số. Như vậy, dù muốn hay không cũng phải thừa nhận một thực tế: không như kho tàng truyện cổ của nhiều dân tộc, truyện cổ tích thần kỳ của ta vốn không nhiều (tác giả nhấn mạnh)”.(24)

Mở rộng sự khảo sát tới những sự kiện tiêu biểu trong lịch sử xã hội và văn hóa Việt Nam, tác giả nêu lên giả thuyết về chiều hướng vận động có tính quy luật của truyện cổ tích Việt Nam là “những biến đổi song hành theo tỷ lệ nghịch giữa yếu tố thần kỳ và ý thức thực tại”; là “sự tăng trưởng về nhận thức lý tính của khối cộng đồng cư dân ở một hình thái xã hội nào đấy thường kéo theo sự suy giảm các yếu tố hoang đường kỳ ảo trong truyện cổ tích thần kỳ, và do đó giảm thiểu số lượng cổ tích thần kỳ và bù đắp vào đấy số lượng cổ tích thế sự”.(25) Chiều hướng vận động mà tác giả miêu tả trên đây, theo tác giả bị chi phối mạnh mẽ bởi “đặc điểm tư duy của người Việt ở chỗ ít khi xa rời lý trí thế tục”.(26) Từ chiều hướng vận động này đã hình thành nên những truyền thống nghệ thuật, những thủ pháp nghệ thuật mang ít nhiều sắc thái riêng, độc đáo của nghệ thuật truyện cổ tích Việt Nam mà tác giả đã phát hiện và miêu tả theo những cách gọi khá độc đáo, thí dụ biện pháp mà tác giả gọi là tính chừng mực về độ trong tư duy nghệ thuật Việt Nam khi sử dụng biện pháp phóng đại hay nói ngoa.(27)

Điều đáng chú ý ở đây là khi vận dụng quan niệm chung về tư duy nghệ thuật và ứng dụng những khái niệm về các thủ pháp nghệ thuật vào việc phân tích truyện dân gian Việt Nam, tác giả không phân biệt những trường hợp phân tích ấy theo cách phân loại hiện nay giữa truyện cổ tích với truyền thuyết (hay cổ tích lịch sử như cách gọi của tác giả). Sự không phân biệt ấy còn đặc biệt được biện minh qua các khảo sát và lý giải hiện tượng được gọi là lịch sử hóa truyện cổ tích. Vậy là ở cách phân loại truyện cổ tích của tác giả, tiêu chí phân loại không dựa vào các phạm trù hiện thực mà dựa vào tính hiện thực của các thể loại. Vì tính hiện thực ấy là chung cho cả truyện cổ tích và truyền thuyết lịch sử, nên cổ tích lịch sử (tức truyền thuyết lịch sử) cũng thuộc phạm trù thể loại truyện cổ tích.

Để kết thúc mục 3 nói về phạm trù hiện thực xã hội và tính hiện thực của truyện cổ tích Việt Nam, tôi xin nêu một nhận xét - một cảm nhận thì đúng hơn vì chưa được chứng minh bằng sự khảo sát cụ thể - về cách kể, cách viết (văn bản hóa) truyện cổ tích của GS Nguyễn Đổng Chi. Có thể gọi cách kể, hay cụ thể hơn, phong cách nghệ thuật kể chuyện cổ tích của ông là một phong cách hiện thực, nó tô đậm tính hiện thực của truyện cổ tích. Phải chăng phong cách hiện thực này một mặt phản ánh quan niệm của ông về tính hiện thực của truyện cổ tích, mặt khác lại cũng góp phần vào thúc đẩy chiều hướng vận động (về phía tính hiện thực) của truyện cổ tích Việt Nam.

IV. Có một mối quan hệ khá độc đáo giữa phạm trù hiện thực xã hội và phạm trù hiện thực dân tộc học trong truyện cổ tích. Trong công trình Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của GS Nguyễn Đổng Chi, phạm trù hiện thực dân tộc học không được tác giả nói đến một cách hệ thống, do đó không hiển hiện ra rõ ràng trong diễn ngôn của ông như phạm trù hiện thực xã hội, nhưng bằng cách đề cập riêng của ông, ông đã gợi ý cho ta thấy phạm trù này lại rất quan trọng đối với việc hiểu truyện cổ tích. Vì vậy, tôi sẽ trình bày những nhận xét của tôi theo thứ tự như sau:

Đầu tiên tôi sẽ thử xác định xem bằng cách nào tác giả đã lôi cuốn chúng ta vào vấn đề phạm trù hiện thực dân tộc học. Sau đó tôi sẽ thử tìm xem ở những nội dung nào của công trình có chứa đựng những hiểu biết về phạm trù này. Cuối cùng tôi thử đưa ra giả thiết về vai trò của phạm trù này trong sự hình thành đặc trưng thể loại của truyện cổ tích. Trong phạm vi của một bài viết ngắn, hầu hết các nội dung trên đây chỉ mang tính chất là những phác họa, những gợi ý.

Trước hết, như đã nói ở trên, trong công trình của GS Nguyễn Đổng Chi, tôi không thấy có chỗ nào ông phát biểu trực tiếp quan niệm xem hiện thực dân tộc học trong truyện cổ tích như một thành tố cấu tạo đặc thù của thể loại. Nhưng trong quan niệm của ông về “ba đặc điểm” với tính chất là ba tiêu chí dùng để nhận dạng thế nào là một truyện cổ tích, có thể xem tiêu chí thứ nhất là tiêu chí có quan hệ trực tiếp với phạm trù hiện thực dân tộc học. Ba tiêu chí đó được tác giả diễn đạt như sau: “Một là, tính chất cổ của sự việc. Truyện cổ tích được xác định trước tiên ở phong cách cổ của nó… Hai là, trong sự việc dùng để kể đừng có yếu tố gì quá xa lạ với bản sắc dân tộc… Ba là, truyện cổ tích ít nhiều phải thể hiện tính tư tưởng và tính nghệ thuật” (tác giả nhấn mạnh).(28) Tôi sẽ không bàn về hai tiêu chí sau, vả lại cũng có thể thấy hai tiêu chí ấy không chỉ có thể áp dụng cho truyện cổ tích mà còn cho nhiều thể loại khác nữa, do đó không thể coi là những tiêu chí thể loại đặc trưng của truyện cổ tích. Chỉ có tiêu chí thứ nhất mới đóng được vai trò là tiêu chí thể loại đặc trưng ấy.

Trong mệnh đề GS Nguyễn Đổng Chi dùng để phát biểu về tiêu chí thứ nhất, có sự tập trung vào hai cụm từ: một là “tính chất cổ của sự việc”, hai là “phong cách cổ của truyện”. Ông giải thích cách hiểu của ông về hai cụm từ đó như sau: “Mặc dầu không có mốc giới hạn về thời gian rõ rệt, nhưng một truyện cổ tích cố nhiên không thể là một truyện đời nay và cũng không thể là một truyện dĩ vãng nhưng phù hợp với đời nay hơn là đời xưa, phù hợp với trạng thái sinh hoạt hiện đại hơn là trạng thái sinh hoạt của xã hội cũ. Cái chất liệu dĩ vãng chứa đựng trong đấy thực tình chưa lắng xuống và chưa được đại đa số nhân dân công nhận là ở bên kia biên giới của cái “mới”. Sở dĩ có những câu chuyện mới sáng tác gần đây có thể liệt vào truyện cổ tích là vì bối cảnh, khí hậu xã hội, phong cách sinh hoạt và tâm lý nhân vật mà chúng được xây dựng so với bối cảnh, khí hậu xã hội, phong cách sinh hoạt và tâm lý của người đời xưa tuyệt không có gì là trái ngược”.(29) Đây là một cách hiểu rất tinh tế về tính chất cổ của truyện cổ tích, được diễn đạt một cách uyển chuyển mà nếu không tìm ra được khái niệm có tính chất chìa khóa để giải mã được cái gọi là tính chất cổ ấy thì không thể tiếp cận được đặc trưng thể loại quan trọng hàng đầu của truyện cổ tích. Tôi đã dựa vào sự chỉ dẫn của chính GS để tìm ra cái khái niệm chìa khóa ấy. Ông nhận xét: “hai khái niệm “cổ” và “kim” trong cổ tích không khỏi có lúc lẫn lộn”.(30) Như vậy, không thể coi khái niệm “cổ” là khái niệm chìa khóa được, vì hàm nghĩa của khái niệm ấy rất dễ hướng ta vào cách xác định thời điểm lịch sử của câu chuyện. Theo ông “vấn đề xác định tính cổ của truyện cổ tích… không nhất thiết căn cứ vào thời điểm lịch sử của câu chuyện”.(31) Như cách tôi hiểu ý của ông trong câu trên, thì thời điểm lịch sử của câu chuyện cũng rất quan trọng nếu xác định đặc điểm thể loại truyện cổ tích từ góc độ phạm trù hiện thực xã hội với tính cách là đối tượng phản ánh của truyện cổ tích. Nói “không nhất thiết”, có nghĩa là còn một phạm trù hiện thực khác nữa cũng có vai trò quan trọng không kém trong việc xác định đặc điểm thể loại của truyện cổ tích. Từ cách hiểu như vậy của tôi về tư tưởng của ông, tôi cho rằng khái niệm chìa khóa để giải mã cái gọi là tính chất cổ, phong cách cổ ấy chính là khái niệm “chất liệu dĩ vãng”. Ở mục “Đặc điểm truyện cổ tích”, ông đã xác định các dạng thức của chất liệu dĩ vãng ấy trong cốt truyện là “các phương thức cấu tạo hình tượng, sự sắp xếp, xâu chuỗi cốt truyện và motif”.(32) Tính cổ, phong cách cổ của truyện cổ tích phải được thể hiện ở chỗ “mỗi nhân vật, mỗi tình tiết, mỗi hình ảnh của cổ tích đều nhất thiết phải là một nhân vật, một tình tiết, một hình ảnh vốn có trong truyền thống nghệ thuật xa xưa của văn học dân gian được nhân dân coi là quen thuộc, đã thấm sâu vào tiềm thức của mọi người.(33) Về vai trò của những “chất liệu dĩ vãng” này, ông viết: “những motif nghệ thuật đã trở thành tiêu biểu của văn học dân gian… thường xuyên được tái sinh có chuyển dịch ít nhiều trong nhiều thời đại làm thành kiểu tư duy nghệ thuật đặc trưng của văn học dân gian, và đó là điều kiện thuận lợi để truyện cổ tích sinh sôi nẩy nở theo phương thức ứng diễn và tìm thấy mối quan hệ loại hình với nhau”.(34)

Như vậy để có thể cảm nhận được tính chất cổ của truyện cổ tích, người nghe, người đọc truyện cổ tích cần có một quá trình tích lũy trong trí nhớ, trong tư duy của mình những “chất liệu dĩ vãng” đã được hình thành từ rất lâu đời trong lịch sử truyện cổ tích của dân tộc và của thế giới. Sự tiếp xúc với “chất liệu dĩ vãng” ấy không chỉ là một điều cần thiết mà còn là một nguồn hứng thú đối với người nghe, người đọc truyện cổ tích.

Phần “Khảo dị” trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam đã cung cấp cho người đọc chính cái nguồn hứng thú đó. Đó là phần đọc không thể thiếu đối với những ai muốn hiểu thấu được truyện cổ tích Việt Nam từ trong bản chất thể loại của nó. Giá trị của phần khảo dị này không chỉ dừng lại ở chỗ là giá trị của một loại tài liệu tham khảo mà còn là giá trị của một thứ truyện kể kéo dài thêm ra từ truyện chính, một thứ truyện kể kéo dài giúp người đọc có cơ hội thâm nhập được vào một thế giới rộng lớn về không gian và sâu thẳm về thời gian.

Có thể nhận ra được rằng chính cách trình bày phần khảo dị này trong từng truyện kể chính của GS Nguyễn Đổng Chi đã giúp ta đọc được nó như là một thứ truyện kể kéo dài. Không đơn thuần chỉ là một thứ liệt kê tài liệu mà là một thứ xâu chuỗi tài liệu, những văn bản khảo dị cho từng truyện này dẫn dắt người đọc theo một đường dây do tác giả chăng ra, nối những điểm dừng là những văn bản khảo dị ấy với nhau, để người đọc khỏi sa vào tình trạng lang thang vô định trong cái rừng dị bản ấy, ngõ hầu hướng tới được cái đích cuối cùng mà tác giả đặt ra: thâm nhập được vào cái thế giới cổ tích, một thế giới cổ xưa, một thế giới được đặc trưng bởi vô vàn “chất liệu dĩ vãng”.

Đến đây, một câu hỏi được đặt ra: Trong công trình Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của GS Nguyễn Đổng Chi, điều gì đã dẫn tôi đến giả thiết xem “chất liệu dĩ vãng” nói trên chính là một cách diễn đạt phạm trù hiện thực dân tộc học, hiện diện như một thành tố tạo thành đặc trưng thể loại của truyện cổ tích?

Trước hết, xin nhắc lại định nghĩa về phạm trù hiện thực dân tộc học mà tôi đã đề xuất (ở đoạn 2 bài viết này) như một khái niệm công cụ trong cách tiếp cận của tôi: phạm trù hiện thực dân tộc học là một phạm trù được miêu tả từ góc nhìn dân tộc học. GS Nguyễn Đổng Chi không xa lạ gì với chuyên ngành dân tộc học. Ông đã từng cùng với anh trai mình cộng tác nghiên cứu, viết một cuốn sách - một công trình dân tộc học - giới thiệu phong tục, tập quán và cách sinh hoạt của tộc người Ba-na, xuất bản lần đầu năm 1937 với nhan đề Mọi Kontum, năm 2011 được tái bản song ngữ dưới nhan đề Người Ba-na ở Kon Tum.(35) Tri thức dân tộc học nói chung, tri thức về các trường phái dân tộc học trong folklore nói riêng của ông in dấu rất rõ trong công trình Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, không chỉ ở các nội dung khảo sát nghiên cứu mà ở cả phần sưu tầm, viết truyện và biên soạn các văn bản khảo dị.

Để có thể nói rõ hơn về nhận định trên đây, tôi xin trích dẫn một đoạn ông viết về truyện Tấm Cám, và thử diễn giải cách ông thực hiện góc nhìn dân tộc học của ông về truyện cổ tích:

“Truyện Tấm Cám như ta biết, là kiểu truyện rất phổ biến trên thế giới. Từ lâu các nhà cổ tích học gần như đều thừa nhận truyện được phát sinh từ Ấn Độ… Riêng truyện của ta do người miền Nam kể, được sưu tập từ năm 1886… Trong truyện có tình tiết: khi Tấm chết, Cám mặc nhiên vào triều thay thế Tấm, và nhà vua cũng mặc nhiên coi Cám là vợ. Truyện không hề lý giải thêm bằng một hình ảnh cưới xin nào. Trường hợp của ta, người Champa, Khmer, Tày và các dân tộc ở Đông Dương đều có tình tiết này, trong khi nhiều truyện của các dân tộc khác thì không thấy có. Có khả năng là cả loạt truyện đều từ một cốt truyện ban đầu và phân ra nhiều nhánh, và khi đến cư ngụ ở phía Nam bán đảo Đông Dương, chính cốt truyện ban đầu đã hội nhập ngay với một phong tục phổ biến: vợ chết, chồng có thể lấy luôn chị hoặc em của vợ (levirat) mà ở nhiều dân tộc trong vùng, ví dụ người Ba-na (Bahnar) ở Tây Nguyên cho tới thời Cận đại vẫn chưa biến mất”.(36)

Nếu xuất phát từ sự quan tâm đến cách GS Nguyễn Đổng Chi khảo sát mối quan hệ giữa truyện kể cổ tích như một kiểu nhận thức của tư duy nghệ thuật và hiện thực như một đối tượng của sự nhận thức đó, thì có thể nhận ra trong phân tích trên đây của ông, có ba loại sự kiện sau: 1/ Sự kiện nghệ thuật (tình tiết, yếu tố tạo nên diễn biến của cốt truyện: Khi Tấm chết, Cám mặc nhiên trở thành vợ vua...); 2/ Sự kiện xã hội học (quan hệ chị em, vợ chồng với tính chất là quan hệ gia đình, nhận ra qua sự đối chiếu với tình tiết của cốt truyện); 3/ Sự kiện dân tộc học (chế độ hôn nhân levirat, cũng được nhận ra qua sự đối chiếu với tình tiết của cốt truyện).

Hãy thử xem cách GS Nguyễn Đổng Chi đã nhận dạng đặc điểm của ba sự kiện đó như thế nào. Về sự kiện thứ nhất, ta có thể nhận ra được sự chú ý của ông đến tính khác thường của tình tiết truyện kể: Cám mặc nhiên vào triều thay thế Tấm, vua cũng mặc nhiên coi Cám là vợ; truyện không hề nói đến hình thức cưới xin nào cả. Điều này theo nhận thức của người nghe/đọc truyện cổ tích là trái với hiện thực xã hội (tức quan hệ vợ chồng phải được luật pháp xác nhận qua thủ tục cưới xin), truyện lại không hề lý giải gì cả. Về sự kiện thứ hai, ông không có lời bình luận nào, nhưng qua những gì chúng ta đã tiếp nhận được về mối quan hệ của truyện cổ tích với hiện thực xã hội mà ông đã phân tích rất sâu sắc từ góc nhìn xã hội học thì có thể suy ra rằng ông đã coi sự kiện/tình tiết cốt truyện ấy là những yếu tố nghệ thuật phản ánh sự kiện/hiện thực xã hội; Trong mối quan hệ ấy, ý nghĩa xã hội của truyện là chính, tình tiết chỉ là phương thức nghệ thuật để đạt tới mục đích ấy. Về sự kiện thứ ba, ông chú ý đến đặc điểm tộc người của sự kiện xã hội. Quan hệ chị - em được gọi là một sự kiện xã hội theo cách nhìn xã hội học; Ở một số tộc người, trong đó có tộc người Ba-na, quan hệ gia đình này do mang đặc điểm tộc người qua phong tục hôn nhân chị em vợ (levirat) nên lại được gọi là một sự kiện dân tộc học. Ở sự kiện thứ ba này ông chú ý đến căn rễ/nguồn gốc dân tộc học của tình tiết cốt truyện (em mặc nhiên thay thế chị làm vợ vua, không có cưới xin gì cả).

Xét mối quan hệ giữa sự kiện thứ nhất với sự kiện thứ ba này, dường như ông muốn cho thấy cảm nhận cái tình tiết/cốt truyện ban đầu tưởng như khác thường, vô lý, hóa ra lại bình thường, hợp lý, vì nó phản ánh chân thực một sự kiện dân tộc học: cái sự kiện tình tiết/cốt truyện ấy không phải đơn thuần chỉ là một hình tượng nghệ thuật, mà còn chính là một sự kiện dân tộc học. Như vậy ta có thể nói: trong truyện Tấm Cám, có phạm trù hiện thực xã hội học (như đã phân tích khi nói về sự kiện thứ hai) đồng thời cũng có cả phạm trù hiện thực dân tộc học (như vừa phân tích khi nói về sự kiện thứ ba). Đây là một nhận thức quan trọng đối với cách tiếp cận truyện cổ tích.

Xét về mặt lịch sử, sự kiện dân tộc học mang tính chất một quá khứ xưa hơn nhiều so với sự kiện xã hội học, còn xét về mặt chế độ xã hội thì các sự kiện dân tộc học nhấn mạnh đặc trưng của các xã hội cổ xưa. Trong các chế độ xã hội phát triển hơn sau đó, nếu các sự kiện dân tộc học vẫn còn tiếp tục được duy trì thì thường được xem như là những tàn dư văn hóa, những sự kiện xã hội đã hóa thạch.

Trong truyện cổ tích có rất nhiều sự kiện thuộc truyền thống nghệ thuật dân gian lâu đời có căn rễ, có cốt lõi, có nguyên hình là những sự kiện dân tộc học cổ đó. Đó là lý do dẫn đến hình thành tính chất được GS Nguyễn Đổng Chi gọi là tính chất cổ, phong cách cổ của thể loại truyện cổ tích, những chất liệu dĩ vãng trong truyện cổ tích. Đó cũng là lý do dẫn đến sự hình thành một hướng nghiên cứu, một cách tiếp cận truyện cổ tích, được gọi là hướng nghiên cứu, hướng tiếp cận dân tộc học. Hướng nghiên cứu này đã phát hiện được vô số chứng cứ biện minh cho sự hiện diện trong truyện cổ tích, đặc biệt là trong tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ, một phạm trù được gọi là phạm trù dân tộc học. Những phát hiện như thế đã làm cơ sở cho một cách tiếp nhận rất nhiều hình tượng truyện cổ tích không phải chỉ như là những sản phẩm của trí tưởng tượng mà như là những sự kiện có thật, là những hiện thực, những hiện thực dân tộc học.

Thành tựu nghiên cứu truyện cổ tích nói riêng, truyện dân gian nói chung của nhiều nhà nghiên cứu folklore nổi tiếng trên thế giới như J.G. Frazer, A. Landes (Anh), E. Cosquin, Saintyves (Pháp), V.Ia. Propp, E.M. Meletinxki (Nga)…. (mà GS

Nguyễn Đổng Chi đã nhiều lần nhắc đến trong công trình nghiên cứu của mình) bằng cách tiếp cận dân tộc, phát hiện được rất nhiều sự kiện cực kỳ hấp dẫn có liên quan đến phạm trù hiện thực dân tộc học trong truyện cổ tích.

Trong công trình nghiên cứu truyện cổ tích của mình, GS Nguyễn Đổng Chi đã có những gợi ý và cả một số kết luận nữa liên quan đến phạm trù dân tộc học. Song đối với phạm trù này, ông chỉ dừng lại ở mức ấy mà thôi. Vì vậy, đọc ông, tôi như cảm nhận được lời nhắn nhủ cần tiếp tục sự nghiệp của ông theo hướng nghiên cứu ấy cho cân xứng với thành tựu mà ông đã đạt được ở hướng nghiên cứu xã hội học, có liên quan đến phạm trù hiện thực xã hội mà tôi đã thử phác họa ở đoạn 3 bài viết này.

*

*         *

Ở đoạn 2 bài viết này, tôi có đưa ra giả thiết về ba phạm trù hiện thực trong truyện cổ tích, phạm trù thứ ba được gọi là phạm trù hiện thực tâm lý, được phát hiện qua cách tiếp cận phân tâm học (tâm lý học chiều sâu). Đây là một phạm trù hiện thực trong truyện cổ tích còn rất ít được nghiên cứu ở Việt Nam. Ở nhiều nước đã có những công trình nghiên cứu truyện cổ tích theo hướng tiếp cận này, trong đó, để dẫn ra như một thí dụ, có công trình nghiên cứu nhan đề Phân tâm học truyện cổ tích thần kỳ của Bruno Bettelheim,(37) một chuyên gia tâm thần học người Mỹ gốc Áo. Công trình này đặc biệt giúp ta phát hiện ra được một dạng hiện thực tâm lý vô thức ở trẻ em thông qua sự tiếp nhận truyện cổ tích của chúng, điều này rất có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu nguyên nhân tại sao trẻ em say mê truyện cổ tích.

Nhưng trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tôi không tìm thấy những biểu hiện nào chứng tỏ có sự chú ý của tác giả đến phạm trù hiện thực tâm lý (phân tâm học) này. Vì vậy, tôi xin được dừng lại bài viết ở đây.

TP Hồ Chí Minh, tháng 01/2015

CXD

CHÚ THÍCH

  1. Theo bản in lần thứ 7 gồm 5 tập, Viện Văn học, Hà Nội, 1993. Các trích dẫn ở sau đều lấy từ bản in này.
  2. Hy Tuệ, “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam - Từ bình diện một công trình nghiên cứu”, tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (102). 2013, tr. 119.
  3. Đinh Gia Khánh, “Tưởng niệm Giáo sư Nguyễn Đổng Chi”, tạp chí Văn hóa dân gian, số 1-1990.
  4. André Comte - Sponville, Dictionnaire philosophique, PUF, 2013, tr. 847.
  5. Le dictionnaire des sciences humaines, Sous la direction de Sylvie Mesure et Patrick Savidan, PUF, 2006, tr. 963-965.
  6. Le dictionnaire du littéraire, Sous la direction de Paul Aron, Denis Saint-Jacques et Alain Viala, PUF, 2010, tr. 637-639.
  7. V. Ia. Propp, Tuyển tập V. Ia. Propp, Tập 2, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2004, tr. 409-414.
  8. Có một truyện được tác giả đưa vào từ lần in thứ nhất (1957), nhưng đến lần in thứ tư (1972) thì ông lại bỏ ra, đó là truyện số 50, Giết chó khuyên chồng. Nhưng đến lần in thứ bảy (1993), con trai ông là GS Nguyễn Huệ Chi lại khôi phục lại và đặt trong ngoặc vuông con số 50. Vì vậy, thực chất bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam bao gồm 201 truyện chính.
  9. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập I, Sđd, tr. 83. Những chữ in nghiêng là do người trích dẫn nhấn mạnh.
  10. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập I, Sđd, tr. 84.
  11. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập I, Sđd, tr. 97.
  12. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập I, Sđd, tr. 98.
  13. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập I, Sđd, tr. 135.
  14. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 5, Sđd, tr. 2.417-2.518 (mục “Đặc điểm của truyện cổ tích Việt Nam”).
  15. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 5, Sđd, tr. 2.498.
  16. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 5, Sđd;  tr. 2.498.
  17. Hy Tuệ, “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam - Từ bình diện một công trình nghiên cứu, Bđd, tr. 119.
  18. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 116.
  19. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 118.
  20. Đinh Gia Khánh - Chu Xuân Diên, Văn học dân gian, Tập 2, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1973, tr. 93.
  21. Hy Tuệ, “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam - Từ bình diện một công trình nghiên cứu, Bđd, tr. 121-122.
  22. Hy Tuệ, “Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam - Từ bình diện một công trình nghiên cứu, Bđd, tr. 121.
  23. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 76-77.
  24. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 5, Sđd, tr. 2.418.
  25. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 5, Sđd, tr. 2.426.
  26. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 5, Sđd, tr. 2.426.
  27. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 5, Sđd,  tr. 2.427.
  28. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 66-70.
  29. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 67.
  30. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 66.
  31. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 67.
  32. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 67.
  33. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 66.
  34. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr. 67. Những chữ in nghiêng do người trích dẫn nhấn mạnh.
  35. Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Người Ba-na ở Kon Tum, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2011.
  36. Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập 5, Sđd, tr. 2.571. Những chữ in nghiêng do người trích dẫn nhấn mạnh.
  37. Nhan đề này tôi dịch theo bản dịch tiếng Pháp: Bruno Bettelheim, Psychanalyse des contes de fées, Collection Pluriel, Robert Lafont, 1976. Nguyên văn nhan đề tiếng Anh là The uses of enchantement - Một đoạn trích dịch tác phẩm này đã được giới thiệu trên tạp chí Văn học nước ngoài số 6-2007 dưới nhan đề “Bàn về cổ tích (qua mắt nhìn của một nhà tâm lý học)”, tr. 135-150.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 2 (119), 2015

1.     Tác nhân nước và motif tái sinh trong truyện cổ tích Việt Nam

Tác nhân nước là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành nên motif tái sinh – một motif xuất hiện hết sức phổ biến với nhiều biểu hiện đa dạng trong kho tàng truyện kể dân gian trên thế giới. Ở Việt Nam, motif tái sinh không chỉ có mặt trong truyện kể dân gian mà còn phổ biến trong các học thuyết tôn giáo, trong nghi lễ, trong tín ngưỡng và phong tục dân gian của các dân tộc. Do đó khi nghiên cứu motif tái sinh với chức năng là một nhân tố cấu thành cốt truyện cổ tích của các dân tộc Việt Nam, chúng tôi liên hệ với hoàn cảnh lịch sử của dân tộc về các mặt quan niệm tâm linh, phong tục tập quán, tôn giáo và tín ngưỡng dân gian hay các nghi lễ thực hành ma thuật nguyên thủy… để tìm ra cội nguồn lịch sử của motif này. Qua đó chúng tôi nhận ra sự tương đồng của motif tái sinh trong các cốt truyện khác nhau có nguồn gốc tự sinh trong lịch sử phát triển của dân tộc và là một motif dân tộc học được chuyển tải vào truyện kể dân gian.

Motif tái sinh trong truyện kể dân gian Việt Nam là những tình tiết chỉ hiện tượng sống lại của nhân vật sau khi đã chết đi vì một lý do nào đó. Những dạng thức tái sinh – cách thức sống lại của nhân vật được thể hiện rất đa dạng như sống lại do đầu thai, do hoá thân nhiều lần qua nhiều hình dạng khác nhau, do sự tác động của thần tiên, ma quỷ, của người, của nước thần, nước phép, của cây cỏ hay thú vật có phép thuật… Ở mỗi dạng thức này, chúng tôi còn có thể phân loại tiếp trong nội bộ của chúng bằng cách dựa vào sự khác nhau trong hiện tượng sống lại của các nhân vật. Ở đây chúng tôi tiến hành xem xét một dạng thức của motif tái sinh là Nhân vật sống lại do sự tác động của nước kết hợp với các động tác ma thuật và bùa chú theo phương pháp tiếp cận nguồn gốc lịch sử để giải thích cho sự ra đời và xuất hiện phổ biến của motif này trong nhiều truyện kể khác nhau. Đồng thời cũng để tìm hiểu xem motif  này đóng vai trò quan trọng như thế nào trong thế giới quan, nhân sinh quan của nhân dân, đặc biệt là trong đời sống của cư dân nông nghiệp, để từ đó có thể phát hiện được mối quan hệ giữa motif truyện kể dân gian với các quan niệm và những thực hành ma thuật của tín ngưỡng dân gian.

Vì quan niệm cho rằng truyện kể dân gian là nơi lưu giữ lại dấu tích của rất nhiều nghi lễ và phong tục cho nên để tìm được nguồn gốc của một motif truyện kể dân gian nào đó ta cần phải đặc biệt lưu tâm đến mối liên hệ giữa truyện kể dân gian với các nghi lễ và phong tục. Đồng thời không chỉ so sánh motif truyện kể trực tiếp với các hình thức tín ngưỡng hay các kiểu tư duy nguyên thủy mà ta còn phải tính đến cả đặc điểm của một số quan niệm có thể là cơ sở cho sự xuất hiện của các motif truyện kể dân gian. 

Trong khi nghiên cứu về nguồn gốc lịch sử của tác nhân nước trong motif tái sinh, chúng tôi tìm kiếm nguồn gốc của hình tượng này trong tư duy và quan niệm tâm linh của con người về tầm quan trọng và chức năng của nước trong sự hình thành và duy trì đời sống của nhân loại. Bên cạnh đó chúng tôi còn xem xét những hình thức thực hành ma thuật có liên quan đến tín ngưỡng, phong tục thờ thần nước, thần mưa có truyền thống từ lâu đời và vẫn còn tồn tại đến ngày nay ở nước ta. Từ mỗi quan niệm hay mỗi nghi thức thực hành ma thuật có liên quan đến nhân tố nước đều được chúng tôi nêu dẫn chứng cụ thể từ các biểu hiện đa dạng của dạng thức nhân vật sống lại do sự tác động của nước trong motif  tái sinh từ kho tàng truyện cổ tích Việt Nam.

 

2.     Nước – ngọn nguồn của sự sống và sức mạnh của thần linh

Trong văn học dân gian của nhiều dân tộc trên thế giới đều có tồn tại một câu chuyện về việc Thượng đế đã sáng tạo ra con người và các loài như thế nào. Vật liệu sáng tạo có thể là đất sét, hoặc một thứ bột hay một hợp chất nào đó được nhào nặn với nước dùng để tạo nên những mô phỏng hình dáng của muôn vật. Quá trình sáng tạo của thượng đế cũng rất kỳ công, không phải cứ làm một lần là được mà nhiều khi phải làm đi làm lại, nắn tới nắn lui, thêm chất này bớt chất kia, đồng thời khi đã được tạo thành hình người, hợp chất kia còn phải được đun nấu, ngâm ủ… qua nhiều công đoạn phức tạp mới có được sản phẩm con người và muôn thú hoàn hảo như ngày nay. Và có lẽ, do quan niệm con người đầu tiên đã được tạo ra như thế nên trong truyện cổ tích, ta thấy có dạng tái sinh bằng phương thức nấu lại, làm lại, nắn lại thân thể con người với sự trợ giúp của các tác nhân trong đó bao gồm tác nhân nước và các hành vi ma thuật cùng các lời phù chú.

Tác nhân nước với quyền năng làm tái sinh người chết xuất hiện trong các truyện kể mà chúng tôi sưu tầm được khá phong phú với nhiều hình thức đa dạng như nước thần, nước thuốc, nước suối, nước được đun sôi… hay các loại nước đã được phù phép. Các loại nước này tác động khiến cho người chết tái sinh theo hai phương thức cơ bản. Phương thức thứ nhất là trực tiếp tác động bằng cách đổ hay xoa nước thần vào miệng, vào tai hay vào thân thể người chết. Trong truyện Kén rể tài, nhân vật cô gái bị rơi xuống hồ chết, chàng trai lấy nước thuốc thần xoa vào miệng cô gái, cô gái sống lại.  Hay như trong truyện Chàng Trâu, có hai chị em mồ côi vì ăn lúa nếp nên bị đau bụng chết. Mẹ của chàng Trâu đưa cho chàng lọ nước thần đổ vào tai hai chị em, hai chị em sống lại. Trong truyện Ống thuốc thần của dân tộc Bana có chi tiết, bà tiên xoa ống thuốc thần vào thi thể của nhân vật đã chết thì nhân vật sống lại. Truyện Cứu vật vật trả ơn, cứu nhơn nhơ trả oán của người Việt kể rằng, hoàng tử con vua bị rắn cắn chết, trên đường đưa đi mai táng, chàng được một đạo sĩ dùng thuốc thần xoa khắp người. Hoàng tử từ từ sống lại khỏe mạnh như xưa.

 Phương thức thứ hai là nước được dùng để luyện phép kết hợp với bùa chú và các hành động ma thuật khác nhau như trong truyện Hai chị em, Ơ -Trang Tê chết, chị là Ơ -Trang Pa bỏ tim em vào chum ủ cùng chín gánh lá phép và chín gánh nước suối đầu nguồn. Ba ngày ba đêm sau mới mở chum, em sống lại. Cô Ba bị hai chị giết chết, trải qua nhiều lần hoá thân, lần cuối hoá thành chiếc nhẫn. Chồng cô Ba đổ nước vào một thùng lớn, ngâm nhẫn ba ngày ba đêm, cô Ba sống lại. (Rắn thần). Trong  Sự tích mặt trăng, mặt trời có nhân vật là em trai của Ápa bị tinh tinh ăn thịt chỉ còn lại quả tim. Ápa lấy tim em ngâm vào một chum đầy nước và bịt chặt lại. Sau ba ngày, Ápa mở chum nước ra thì đã thấy em sống lại. Trong truyện Tơ Rá Trang Lan có nhân vật Nơ Ga bị rắn ăn thịt, khi mổ bụng rắn ra thì xác của cô đã thối rữa và có nhiều sâu bọ. Trang Lan mang thi thể nàng ra dội nước và để giữa trời mưa cho trôi hết sâu bọ. Sau đó chàng chặt Nơ Ga ra từng khúc, bỏ vào nồi bung cho thật chín rồi để qua một ngày một đêm. Xương Nơ Ga liền lại, nàng sống lại xinh đẹp hơn xưa. Hay truyện Gialahin bị cọp ăn thịt chỉ còn một cái đầu, Cọp ngâm đầu chàng vào một chum nước, 10 ngày sau mở chum ra, đầu đã biến thành một em bé kháu khỉnh, em bé lớn dần lên thành chàng Gialahin như xưa (Chàng Gialahin). Trường hợp đặc biệt có tác nhân nước chính là máu và nước mắt của người sống, Truyện Chàng Arin kể lại rằng, khi chàng bị kẻ thù giết chết, mẹ chàng đã dùng máu và nước mắt của mình trộn với xương thịt của con để giúp con hồi sinh (Chàng Arin).

Ở phương thức thứ nhất, dưới sự tác động của các loại nước như nước thần, nước phép, nước tiên, nước thuốc… thì quá trình tái sinh của người chết diễn ra khá nhanh. Có lẽ, trong quan niệm của dân gian, bản thân những thứ nước phép này đã mang trong nó khả năng làm hồi sinh vạn vật, chỉ cần biết sử dụng đúng lúc, đúng cách thì những thứ nước đó sẽ được phát huy hết tác dụng.  Ở phương thức thứ hai, quá trình tái sinh của người chết diễn ra lâu hơn, có khi đến ba ngày ba đêm, lý do là vì nước dùng để tái sinh người chết cần phải được trải qua một quá trình luyện phép nữa. Có lẽ vì thế mà trong các câu chuyện có tác nhân nước ở loại này, nước thường xuất hiện với tên gọi là một loại nước bình thường nào đó như nước được đun sôi, nước suối chứ không phải là nước thần, nước phép như ở phương thức tác động thứ nhất. Quá trình luyện phép này có thể được thực hiện bằng cách cho thân thể người chết vào nồi nước và nấu sôi lên hoặc cho loại nước bình thường đó vào trong một cái chum lớn, sau đó ngâm bộ phận cơ thể của người chết vào chum và ủ trong nhiều ngày đêm, cho đến khi loại nước bình thường ấy trở thành nước phép và phát huy tác dụng thì người chết sẽ được tái sinh.

Bên cạnh khả năng có thể tác động trực tiếp đến sự tái sinh của con người, đôi khi nước còn phải kết hợp với đá mới có đủ quyền năng làm cho người chết sống lại. Truyện Cadút – Cadui của dân tộc Châu Ru kể rằng, hai anh em Cadút và Cadui đã lấy một hòn đá xanh trên nóc của một hang động, mài ra thành bột và hoà với nước, hỗn hợp đá - nước ấy đổ vào miệng người chết thì người chết sống lại. Trong bài viết “Tục thờ nước của người Việt ven sông Hồng[1], Nguyễn Thị Việt Hương cho rằng lễ hội cầu nước và trị thủy của người Việt ở vùng này là có liên quan đến tục thờ đá, đá có thể là phương tiện để truyền đạt mong muốn của con người đến các lực lượng siêu nhiên khác và đương nhiên có một mong muốn rất mãnh liệt mà con người gởi gắm trong đá: đá có thể mang sức mạnh điều chỉnh nguồn nước theo khẩn nguyện của con người. Nghĩa là sự kết hợp giữa nước và đá có thể mang lại cho con người một nguồn nước dồi dào nhưng ổn định để duy trì sản xuất và tồn sinh.

Đối với Việt Nam và các quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á thì nước có một ý nghĩa hết sức quan trọng trong truyền thống văn hoá dân tộc vì đây là các quốc gia nông nghiệp, khai sinh từ nền văn minh lúa nước, trưởng thành bên các con sông lớn. Những hình vẽ về các ngọn sóng, các dòng nước, các con sông suối ao hồ trong những nét hoa văn còn lại trong các cung điện đền đài, công cụ thờ cúng bằng đồng… đã thể hiện được ý nghĩa quan trọng và thiêng liêng của nước. Theo thuyết ngũ hành nước là một trong năm nguyên tố cơ bản cấu thành vũ trụ, là ngọn nguồn cuộc sống và tái sinh vạn vật. Nước là hành, biểu trưng cho sự thông thái, linh hoạt của tâm hồn. Thuật phong thuỷ gắn nước với tiền tài và sự thịnh vượng. Các lễ thức nông nghiệp của các nền văn minh lúa nước ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á thường kèm theo các nghi lễ cầu mưa, cầu nước hay các lễ hội té nước, đi lấy nước thờ… Nhân dân cúng tế thần nước, cầu mong thần ban phát nước về cho đồng ruộng, cây cối được tốt tươi, nẩy nở xum xê, vật nuôi thì sinh trưởng dồi dào. Trong văn học dân gian nước ta vẫn còn lưu truyền những bài ca khẩn nguyện thần nước, thần mưa như “lạy trời mưa xuống, lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm,”… Cư dân nông nghiệp thường diễn xướng các bài ca khẩn nguyện này trong các lễ cúng để mời gọi thần linh đến chứng kiến tấm lòng của họ, mời thần linh về hưởng thụ lễ vật và ban cho loài người một năm mưa thuận gió hoà không hạn hán, không bão lũ.

Tâm lý sùng bái nước, gán cho nước những chức năng quan trọng có liên quan đến sự tồn sinh của con người, có lẽ là do xuất phát từ những kinh nghiệm có được của người Việt Nam trong lịch sử hình thành và phát triển. Từ xưa nước đã là một vật báu thiêng liêng nhưng cũng gắn liền với nỗi khiếp sợ truyền kiếp của con người. Trong đời sống gắn bó mật thiết với nước, bằng tư duy và những trải nghiệm nguyên thủy của mình, người Việt Nam đã quan sát và thấy được loài người cũng như các loài sinh vật khác sẽ không thể tồn tại nếu như thiếu nước (cá sẽ chết nếu không ở trong nước, cây sẽ khô héo nếu thiếu nước…), cho nên họ đã rút ra được kết luận rằng nước là điều kiện tồn tại của mọi sinh mệnh, sinh mệnh phải sống nhờ vào nước, thậm chí chính do nước mà có. Nước có thể tạo ra, duy trì và cũng có thể hủy diệt sự sống của loài người.

 

3.     Những thực hành ma thuật liên quan đến tín ngưỡng thờ nước

Chính vì sống nhờ nước, dựa vào nước mà tồn tại và một phần cũng do sự chế ước của trình độ sản xuất nên cư dân nông nghiệp các nước Đông Nam Á đã nẩy sinh một tâm lý sợ hãi trước sức mạnh của nước (lũ lụt, sóng thần..) và vì thế đã hình thành một thứ văn hoá sùng bái nước. Sự sùng bái này đã tạo nên một hội lễ rất quan trọng trong các quốc gia Đông Nam Á, có thể gọi là Hội nước, hay Lễ hội té nước. Xuất phát từ yếu tố tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước mà hiện nay tại một số quốc gia Đông Nam Á vẫn thường xuyên tổ chức lễ hội té nước mừng năm mới vào một thời điểm cố định trong năm như Campuchia, Lào, Miama, Thái Lan.. . Ở Việt Nam, hội nước có thể được thấy ở rất nhiều dân tộc thiểu số hay cộng đồng người Kinh ở một số địa phương như hội đua thuyền trong lễ hội Chùa Keo ở Thái Bình, lễ hội cầu mưa của dân tộc Lô Lô ở Mèo vạc, Hà Giang; lễ hội cầu mưa của dân tộc Thái Sơn La, lễ hội cầu mưa của người Chăm H,roi ở Bình Định,  Người Khơme ở nước ta thì có tục đua ghe Ngor, bao hàm ý nghĩa tống tiễn và cảm tạ thần nước, thần của mùa mưa…

Đinh Gia Khánh trong công trình nghiên cứu Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á có ghi lại chi tiết các lễ hội nước: “Ở phía Bắc trong các lễ hội chùa Ngọc Cục, hội đền Lệ Mật, hội đền Gióng… đều có tục đến một cái giếng hoặc một bến sông để lấy nước. Nước múc lên được lọc qua một tấm lụa, thường là màu đỏ và chứa vào một cái bình… Về thực chất, tục rước nước thờ có liên quan đến việc cầu mong có được đủ nước cho việc cấy trồng.. Những nghi thức liên quan đến nước lại gắn bó với tín ngưỡng về thần nước. Người ta cúng tế thần nước, cầu mong thần ban phát nước để cho đồng lúa được tốt tươi”[2].

Tục thờ nước của người Việt đa số nẩy sinh từ những vùng Châu thổ thấp, nơi con người tồn tại và sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, các lễ hội có liên quan đến tục thờ nước của họ thường mang ý nghĩa cầu nước, cầu mưa đồng thời cũng thể hiện khát vọng trị thủy. Nghĩa là bên cạnh tâm lý sùng bái, nương tựa, con người còn có mong muốn chế ngự, điều khiển các nguồn nước để phục vụ cho nhu cầu đời sống của mình mà không phải chịu những thiên tai như mưa bão, lũ lụt do nước gây ra. Ở đồng bằng sông Hồng nước ta, cứ 5 năm một lần, người dân làng Nhật Tân (Tây Hồ, Hà Nội) lại tổ chức lễ rước nước long trọng từ giữa sông Hồng về đình tế lễ. Nước được lấy từ giữa ngã ba sông, được lưu tại đình trong vòng 5 năm. Hàng năm, cứ vào ngày 2/2 âm lịch (lễ đản thần) và ngày 8/8 âm lịch (lễ kị thần), người dân lại tới đình lấy nước này dâng lên thành hoàng làng, cầu mong quốc thái dân an.

Trong lễ hội chùa Keo ở Thái Bình không chỉ có hội đua thuyền trên sông mà còn có hội bơi trải cạn, hội bơi trải này thể hiện mong muốn của người dân vùng biển đang cố lòng tác động đến thế giới thần linh, khuấy động Long cung, đánh thức thủy thần thức dậy để nghe lời cầu khẩn của họ, từ đó điều hoà lượng nước hàng năm để cư dân cày cấy thuận lợi, mưa thuận gió hoà, sinh sôi nẩy nở. Nguồn nước như là một phúc thần mang lại phúc lộc cho cư dân trong vùng quanh năm suốt tháng. Người Thái ở Sơn La thì tổ chức lễ hội cầu mưa vào khoảng từ 13 đến 15 tháng 3 âm lịch, trai gái trong bản tập hợp thành đoàn với đạo cụ trong tay là một chiếc mẹt và một thanh tre như là biểu tượng của âm dương. Một đôi nam nữ đi trước khiêng một chiếc sọt lớn, những người đi sau thì dùng thanh tre gõ vào chiếc mẹt, đến nhà nào thì dừng lại dưới cầu thang nhà ấy và hát gọi mưa “cầu trời hãy rủ lòng thương dân bản để có nước trồng ngô lúa, cho con người và súc vật có nước ăn, nước uống, cây cối dưới này đang chết khô, trời hãy nổi sấm lên cho mưa mau xuống…”.  Điểm dừng cuối cùng của đoàn trai gái bản là một con suối, họ cùng nhau xuống suối tắm và đồng thanh hô to “phôn, phôn…” (nghĩa là mưa mưa). Bằng bài ca khẩn nguyện và hành động té nước vào nhau, người Thái tin rằng thần mưa sẽ nghe thấu ước nguyện của họ và phù hộ cho làng bản cả năm có đủ nước sinh hoạt và sản xuất.

Trong Nhân học văn hoá – con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, GS. Vũ Minh Chi kể rằng ở một số nơi trên thế giới “còn có tục lệ cầu mưa bằng cách tạo ra một làn khói đen bay lên giống như đám mây đen khi sắp mưa trong khi gõ trống ầm ĩ như tiếng sấm rền cũng là hiện tượng thuộc loại thuật mô phỏng. Đối với dân đi biển, khi biển động, muốn cầu cho sóng yên, họ để những người phụ nữ ra ngồi im lặng trên bãi biển với niềm tin làm như vậy biển sẽ yên trở lại”[3]

Ta thấy rằng hình thức thực hành ma thuật cầu mưa này ở một số nơi trên thế giới và cả ở Việt Nam gần như tương đồng nhau ở việc thực hiện những hành động mô phỏng tiếng sấm của vũ trụ và những đám mây đen hứa hẹn mang mưa tới. Nhân loại tin rằng, bằng những phương thức cầu xin thành kính của mình sẽ tác động đến trời đất, mà cụ thể là thần mưa. Thần sẽ hiểu được dụng ý của loài người qua các động tác mô phỏng (nếu như không hiểu được ngôn ngữ) và sẽ làm theo đúng như ý nguyện của họ, nghĩa là sẽ kéo mây đen đến, tạo nên sấm sét và cuối cùng là cho mưa về.

Bên cạnh ma thuật mô phỏng còn có ma thuật lây lan, nghĩa là sự tác động trực tiếp vào những vật liên quan đến đối tượng hoặc chính thân thể của đối tượng để đạt được mục đích cầu xin. Trong trường hợp này thì sự tác động trực tiếp của tác nhân nước vào cơ thể nhân vật đã chết hoặc dùng nước để ngâm, ủ nấu các bộ phận cơ thể chính là một hình thức của ma thuật lây lan. Không chỉ dùng thứ nước có phép thuật hoặc nước và các động tác ma thuật để làm tái sinh người chết mà đôi khi nhưng động tác ma thuật có liên quan đến nước còn được sử dụng để tăng thêm sức mạnh cho người đang sống và giúp họ có được một niềm tin tâm linh mạnh mẽ về sự bất tử của mình. Đồng thời việc trải qua một quá trình thụ lễ dưới sự tác động của nước cũng giúp nhân vật được bảo vệ an toàn trước mọi hiểm nguy.

Chẳng hạn như ở nước ta, các dân tộc thiểu số Tây Nguyên rất coi trọng nước và có truyền thống thờ thần Nước. Người đứng đầu của một ngôi làng thì được gọi là chủ bến nước và trong nhiều sử thi hay truyện kể dân gian của dân tộc này thường có tình tiết khi các chàng trai đi đến bến nước tắm hay rửa mặt, tức là đã được thần Nước ban cho sức mạnh phi thường. Như trong sử thi Đăm Bri của dân tộc Mnông, vì chàng được tắm nước suối thần nên không một vũ khí nào của kẻ thù có thể gây thương tích được cho thân thể của chàng. Hình thức tắm hay rửa mặt bằng nước thần trong tín ngưỡng dân gian khi chuyển tải thành một motif truyện kể đã trở thành biểu trưng như là một hành vi ma thuật lây lan có khả năng làm tái sinh những người đã chết. Hành vi ma thuật thần kỳ đó có thể là xoa thuốc thần lên người hay đổ thuốc phép vào tai…

Bên cạnh ma thuật mô phỏng và ma thuật lây lan, ta còn thấy trong dạng thức nhân vật sống lại do tác động của nước trong motif tái sinh có hình thức ma thuật phù phép bằng những bài văn hay những lời phù chú được đọc to hay đọc lầm rầm hướng về phía đối tượng cần thực hiện nghi lễ.  Chẳng hạn trong truyện Nuang và Bia Brót có chi tiết, khi Nuang đã chết, thân thể chỉ còn là những mảnh vụn, vợ của Nuang lấy một đoạn tay, chân, mắt, mũi, tai và ít tóc, ít ruột của Nuang bỏ vào ống nứa to đựng đầy nước, đốt trên bếp lửa và cầu khấn bằng lời phù chú: “người rơi chén vàng, ma rơi chén đất”. Từ đầu ống, hơi nước bốc lên trào ra một vật bé tí, biến thành Nuang. Trong truyện Đươm Be của dân tộc Katu, sau khi đọc các câu thần chú “Xương Đươm Be hay xương ai? Nếu xương người khác kêu cơlong, cơlong Nếu xương Đươm Be kêu cơliêng, cơliêng” thì ông nội của Đươm Be mới tìm ra được xương của cháu. Tìm được xương, ông nội lấy lá gói xương bỏ vào nồi, đun sôi sau đó bỏ ra sàn vừa quạt vừa hát: “Quạt cái chân cho chạy. Quạt cái tay cho siêng, cháu ơi!”. Ông quạt nguội thì Đươm Be sống lại thành người

 

Kết luận

Như vậy sự xuất hiện lặp lại nhiều lần dưới nhiều hình thức đa dạng của tác nhân nước trong motif tái sinh trong truyện cổ tích Việt Nam đã chứng tỏ được rằng ở nước ta, ngay từ thời xa xưa, loài người đã ý thức được tầm quan trọng của nước đối với việc hình thành nên và duy trì sự sống của mình. Chính vì quan niệm như thế mà con người đã gán cho nước sức mạnh của thần linh bằng sự tôn kính và cả nỗi khiếp sợ của mình. Gắn liền với những quan niệm về chức năng sinh sản và tái sinh của nước cũng như những tư duy nguyên thủy về sức mạnh ma thuật của thần nước, thần mưa mà ở nước ta đã tồn tại nhiều tín ngưỡng dân gian có liên quan đến nước như tục thờ nước, thờ thần nước hay thần mưa. Đi kèm với những tín ngưỡng dân gian đó là những thực hành ma thuật có từ thời nguyên thủy và vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Những quan niệm và những thực hành ma thuật có liên quan đến tín ngưỡng thờ nước ấy đã được chuyển tải vào trong văn học dân gian và đã trở thành một bộ phận quan trọng trong việc cấu thành nên motif tái sinh trong kho tàng truyện kể dân gian của  nước ta.

LMTG.


[1] Nguyễn Thị Việt Hương (2005); “Tục thờ nước của người Việt ven sông Hồng”; Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 6.

[2] Đinh Gia Khánh (1993); Văn học dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam Á; Nxb Khoa học Xã hội; HN.

[3] Vũ Minh Chi (2004); Nhân học văn hoá - con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên; Nxb Chính trị Quốc gia; HN.

 

Nguồn: Tạp chí Đại học Sài Gòn, Bình luận văn học, Niên giám 2013

20170826.Tho mau

Ảnh: Chơi trò chơi dân gian “kéo chữ” trong khuôn khổ lễ hội Phủ Dầy (Vụ Bản, Nam Định) từ ngày 3 đến 10/3 âm lịch hằng năm. Trong hình, người dân đang kéo chữ “thiên” trong cụm từ “Mẫu nghi thiên hạ”, chỉ Mẫu Liễu Hạnh.

 

Theo TS Nguyễn Ngọc Mai, ngày nay, các nghi lễ trong hệ thống thờ Mẫu Tam phủ đã hội họp cả nghi lễ trong hệ thống Tam phủ thờ ba vị nam thần: Thiên Thần – Địa Thần – Thủy Thần và hệ thống thần linh các vùng miền khác.

Lâu nay, khi nói về tôn giáo, tín ngưỡng người Chăm, các nhà nghiên cứu thường dùng một cách áp đặt hai danh từ Chăm Bàlamôn (Bramanish) và Chăm Hồi giáo (Islam) để chỉ tín ngưỡng, tôn giáo của họ. Tuy nhiên, đa phần người Chăm đều cảm thấy rất xa lạ đối với hai danh từ này, mà họ tự gọi mình, tùy theo tín ngưỡng, tôn giáo, bằng các từ như Chăm Jat, Chăm Ahier, Chăm Awal/Bani, Chăm Asulam. Đó cũng là bốn bộ phận Chăm đang hiện diện ngày nay ở Việt Nam. Theo đó, Chăm Jat chỉ người Chăm nguyên thủy, theo tín ngưỡng địa phương mà chưa bị ảnh hưởng Bàlamôn hay Hồi giáo; Chăm Ahier chỉ Chăm ảnh hưởng Bàlamôn giáo; Chăm Awal/Bani chỉ Chăm ảnh hưởng Hồi giáo; Chăm Asulam chỉ Chăm theo Hồi giáo (Islam) chính thống (Sakaya, 2012, tr.66). Bài này người viết sử dụng những danh từ theo cách mà người Chăm tự gọi mình.

20170821. Chim sao

Lý con sáo Nam Bộ là một trong những thể điệu độc đáo của lý, gần gũi với đời sống sinh hoạt tinh thần của cộng đồng người dân Nam Bộ. Không riêng Lý con sáo, mà các điệu lý trên khắp mọi miền đất nước đều do quần chúng nhân dân sáng tạo, giữ gìn, phát triển. Trong đó, tính dị bản của các điệu lý cũng phát sinh từ dân gian, là sự đổi mới một số thành tố, có loại trừ, chọn lọc, vun bồi để chỉnh thể ngày càng phong phú cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.

TS Nguyễn Ngọc Thơ
ThS Dương Hoàng Lộc
Tóm tắt:
Bài viết này giới thiệu về diễn trình cùng những chức năng chính của lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu ở cộng đồng ngư dân Sông Đốc (Cà Mau). Diễn trình lễ vía này diễn ra trong hai ngày 22 và 23 tháng Ba âm lịch, thu hút khá đông người dân địa phương tham gia, đặc biệt nhiều nhất là các chủ ghe tàu đang đánh bắt tại ngư trường Sông Đốc, tạo nên nét đặc trưng riêng cho lễ hội này. Mặt khác, lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu tại đây còn có chức năng ổn định tâm lý cho ngư dân khi ra khơi đánh bắt,đồng thời là kênh để giữ gìn và trao truyền các giá trị văn hóa truyền thống người Hoa địa phương, kết nối cộng đồng lại với nhau.  

20170814. Co Loa

Di tích Thành Cổ Loa

Truyền thuyết An Dương Vương - Sự hội tụ tình cờ của những địa danh?...

Truyền thuyết An Dương Vương đã được ghi chép lại trong nhiều sử sách với nhiều cái tên như: Truyện Loa Thành, Truyện Thục Vương, Truyện Mị Châu, Truyện Rùa Vàng, Truyện thần Cao Lỗ, Truyện Nước Giếng - Ngọc Trai, Truyện Mị Châu - Trọng Thủy... Những câu truyện trong dòng truyền thuyết An Dương Vương nêu trên đều có cái lõi chung nhưng không hoàn toàn như nhất ở các tiểu tiết, các tên gọi cụ thể. Có lẽ chính vì thế mà truyền thuyết này được xem là một hiện tượng phức tạp, không chỉ làm đau đầu giới nghiên cứu folklore mà ngay cả những nhà sử học, dân tộc học cũng không ít lần kỳ công khám phá. Tính đa chiều, phức diện của truyền thuyết này từng được bàn luận khá sôi nổi trong một cuộc tranh luận kéo dài gần trọn một năm trời (12/1960 - 9/1961) trên tạp chí Nghiên cứu văn học. Dĩ nhiên, mọi vấn đề về truyền thuyết này vẫn chưa hề được ngã ngũ.

Nảy sinh từ lịch sử, gắn bó chặt chẽ với lịch sử nhưng đồng thời cũng luôn luôn mang khoác một tấm áo huyền hoặc, đủ làm mờ nhòe đi cái hình dáng ban đầu, sơ khai của lịch sử - đó chính là truyền thuyết. Việc của các nhà sử học là dùng con mắt tinh tường của khoa học lịch sử mà bóc tách lớp sương mù huyền ảo của trí tưởng tượng dân gian, lọc lựa lấy các chi tiết có thật, các nhân vật và sự kiện có thật để bổ sung vốn tri thức lịch sử nước nhà. Nhưng thật là khó cho các nhà nghiên cứu sử học khi muốn đi tìm cái lõi lịch sử trong vô số lớp lang chi tiết được thêu dệt và tích tụ trong truyền thuyết. Bởi lẽ, trí tưởng tượng phong phú và niềm đam mê tái tạo liên tục các truyền thuyết dân gian của nhân dân khiến số lượng các dị bản gia tăng theo thời gian và truyền thuyết cũng không ngừng thâu nhận những giá trị mới, không ngừng lắng đọng những lớp phù sa mới...

Truyền thuyết càng đầy đặn, càng nhiều chi tiết, càng liên quan đến nhiều địa danh, các nhà khoa học càng có nhiều cơ sở để tham chiếu, đồng thời, càng dễ gây nhiễu loạn cho sự phân tích, bóc tách của họ. Truyền thuyết An Dương Vương là một truyền thuyết đẹp đẽ và bí ẩn vì nhiều lẽ. Sự quy tụ của nhiều địa danh, sự liên quan tới nhiều vùng đất đem lại một vẻ đẹp huyền hoặc, thôi thúc sự khám phá cho truyền thuyết này.

Lần theo dòng truyền thuyết An Dương Vương và những nghiên cứu về nó, chúng tôi nhận thấy có 3 địa danh liên quan và có nhiều nghi vấn. Địa danh thứ nhất được đưa ra như một câu hỏi lớn về gốc tích của ông vua Thục Phán. Bằng các vết tích văn hóa mang đậm dấu ấn của các dân tộc Thái, Tày, Nùng, Choang - các dân tộc cư ngụ ở địa bàn vùng núi Tây Bắc, Việt Bắc, Quảng Châu, Vân Nam trong truyền thuyết về An Dương Vương, có thể đoán định "nước" của Thục Phán là một nước ở phía Bắc "nước" Văn Lang. Lật giở lại các truyền thuyết của người Tày, đặc biệt là truyền thuyết Cẩu chủa cheng vùa (Chín chúa tranh vua), người ta đặt ra nghi vấn: phải chăng vua Thục là một ông vua có gốc tích miền núi hoặc cụ thể hơn là một ông vua người Tày. Nước Nam Cương của vua Thục vốn đóng đô ở Cao Bình, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Sau khi phế vua Hùng, Thục Phán mới nhập nước Văn Lang và nước Nam Cương thành nước Âu Lạc, xưng là An Dương Vương, đóng đô ở Cổ Loa (huyện Đông Anh, Hà Nội). Khảo sát một lượt các biểu tượng trong truyền thuyết An Dương Vương, các nhà khoa học đã tìm ra nhiều nét tương đồng với văn hóa Tày cổ. Người Tày - Nùng có truyền thuyết về áo lông chim - gợi nhắc đến biểu tượng áo lông ngỗng của công chúa Mị Châu. Có thể nói, sử dụng áo lông ngỗng là một phong tục đặc biệt phổ biến ở người Tày cổ. Thư tịch cổ Trung Quốc xác nhận phong tục dùng lông ngỗng làm gối, chăn, áo ở Lĩnh Nam. Biểu tượng Rùa vàng trong truyền thuyết An Dương Vương cũng rất có thể được bắt nguồn từ vật tổ của người Tày cổ. Các vùng Tày - Thái còn lưu truyền khá nhiều truyền thuyết về Rùa và đặc biệt là họ có tục thờ rùa. Truyền thuyết rùa dạy người làm nhà của người Tày - Thái gợi nhắc đến chi tiết thần Kim Quy giúp An Dương Vương xây thành Ốc[i].

Hai địa danh được nhắc đến trực tiếp trong khá nhiều truyền thuyết nằm trong dòng truyền thuyết về An Dương Vương là Cổ Loa (huyện Đông Anh, Hà Nội ngày nay) và Diễn Châu (Nghệ An). Cổ Loa là nơi Thục Phán An Dương Vương dốc sức xây thành Ốc, trải qua nhiều khó khăn do sự quấy phá của tinh gà trắng nhưng nhờ sự giúp đỡ của thần Kim Quy nên đã thành công. Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Bấy giờ đắp thành ở Việt Thường, rộng hơn nghìn trượng, như hình trôn ốc, nên gọi là Loa Thành, lại có tên là thành Tư Long...". Việt Thường được xác định là Cổ Loa ngày nay. Có thể coi đây là nơi An Dương Vương xây dựng cơ đồ, làm nên nghiệp lớn. Nơi đây còn lưu lại nhiều vết tích như: ba vòng lũy thành Cổ Loa (theo sách xưa chép thì thành Cổ Loa có chín lớp, chu vi chín dặm). Thành được đắp bằng đất, thành ngoại hình bầu dục cao từ 4 đến 5 mét, có nơi tới 8 đến 12 mét. Mặt ngoài thành thẳng đứng nhưng phía trong lại dốc nên mặt trên thành là 6 đến 12 mét, chân thành từ 20 đến 30 mét. Ngoài ra, đền Thục An Dương Vương, Am Bà Chúa, giếng Ngọc (nơi xưa kia Trọng Thủy nhớ Mị Châu gieo mình) cũng là những chứng tích cho thấy truyền thuyết An Dương Vương đã "sống" bằng hơi thở của dân gian, bằng tâm hồn dân gian như thế nào.

Diễn Châu (Nghệ An) là nơi "vua cầm sừng văn tê dài 7 tấc nhảy xuống biển đi mất (tức là sừng tê rẽ nước ngày nay...)".Đại Việt sử ký toàn thư có chép rõ: "tục truyền núi Dạ Sơn xã Cao Xá thuộc Diễn Châu là nơi ấy". Theo các sử liệu, việc lập miếu thờ An Dương Vương đã có từ lâu lắm rồi. Nơi thờ đầu tiên có thể kể đến là một ngôi đền nhỏ ở một mỏm núi thuộc làng La Nham (bây giờ không thấy còn dấu tích nữa). Ngày nay, đền thờ Thục Phán An Dương Vương tương đối quy mô còn tiếp tục hương khói tại Nghệ An là đền Cuông ở Diễn Châu, phía bên tả ngạn cửa sông Cấm.

Truyền thuyết dân gian có khả năng truyền dẫn qua thời gian và lan truyền qua không gian, được nuôi dưỡng nhờ "bia miệng" và sức sáng tạo dồi dào của dân gian. Thế nhưng, một truyền thuyết mà trong đó hội tụ tới 3 địa danh có khoảng cách địa lý thực tế tương đối xa cách như truyền thuyết An Dương Vương với sự xuất hiện của vùng đất miền núi: Hòa An (Cao Bằng), miền đồng bằng châu thổ sông Hồng: Cổ Loa (Hà Nội) và miền trung: Diễn Châu (Nghệ An) lại là một chuyện đáng bàn. Hẳn rằng, đó không đơn thuần là kết quả của tính năng dẫn truyền của truyền thuyết!

... hay là bản đồ chỉ dẫn một mạch đời?

Nếu hội tụ các địa danh trên dưới một nguồn ánh sáng - mạch đời của nhân vật đã được xác định là có thật trong lịch sử nước nhà - Thục Phán An Dương Vương, chúng ta có thể thấy vấn đề sáng rõ ra rất nhiều. Địa danh Hòa An (Cao Bằng) sẽ là câu trả lời cho nghi vấn về gốc tích của An Dương Vương. Vậy, có thể nói, đó chính là nơi phát tích của Thục Phán và cũng là nơi bắt đầu mở ra mạch truyền thuyết về An Dương Vương trên đất Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội) và Diễn Châu (Nghệ An).

Cổ Loa với những di tích và những tên làng, tên xóm liên quan, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng nước Âu Lạc chính là địa danh ghi dấu quãng thời gian hùng mạnh của ông vua Thục Phán An Dương Vương. Đó là địa danh chỉ dẫn một quãng đời, một quãng thời gian tiếp nối mạch đời của An Dương Vương.

Mạch đời của con người đặc biệt ấy, của số phận li kỳ ấy đã đặt dấu chấm hết trên địa danh Diễn Châu (Nghệ An). Trong cái bản đồ cuộc sống của An Dương Vương, điểm kết thúc hay chính là điểm hóa thân thần thánh của ông được dân gian lưu truyền là Diễn Châu (Nghệ An) - lúc bấy giờ cũng là điểm tận cùng của đất nước Âu Lạc. Đó là sự thật lịch sử, hay đó chỉ là một tưởng tượng nảy sinh trên một thứ logic suy tư về biên giới của nhà nước Âu Lạc xa xưa? Phải chăng, người xưa coi cuộc ruổi ngựa của An Dương Vương thủa nọ trốn chạy sự truy đuổi của quân Triệu Đà là một hành trình đi đến điểm "sơn cùng, thủy tận", đi đến hết lãnh vực mà ông cai quản, để thấm thía mãnh liệt nỗi đau mất nước, để trong cơn đớn đau cùng kiệt ấy đã lấy vị thế của một ông vua mà rút gươm kết liễu cuộc đời cô con gái yêu ngồi sau lưng ngựa?

Dẫu thế nào, đất Nghệ An vẫn còn lưu dấu biết bao nhiêu ảnh xạ của truyền thuyết An Dương Vương - những mẩu nhỏ dệt nên một huyền thoại còn vang động cho tới tận ngày nay...

Những ảnh xạ của truyền thuyết An Dương Vương trên đất Nghệ An

          Trên đất nước Việt Nam - đất nước mà ở đó, mỗi tên núi, tên sông, tên đồng, tên bãi đều mang chở một mảnh linh hồn của nhân dân, đều trở nên linh thiêng bằng những mẩu truyện dân gian sống trong niềm tin tuyệt đối của nhân dân thì đâu đâu cũng phủ che cái không khí huyền ảo của truyền thuyết. Ở những vùng đất ghi dấu ấn của những tên tuổi lịch sử thì chất truyền thuyết càng trở nên đậm đặc. Diễn Châu (Nghệ An) là một vùng đất như thế, với vô số các ảnh xạ của truyền thuyết về An Dương Vương.

          Thục Phán An Dương Vương kết thúc sự nghiệp hào hùng của ông trên mảnh đất này, nhưng hào quang về sự nghiệp ấy, về con người ấy và ngay cả dư chấn của nỗi uất hận ngàn thu về sự cả tin để “nỏ thần vô ý trao tay giặc/ nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu” (thơ Tố Hữu) vẫn còn vang động mãi muôn đời sau. Diễn Châu (Nghệ An) có thể coi là trung tâm phát xạ ra những dư chấn ấy đớn đau ấy, những hào quang kỳ diệu ấy của cuộc đời bi kịch một đấng quân vương.

          Đọc lại những mẩu truyện trong dòng truyền thuyết An Dương Vương, có thể thấy rõ đoạn kết là cao trào của bi kịch mất nước, cũng là điểm thắt nút của bi kịch tình yêu. Có lẽ bởi là nơi diễn ra hồi kết nghiệt ngã của cuộc đời những nhân vật lịch sử (mà trước hết cũng là những con người có máu thịt, có tình yêu, có niềm kỳ vọng và có cả những khờ khạo, ngây thơ…) cho nên địa danh Diễn Châu (Nghệ An) trở thành một địa danh tỏa phát nhiều ảnh xạ về truyền thuyết An Dương Vương, tiếp nối mạch truyền thuyết này từ địa danh Hòa An (Cao Bằng) và Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội). Chúng tôi chỉ điểm sơ qua về những mẩu truyền thuyết[ii]mang tính phái sinh – có thể coi là những ảnh xạ phản chiếu ra từ mạch truyền thuyết gốc về An Dương Vương còn được lưu truyền trên đất Nghệ An. Đó có thể coi là một minh chứng hùng hồn về sự lưu dấu đậm đà của một quãng lịch sử xa hun hút trong tâm thức dân gian xứ Nghệ.

          1. Núi Đầu Cân

          Núi Đầu Cân là một ngọn núi thuộc làng La Nham, xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc (giáp với huyện Diễn Châu), tỉnh Nghệ An ngày nay. Dân gian tương truyền rằng, tên núi Đầu Cân khởi phát từ một truyền thuyết có liên quan tới sự ra đi đầy bí ẩn của An Dương Vương nơi cửa biển vùng Diễn Châu, Nghi Lộc. Dĩ nhiên, chúng ta đều có thể ngầm hiểu với nhau rằng, thời của An Dương Vương, thời của truyền thuyết, đất đai, địa vực là tự nhiên, chưa có sự phân định ranh giới như bây giờ. Thế nên, chuyện ngày nay, truyền thuyết về An Dương Vương lưu hành cả ở huyện Nghi Lộc càng minh chứng cho hồn cốt lịch sử thấp thoáng trong từng huyền thoại về dấu vết vó ngựa ngàn xưa của vị vua này trên đường chạy trốn quân của Triệu Đà. Không chỉ một địa danh đã được giới định hành chính hóa là Diễn Châu ngày nay có lưu truyền những mẩu chuyện về An Dương Vương mà cả một địa danh khác là Nghi Lộc cũng ghi dấu nhiều vết tích huyền thoại. Bởi lẽ, truyền thuyết là cái có trước ranh giới địa phương, truyền thuyết sống bằng niềm tin dân gian không biên giới.

          Về sự ra đi của An Dương Vương, nhân dân nơi đây kể rằng: vị vua này cùng công chúa Mị Châu mải miết phóng ngựa thật nhanh qua xứ Thanh đi về phía đất Nghệ. Một cơn gió ngược chiều thổi mạnh đã làm rơi chiếc mũ của bậc đế vương. Công chúa Mị Châu bèn lấy khăn của mình trùm lên đầu cho phụ vương. Ngựa dừng chân ở đỉnh một quả đồi thấp và dài nối liền hai dãy núi: dãy Đại Hải và dãy Đại Vạc. Hai dãy núi này tạo thành một eo biển. Tưởng đây là đất dừng chân, nào ngờ, tiếng vó ngựa quân Triệu Đà đã thấy dồn dập phía sau lưng. Bỗng nhiên, An Dương Vương thấy từ phia chân núi có một cụ già đi tới. Vua than thở: "Sao ta chạy đến đâu giặc cũng dò được đường đuổi theo ta?" Cụ già đáp: "Thưa bệ hạ, vì giặc ở ngay sau lưng ngựa bệ hạ đó thôi!". An Dương Vương rút kiếm, ngoảnh đầu nhìn Mị Châu. Mặc nàng khóc lóc, thề nguyền, ông chém đầu Mị Châu rồi men theo chân dãy Đại Hải, đến một quả núi cuối cùng thì thấy ba mặt đều là biển cả mênh mông, sóng cồn dữ dội. Gió từ ngoài khơi thổi vào hất tung chiếc khăn trên đầu Thục Phán An Dương Vương và trùm lên đỉnh ngọn núi. An Dương Vương cùng đường, ngửa mặt lên trời mà than: "Cơ đồ của ta đến đây là hết!". Nói đoạn, nhà vua gieo mình xuống biển. Về sau, quả núi đó được nhân dân đặt tên là núi Đầu Cân (nghĩa là cái khăn bịt đầu). Dân làng cũng lập một miếu nhỏ thờ Thục An Dương Vương dưới chân núi.

2. Tảng đá gạo

          Trong truyền thuyết dân gian, tảng đá gạo là một chứng tích của những ngày An Dương Vương thất trận chạy về xứ Nghệ. Phía đông núi Mộ Dạ, có một tảng đá tròn với những màu sắc rất kỳ lạ. Tảng đá lổm nhổm những hạt màu đỏ, vàng, đen, trắng xen kẽ nhau trông như những hạt gạo. Dân gian gọi đó là tảng đá gạo.

          Bằng niềm tin mãnh liệt vào câu chuyện Thục Phán An Dương Vương từng lưu bóng trên mảnh đất quê hương mình, người dân Diễn Châu cho rằng, tảng đá gạo là vết dấu của số gạo nuôi quân của An Dương Vương. Người dân còn lưu truyền một câu chuyện chứa đầy sự hoang đường về tảng đá này. Tương truyền, ngày xưa khi Thục An Dương Vương thất trận chạy đến đất Diễn Châu thì hết lương thực. Vua ngẩng mặt chắp tay vái trời cầu xin giúp đỡ. Bỗng nhiên, gió nổi lên. Từ trong gió, những hạt gạo bay ra tua tủa. Vua sai quân lính thu nhặt chất thành đống rồi chia đều cho họ. Khi biết đã đến bước đường cùng, nhà vua cho quân lính đưa số gạo được chia về quê làm ăn, không phải theo bảo vệ vua nữa. Số gạo còn sót lại về sau đã đông thành đá, trở thành tảng đá gạo.

3.  Cao Lỗ - tổ sư nghề rèn

          Cao Lỗ là vị tướng giỏi của nước Âu Lạc, giúp An Dương Vương chế ra chiếc nỏ thần từ móng thần Kim Quy. Nhân dân Diễn Châu còn lưu truyền một truyền thuyết về một người tên là Cao Lỗ đi học nghề rèn ở bên Tàu, sau đó về truyền nghề lại cho dân chúng trong vùng. Họ suy tôn ông là tổ sư nghề rèn. Không rõ, nhân vật Cao Lỗ này và tướng Cao Lỗ của vua An Dương Vương có phải là một?

          Chuyện kể rằng, ở làng Nho Lâm - quê hương Cao Lỗ có mỏ sắt. Cao Lỗ biết rằng nếu có thể làm lưỡi cày, dao, kiếm bằng sắt thì sẽ tốt hơn cả đồng. Khốn nỗi, ở nước ta lúc bấy giờ chưa có nghề rèn. Cao Lỗ đã cất công sang Tàu học nghề, đường đi gặp muôn vàn khó khăn, rồi ông cũng gặp được thầy là một lão phó rèn trạc tuổi năm mươi. Biết Cao Lỗ cất công từ phương Nam tới, bác phó rèn rất khâm phục. Nhưng để rèn thêm ý chí cho Cao Lỗ, thầy buộc ông phải làm công việc thụt bệ đúng ba năm. Đó là một công việc đơn giản, dễ gây chán nản. Nhưng với người họ Cao, đó lại là một quá trình tích lũy kinh nghiệm. Ông biết khi nào thì cần thụt bệ mạnh, khi nào thì cần thụt bệ nhẹ để có được sản phẩm như ý. Sau khi đã nắm được kỹ thuật thụt bệ, Cao Lỗ lại phải học ròng rã ba năm việc quai búa rồi mới được học rèn. Thêm bốn năm học rèn, Cao Lỗ được thầy truyền bí quyết nhà nghề. Trước khi giã biệt thầy về quê hương, người học trò từ chối nhận số tiền làm lộ phí thầy cho, ông chỉ xin một bộ đồ rèn bằng sắt.

          Về quê, Cao Lỗ hăm hở dựng lò rèn, rủ người vào núi lấy quặng nấu thành gang, sản xuất lưỡi cày, dao, mác, ... Ông vừa sản xuất, vừa truyền nghề. Dân làng ai cũng cảm phục tài nghệ của ông. Quê ông, người ta đặt tên là xã Cao Xá (nghĩa là: nơi ở của người họ Cao). Nhân dân còn lập đền thờ ông ở động Tù Và (nay thuộc xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Trong bài vị có viết: "Tiên Hoàng sơ thủy tổ Cao Lỗ hiệu Lư Sơn thiết khí tôn thần".

          Sau này, sách "Bách nghệ tổ sư" cũng ghi lại: "Lư Cao Sơn làng Nho Lâm, thế kỷ III trước Công nguyên bỏ công mười năm sang Trung Quốc học nghề rèn về truyền lại cho dân. Ngày nay, có một cộng đồng dân cư tương đối lớn ở Diễn Châu mang họ Cao. Họ Cao ở Diễn Châu đặc trưng đến nỗi, khi người Nghệ biết một người mang họ Cao, có thể đoán luôn quê hương bản quán của người đó.

4. Tổ sư nghề làm vàng vó

          Tục lệ cúng tế ở Nghệ An còn in hằn dấu vết của dòng truyền thuyết An Dương Vương. Nhân dân ta thường dùng vàng mã trong cỗ bàn cúng tế. Vàng mã có loại là những tờ giấy gió hình vuông, ở giữa quét nhũ vàng hay nhũ bạc cũng hình vuông, gọi là vàng giấy. Người dân xứ Nghệ còn có loại vàng vó, làm bằng nan tre gập lại thành khối vuông, dán giấy vàng hay đỏ ghép xen kẽ nhau. Mỗi khối là một thỏi. Năm mươi thỏi ghép lại thành hình một khối chữ nhật gọi là một thớt. Tương truyền rằng, quân tướng của Thục An Dương Vương hộ tống nhà vua vào đến đây, sau khi vua chết, họ ở lại và truyền nghề làm vàng vó cho dân. Ngày nay, ở một số vùng, các phường hội làm vàng vó cúng tổ sư là: “Thục An Dương Vương chi Quân tướng” (nghĩa là: quân tướng của vua Thục An Dương Vương).

          Khi tìm hiểu rộng ra ở miền Bắc, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy rằng, phần lớn các tỉnh miền Bắc chỉ làm vàng giấy, riêng ở Cổ Loa thì có tục làm vàng vó.

          Như vậy, có thể thấy, dòng truyền thuyết về An Dương Vương trên mảnh đất Nghệ An đã thu hút vào nó không chỉ những câu chuyện về các nhân vật chính trong truyền thuyết mà ngay cả những mẩu chuyện về vết tích quân tướng của vua Thục lưu lại nơi đây. Đó có thể là chuyện về một hiện vật kỳ lạ (như chuyện tảng đá gạo), hoặc là chuyện về một phong tục, một nghề nghiệp như câu chuyện này. Niềm tin về sự hiện diện của Thục Phán An Dương Vương trên quê hương mình thuở xa xưa đã ăn sâu vào tâm khảm những người dân xứ Nghệ. Dù là chuyện làm ăn, dù là chuyện phong tục, dù là để lý giải những hiện tượng kỳ lạ của tự nhiên, họ đều nhìn thấy ẩn hiện phía sau là bóng dáng vị vua huyền thoại ấy...

Câu chuyện về những ngôi đền thiêng

          Những ngôi đền – đó chính là chứng tích cụ thể mà sống động, hiện thực mà vẫn huyền hồ của các truyền thuyết. Dòng truyền thuyết An Dương Vương khi vang động qua các vùng miền, khi chảy trôi qua các địa vực đã lưu lại biết bao lớp phù sa văn hóa. Lớp phù sa đọng lại nổi nét nhất, hiện hữu nhất chính là sự hiện tồn của những ngôi đền thiêng. Đền Thục An Dương Vương ở trong Thành Nội (xóm Chùa ngày nay), Cổ Loa, Hà Nội; đền Cuông ở lưng chừng núi Mộ Dạ, Diễn Châu, Nghệ An; đền Đức Vua ở xã Thượng Xá (nay thuộc xã Nghi Xá), huyện Nghi Lộc, Nghệ An là những địa chỉ neo giữ linh hồn truyền thuyết. Có thể nói, những ngôi đền kia là gốc cội linh thiêng để truyền thuyết “trú chân” và tiếp tục ăn sâu vào tâm hồn dân gian xứ sở ấy, vùng quê ấy.

          Truyền thuyết có một quá trình lưu chuyển rộng rãi trong nhân dân, xuyên qua không gian và thời gian. Nhờ quá trình lưu chuyển này mà một truyền thuyết có cội rễ sâu chặt trong dân gian luôn tiềm tàng khả năng biến thành một hệ truyền thuyết với những câu chuyện phái sinh từ truyền thuyết gốc. Nhưng, trong sự tồn tại của truyền thuyết cũng luôn luôn xảy ra một quá trình ngược lại quá trình phát triển và nảy nở những chi lưu mới, những cành nhánh mới, đó là quá trình cố định hóa và văn bản hóa. Hai quá trình này song song tồn tại trong sự mâu thuẫn, đối lập nhau, tưởng chừng như mỗi quá trình là một vật cản của quá trình còn lại, nhưng thực tế lại không phải như vậy.

Chúng ta có thể hình dung một cách đơn giản nhất về sự tồn tại của những ngôi đền, đó là sự cố định hóa, hiện thực hóa, cụ thể hóa các truyền thuyết dân gian. Bằng sức mạnh của niềm tin, nhân dân không chỉ thêu dệt nên biết bao nhiêu câu chuyện xung quanh một sự kiện lịch sử, một nhân vật lịch sử để làm nên truyền thuyết, họ còn có ước vọng lớn hơn khi biến những truyền thuyết ấy thành cái hiện hữu vĩnh hằng. Những ngôi đền ra đời để đáp ứng nhu cầu ấy của nhân dân.

Vốn là những con người sống giữa ám ảnh về các vị thần từ thuở hồng hoang, nhân dân ta có một nhu cầu gọi là nhu cầu “thần thánh hóa” các nhân vật lịch sử. Với lòng kính mộ, với tất cả nỗi say mê thần thánh, nhân dân đã đắp bồi thêm cho những nhân vật lịch sử một lớp áo huyền ảo - đủ để gây ra cơn chấn động nhận thức, đủ để người ta nghi hoặc về sự tồn tại của một ông thánh, ông thần, đủ để người ta giữ một góc bí mật nhất, thiêng liêng nhất trong tâm hồn để nghiêng mình cẩn trọng trước các nhân vật ấy. Mặc nhiên, có thánh rồi thì phải có nơi để thánh “ngự”, phải có chỗ để nhân dân đến tỏ bày sự ngưỡng vọng của họ đối với các vị thánh. Ngôi đền cũng chính là ngôi nhà thiêng của các vị thánh. Đó là nơi nhân dân trình diện tín ngưỡng của họ, là nơi truyền thuyết được cố định lại bằng các thần tích, thần phả, ngọc phả. Đó cũng là nơi phát xạ ra những luồng truyền thuyết mới xung quanh hệ truyền thuyết gốc. Do vậy, cứ ngỡ rằng quá trình cố định hóa, văn bản hóa truyền thuyết bằng sự hiện hữu của các ngôi đền sẽ chặt đứt đôi cánh bay bổng của truyền thuyết nhưng hóa ra không phải. Trái lại, chính nhờ sự cố định hóa, hiện thực hóa ấy, truyền thuyết càng găm chặt hơn trong tâm thức dân gian, càng ngấm sâu hơn vào tâm hồn dân gian, càng có khả năng phát tỏa ra những hào quang mới, tuôn chảy ra những chi lưu mới từ truyền thuyết gốc.

Vậy, có thể nói, mỗi ngôi đền là một nơi tụ khí thiêng của truyền thuyết, là mạch nguồn năng lượng nuôi dưỡng truyền thuyết, để truyền thuyết giữ được hồn cốt của nó bất chấp thời gian. Nhìn truyền thuyết An Dương Vương từ phía những ngôi đền, chúng ta sẽ càng thấm thía điều đó.

Nhắc đến đền thờ An Dương Vương, hẳn là không ai không biết đến cả một quần thể còn được bảo tồn tại Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội. Ở địa phận xóm Chùa ngày nay còn lưu lại một quần thể gồm đền thờ Thục An Dương Vương (còn gọi là Đền Thượng) và Am Bà Chúa thờ công chúa Mị Châu. Đền Thục An Dương Vương nằm trên một gò đất cao dưới chân lũy thành Cổ Loa xưa, về phía góc Tây - Nam. Kiến trúc của đền gồm có hạ điện và thượng điện, được cấu trúc theo hình chữ khẩu.

Cách đền Thượng mấy trăm mét là Am Bà Chúa, nơi thờ công chúa Mị Châu. Am Bà Chúa náu mình dưới một cây đa cổ thụ từ thời Ngô Quyền. Am cũng gồm thượng điện và hạ điện. Hạ điện là một ngôi nhà nhỏ ba gian, cửa luôn đóng kín. Thượng điện cách hạ điện bởi một cái sân nhỏ, gian giữa đặt bàn thờ công chúa Mị Châu. Hai bên thờ mười hai nàng hầu của công chúa. Phía sau bàn thờ Mị Châu là một khối đá hình người có hai vai, cao hơn một mét, tương truyền đó là hình vóc còn lại của Mị Châu sau khi bị chém đứt đầu hóa đá.

Về nguồn gốc của Am Bà Chúa, nhân dân Cổ Loa còn truyền tụng một câu chuyện bi thương của công chúa Mị Châu. Chuyện xưa kể, khi bị vua cha vung gươm lên chém đầu, Mị Châu đã thống thiết mà rằng: "Nếu vì lòng phản bội mà con hại cha thì sau khi chết con xin làm cát bụi, nhưng nếu vì mù quáng mà dẫn đến cảnh ngộ này thì sau khi chết, con xin hóa đá...". Sau khi nhận nhát kiếm nghiệt ngã của vua cha, thi thể Mị Châu bị sóng cuốn đi. Như lời cầu nguyện, thi thể ấy biến thành một tảng đá, chìm xuống đáy biển. Theo năm tháng, tảng đá ấy được những con nước ba động đẩy dần đến cửa Đại An, chính là cửa sông Hồng ngày nay. Từ đó, nó ngược theo sông Hồng, qua sông Thiếp - một nhánh sông Hồng rồi dạt vào Đầm Cả ở phía Đông thành Cổ Loa.

Sau một đêm mưa gió dữ dội, dân làng Cổ Loa thấy trên cồn Đầm Cả xuất hiện một tảng đá. Mọi người thử ra khiêng, nhưng không sao khiêng nổi tảng đá ấy, dù nó không quá to. Lũ trẻ chăn trâu nếu nghịch ngợm trèo lên tảng đá chơi đều bị ốm, cha mẹ chúng phải đem hương hoa ra khấn thì mới khỏi bệnh. Dân làng thấy thế, gọi tảng đá ấy là tảng đá thần. Rồi một đêm, các già làng đều nằm mơ thấy một cô gái có xiêm y màu trắng đến gặp và nói: "Tại sao các ngươi cứ để ta nằm ở chốn bùn lầy mãi?" Các già làng đoán được oan hồn Mị Châu trở về, bèn họp làng bàn chuyện rước tảng đá về thành Cổ Loa. Thật lạ lùng, trước đây khi khiêng thử, bao nhiêu người cũng không khiêng nổi tảng đá. Ấy vậy mà khi có lễ rước long trọng, đủ cờ quạt, trống chiêng thì tảng đá thần bỗng nhiên nhẹ bẫng. Đặt tảng đá trong một cái cáng hai người khiêng mà vẫn thấy nhẹ tênh. Nhưng khi cáng đến gần đình Cổ Loa thì tảng đá tỳ xuống, hai trai làng không đi nổi. Dân làng đoán công chúa muốn nghỉ lại nơi đây, bèn cho đặt cáng xuống. Nơi ấy, dân làng lập Am Bà Chúa thờ Mị Châu.

Đền Cuông (hay còn gọi là đền Công) nằm ở lưng chừng núi Mộ Dạ (Diễn Châu, Nghệ An) cũng là một ngôi đền linh thiêng nổi tiếng khắp dân gian xứ Nghệ. Sở dĩ đền có tên như vậy là vì xưa kia, núi Mộ Dạ là nơi sinh sống của rất nhiều chim Công. Người dân nơi đây thường gọi chim Công theo tiếng địa phương là chim Cuông. Do đó, ngôi đền nguy nga nằm trên ngọn núi này cũng được gọi luôn là đền Cuông (đền Công). Đền được lập nên để thờ An Dương Vương. Về nguồn gốc ngôi đền, người dân xứ Nghệ còn kể cho nhau nghe câu chuyện này...

Tương truyền, từ rất xưa, một buổi sáng, dân chài ra biển thấy một chiếc kiệu lớn từ biển Đông trôi vào cửa Hiền (một cửa biển đã bị lấp, nay thuộc địa phận xã Diễn Trung). Khi sóng đẩy kiệu lên bờ, dân các làng ven cửa biển ấy đều thi nhau ra khiêng nhưng không sao khiêng nổi. Nhưng đến khi dân làng Cao Ái ra khiêng kiệu thì lại khiêng được. Kiệu được rước về đình làng Cao Ái. Dân làng Cao Ái rất hãnh diện vì cho rằng, hồn thiêng của vua Thục nhập vào trong kiệu đã chọn dân làng mình rước kiệu. Có kiệu vua rồi, nhân dân mới lập đền thờ.

Chỉ riêng việc dựng đền Cuông, trùng tu tôn tạo đền cũng đã đủ cho dân gian thêu dệt nên biết bao nhiêu câu chuyện nữa. Nói như thế để thấy rằng, mỗi cột nanh, mỗi chiếc cổng tam quan, mỗi ban thờ của một ngôi đền khi được dựng nên đều chất chứa biết bao nhiêu sự tích kỳ bí. Sự ra đời của một ngôi đền có thể lưu lại vết tích rõ nét của một truyền thuyết trên một xứ sở, hơn thế, đó còn là sự khơi gọi cả một bầu không gian truyền thuyết, cứ tiếp nối đời đời với những câu chuyện mới có liên quan với truyền thuyết gốc.


[i] Xem thêm trong Hùng Vương dựng nước tập III, IV, NXB Khoa học xã hội, H, 1974.

[ii] Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Nguyên trong cuốn: Từ Cổ Loa đến đền Cuông, NXB Nghệ An, 2006.

Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ An, ngày 09.8.2017

 

Tóm tắt

Trong bài viết này chúng tôi phác thảo tổng quan tình hình sưu tập và đặc điểm trình bày, in ấn cũng như đặc điểm ngôn ngữ, nội dung của các bộ sưu tập ca dao dân ca miền Nam ra đời trước năm 1945 mà chúng tôi tập hợp được, về sự thiếu đồng nhất trong cách gọi tên thể loại, về phương thức sắp xếp và phân loại còn chưa hợp lý của các nhà sưu tầm, về đặc điểm phân loại và đặc trưng tiếng Việt trong ca dao dân ca miền Nam thời kỳ đầu. Đây là bước đầu tiên trong công việc phục dựng và tái bản lại các bộ sưu tập này trong một công trình khác của chúng tôi.

20170808. truyen co tich

Như một quy luật, càng tiếp cận và xử lý thông tin từ những hiện tượng riêng lẻ, các nhà khoa học nhận ra rằng họ càng xa rời hơn những qui ước làm việc ban đầu và mọi nỗ lực phân loại càng tiến gần hơn một sự thật đầy mai mỉa rằng đó chẳng qua là việc cố tình gắn lên đối tượng nghiên cứu những nhãn hiệu do tham vọng chốt chặt các lằn ranh mỏng manh của thế giới. Văn học dân gian, trước khi trở thành một đối tượng nghiên cứu chuyên biệt, là một thành phần của “hỗn hợp” văn hoá dân gian và việc nghiên cứu văn học dân gian, trước khi trở thành một ngành khoa học độc lập, thuộc địa hạt của dân tộc học. Năm 1971, Dan Ben-Amos (03-9-1934), nhà nghiên cứu văn hoá dân gian, giáo sư đại học Pennsylvania, Philadelphia (Hoa Kỳ), chỉ ra một thực tế khá trớ trêu trong nghiên cứu folklore khi ông cho rằng đối với các nhà nhân học và nhà nghiên cứu văn học “folklore trở thành một chủ đề ngoại lai, một đám cỏ xanh bên kia hàng rào rất hấp dẫn họ nhưng, than ôi, không nằm trong lĩnh vực của họ” và “trong khi các nhà nhân học coi folklore là văn học, thì các nhà nghiên cứu văn học lại định nghĩa nó là văn hoá” [6]. Trước đó một phần tư thế kỷ, nhà cấu trúc luận người Nga, Vladimir. Ia. Propp, trong bài nghiên cứu Đặc tính của folklore (1946) cho rằng “xét về cội nguồn thì folklore cần phải gần, không phải với văn học mà với ngôn ngữ”. Ở một đoạn khác, ông lại nhấn mạnh: “Tách khỏi dân tộc học thì không thể có cách tiếp cận duy vật đối với việc nghiên cứu folklore” [14] … Ở Việt Nam, PGS Đỗ Bình Trị cho rằng sự thiếu nhất quán và lúng túng trong cách tiếp cận văn học dân gian là do “tình trạng dở dang, không dứt điểm trong việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và sự phân tán ý kiến trong quan niệm về những vấn đề phức tạp của lý luận và phương pháp luận nghiên cứu folklore” [4]. Theo nhà nghiên cứu Chu Xuân Diên, “sự dao động trong quan niệm lý thuyết về đối tượng và chức năng của folklore học hiện nay thực chất là sự dao động giữa quan niệm folklore là folk culture được tiếp cận dưới giác độ thẩm mỹ với quan niệm folklore là một bộ phận trong văn hoá nói chung,…” [3]. Thực tế cho thấy, sự phát triển chuyên ngành hẹp trong khoa học, một mặt khẳng định tư cách phát triển độc lập của từng lãnh vực nghiên cứu nhưng đồng thời càng thúc đẩy sự quan tâm sâu sắc việc thắt chặt hơn nữa mối quan hệ liên ngành để tiến gần hơn các mục tiêu khoa học. Là một sản phẩm nghệ thuật ngôn từ của dân chúng, văn học dân gian không xa lạ với lĩnh vực giao tiếp của con người trong sự tổng hoà các mối quan hệ của đời sống xã hội - văn hoá. Nếu làm một sự tổng kết sơ bộ các đường hướng nghiên cứu văn học dân gian, cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta nhận thấy ngôn ngữ học, nhân học văn hoá và tâm lí học hành vi là một sự phối hợp thích hợp cho những kì vọng đi đúng hướng và đạt những hiệu quả thiết thực trong lĩnh vực nghiên cứu này.

 

1. Folklore học và ngôn ngữ học: những hiện tượng song song

Trong số những thế lưỡng phân trứ danh của nhà ngôn ngữ học Thụy SĩFerdinand de Saussure (1857-1913), các nhà folklore học chú ý nhiều nhất đến cặp đôi đối lập “ngôn ngữ / lời nói”. Trong Giáo trình ngôn ngữ học đại cương (1916), Saussure định nghĩa ngôn ngữ (langue) là toàn thể những quy ước được một cộng đồng chấp nhận để đảm bảo sự thấu hiểu lời. Mỗi ngôn ngữ (langue) bao gồm một hệ thống ngữ âm, từ pháp, cú pháp,… tồn tại khách quan ở dạng tiềm năng, là tài sản chung của mọi người. Lời nói (parole) là ngôn ngữ đang hoạt động, là sự vận dụng, sự hiện thực hoá ngôn ngữ của cá nhân trong từng tình huống giao tiếp xã hội cụ thể. Ông xác định đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học chính là ngôn ngữ (langue), một kết cấu tinh thần trừu tượng, khái quát, tiên nghiệm và bất biến, là bản thể xã hội, thuộc về cộng đồng, là sản phẩm của xã hội kết đọng lại trong óc của mỗi người chứ không phải lời nói (parole). Chuyển sang lĩnh vực folklore, Petr Bogatyrev và Roman Jakobson trong bài viết Folklore với tính cách một hình thức sáng tạo đặc biệt (1929) cho rằng tương tự như langue, tác phẩm folklore ở ngoài cá nhân và chỉ có một sự tồn tại tiềm tàng. Nó chỉ là một tập hợp những chuẩn mực và xung lực nhất định, một phác thảo của truyền thống sống động mà người trình diễn làm cho sinh động bằng những sự tô điểm của sáng tạo cá nhân, giống như việc những người chủ nhân của parole làm đối với langue. Theo các tác giả này, phương thức tồn tại của một tác phẩm nghệ thuật là một trong các dấu hiệu phân biệt chủ yếu giữa folklore với văn học: “từ quan điểm người trình bày tác phẩm folklore, thì mỗi tác phẩm này là một sự kiện của langue, tức là một sự kiện ngoài cá nhân, độc lập đối với người trình diễn còn đối với tác giả một tác phẩm văn học, thì tác phẩm đó là một sự kiện của parole” [9].

Trong giai đoạn đầu của folklore học, do yêu cầu xây dựng một hệ thống lý thuyết làm nền tảng cho việc phân loại, nghiên cứu và giảng dạy văn học dân gian, các nhà folklore học tập trung chủ yếu vào việc khám phá cấu trúc tĩnh tại, bất biến của văn bản, loại trừ tất cả các yếu tố ngẫu nhiên, cá thể, cụ thể của diễn xướng và giao tiếp nhằm hướng tới những phác đồ cấu trúc khái quát, những mô hình phi thời gian, những thuộc tính bản chất của folklore nói chung. Ở Nga, người mở đường xuất sắc cho hướng nghiên cứu này là nhà folklore học thuộc trường phái Lý thuyết chức năng Alexander Nikolayevich Veselovsky (1838-1906) thông qua việc xác định motif là đơn vị nhỏ nhất, là yếu tố bất biến, cố định cấu thành cốt truyện đồng thời có mối quan hệ biện chứng với cấp độ cao hơn (type) trong cơ chế sản sinh và truyền bá truyện cổ tích. Đi xa hơn, Vladimir Yakovlevich Propp (1895-1970) xác định cấp độ nhỏ hơn của mô-típ là các hành động chức năng của nhân vật để trên cơ sở đó, xác lập một mô hình chung cho mọi truyện cổ tích (thần kỳ). Ở Phần Lan, từ những thập niên cuối thế kỷ XIX, giáo sư văn học Julius Leopold Fredrik Krohn (1835-1888) khởi xướng phương pháp nghiên cứu địa lý - lịch sử (Historic - georaphic Method) trong nghiên cứu truyện dân gian. Sau đó, con trai ông là Kaarle Krohn (1863-1933), giáo sư ngành folklore học so sánh thuộc đại học tổng hợp Helsinki, cùng người học trò của hai ông làAntti Amatus Aarne (1867-1925) tiếp sức phát triển và hoàn thành mục tiêu xây dựng các bảng tra cứu dưới dạng danh mục các thể loại văn học dân gian như là một hồ sơ lịch sử về dị bản của truyện kể dân gian Phần Lan và Bắc Âu trong hai thập niên đầu của thế kỷ XX . Trên cơ sở kế thừa những thành tựu học thuật của những người thầy thuộc trường phái Phần Lan, nhà folklore học người MỹStith Thompson (1885-1976) lần lượt mở rộng phạm vi phủ sóng của các bảng tra cứu typemotif truyện dân gian sang khu vực Nam Âu rồi vượt ra ngoài Châu Âu sang Châu Á, đặc biệt là Ấn Độ... Những thành tựu nói trên đã đóng góp cho folklore học các hệ thống phân loại có tính thực tiễn cho việc tổ chức các tuyển tập lưu trữ (archival collections) và các văn bản đã công bố. 

Trên cơ sở sự đối lập “ngôn ngữ / lời nói” trong quan điểm của Saussure, năm 1943, trong công trình Diễn ngôn (Discourse), Sara Mills sử dụng diễn ngôn (discourse) như một khái niệm chuyên môn đối lập với khái niệm văn bản (text). Trong khi văn bản (text) là cấu trúc ngôn ngữ mang tính chất tĩnh, diễn ngôn (discourse) là cấu trúc lời nói mang tính chất động. Tác giả cho rằng diễn ngôn (discourse) là thuật ngữ có phạm vi nghĩa khả hữu rộng nhất so với bất cứ thuật ngữ nào khác thuộc lý luận văn học và văn hoá. Và nửa thế kỷ sau, ở mục từ Discourse của cuốn Bách khoa toàn thư lý thuyết văn chương đương đại (Encyclopedia Contemporary Literary Theory) (1993), Marie Christine lại khẳng định phạm vi phủ sóng rất rộng của thuật ngữ diễn ngôn khi bà cho rằng nó đi ngang qua ranh giới của các lĩnh vực và tham gia vào một sự tái tổ chức tri thức nói chung đang diễn ra trong khoa học xã hội và nhân văn hiện nay. Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895-1975) phê phán ngôn ngữ học hàn lâm dành hết mọi sự tập trung cho việc nghiên cứu cấu trúc trừu tượng và khép kín mà bỏ qua bình diện sinh thành của ngôn ngữ và trở thành người đi tiên phong, đề xướng một truyền thống mới trong nghiên cứu diễn ngôn xem xét ngôn ngữ như một thực thể đa dạng, sống động, mang tính lịch sử. Tiểu luận Vấn đề các thể loại lời nói (1952-1953) thể hiện tập trung nhất hướng tiếp cận phong cách học về diễn ngôn của ông được xây dựng trên cơ sở đối lập với quan điểm của Saussure về ngôn ngữ. Cao điểm của sự đối lập giữa văn bản (text) và diễn ngôn (discourse) vào những năm 1960 đã đưa ngôn ngữ học rẽ sang hai hướng nghiên cứu. Tình hình cũng xảy ra tương tự trong folklore học. Với chủ trương nghiên cứu folklore theo đường hướng mới từ lúc giữ vị trí biên tập tờ Tạp chí Folkore Hoa Kỳ (Journal of American Folklore) (1908), năm 1940, Franz Boas cùng các học trò tiến hành nhiều nghiên cứu, sưu tập truyện kể dân gian của người da đỏ Bắc Mỹ. Ông quan tâm cả bình diện phong cách văn bản lẫn hình thức diễn ngôn trong sinh hoạt thực hành của truyện kể trong môi trường cụ thể. Mười lăm năm sau, trong tình thế sự phân chia lãnh địa nghiên cứu giữa các nhà ngữ văn dân gian và các nhà nhân học đi đến chỗ đối lập gay gắt và mất tiếng nói chung, William Bascom đề nghị thay thế thuật ngữ folklore bằng thuật ngữ nghệ thuật ngôn từ (verbal art) nhằm xác định cách nhìn nhận tác phẩm văn học dân gian không chỉ là những lát cắt tĩnh tại, những vật thể tồn tại của quá khứ trên các văn bản mà với tư cách những hoạt động lời nói, từ góc độ hoạt động giao tiếp trong mối tương quan đồng đại với vô vàn các mối dây liên hệ, những yếu tố ngẫu nhiên, những chế ước của môi trường diễn xướng cụ thể. Từ sau khi khái niệm nghệ thuật ngôn từ (verbal art) được William Bascom đề xuất (1955), làn sóng phản đối việc ghi chép văn bản folklore tách rời bối cảnh ngôn ngữ, hành vi, giao tiếp, biểu đạt và diễn xướng nổi lên mạnh mẽ và quyết liệt. “Trào lưu bối cảnh” (Contextual movement - chữ dùng của Richard Mercer Dorson (1916-1981)) do các nhà folklore học trẻ nhiệt huyết ở Hoa Kỳ như Dan Ben-Amos, Alan Dundes, Robert Georges… khởi xướng đã tạo nên một cuộc tranh luận “văn bản-bối cảnh” kéo dài 2 thập kỷ (1965-1979) trong giới folklore học ở nước này. Từ những năm 1980 đến nay, trong các nghiên cứu như The ethnography of genre in a Mexican market: form, function, variation (1993), Genre (2000), A World of Others’ Words: Cross-Cultural Perspectives on Intertextuality (2004)…, Richard Bauman đề nghị một sự tái định dạng (reconfiguration) đối với khái niệm thể loại trong nghiên cứu văn học dân gian, xem nó như một phong cách lời nói (speech style) đầy tính năng động (mobilized) và vì thế, thể loại là một hệ thống mở, một khung định hướng quy ước cho sự sản sinh và tiếp nhận diễn ngôn (a conventionalized orienting framework for the production and reception discourse) hơn là một phạm trù phân loại (a category of classification) như hàm nghĩa truyền thống của từ này. Đề nghị hướng tiếp cận tác phẩm văn học dân gian theo đúng bản chất tồn tại của nó như là nghệ thuật ngôn từ gắn liền với hoạt động giao tiếp và tương tác xã hội bằng ngôn ngữ đồng nghĩa với việc xem diễn xướng cũng là một “trò chơi ngôn ngữ” (language game)[1] với các yếu tố tham gia vào giao tiếp: người phát, người nhận, mã, thông điệp, vật quy chiếu, ngữ cảnh và “quy tắc trò chơi” mà trong đó, các quy tắc mã hoá cùng các điều kiện giải mã diễn ngôn do cộng đồng quy ước và do chủ thể sáng tạo cùng với chủ thể tiếp nhận thỏa thuận với nhau. Theo đó, mọi hình thái phát ngôn trừu tượng (văn bản) sẽ không còn cơ sở tồn tại.

Hướng tiếp cận bối cảnh (context-based approach) là một hệ quả tất yếu của sự chín muồi và thành hình sống động một nhận thức về bản chất đích thực của tác phẩm văn học dân gian vốn thường trực trong ý thức của hầu hết các nhà nghiên cứu folklore từ trước khi ngành học này chính thức ra đời và khẳng định vị trí độc lập. Các nhà nhân học là những người đi tiên phong trong đường hướng nghiên cứu mới mẻ này.

2. Hướng áp dụng nhân học văn hoá và tâm lí học hành vi trong nghiên cứu văn học dân gian

Với tính chất một bộ môn liên ngành, nhân học là một ngành học toàn diện, trên cơ sở vận dụng những khám phá của các ngành khoa học khác nhau và cố gắng kết hợp chúng với những dữ kiện riêng của mình để nghiên cứu về bản chất tự nhiên, bản chất xã hội và quá trình lịch sử của con người. Bối cảnh (context) là một khái niệm cơ bản trong nhân học. Nghiên cứu bối cảnh là đặt đối tượng trong những mối liên hệ và quan hệ khác nhau với các đối tượng khác cũng như các yếu tố môi trường xung quanh. Phương pháp chính của nhà nhân học - những người làm điền dã (field workers) - là quan sát - tham dự (participant observation): tham gia trực tiếp vào thế giới thực tiễn (empirical world), lấy thông tin từ các tình huống cụ thể, các bối cảnh xã hội (social contexts) để hiểu biết cuộc sống của đối tượng nghiên cứu theo cách nhìn của chính đối tượng nghiên cứu (inside). Thông tin mà họ hướng tới không phải là bức tranh về cộng đồng mà là bức tranh về cuộc sống của cộng đồng theo cách mà cộng đồng đó đang sống (life as lived) với các mối quan hệ (social relations) và sự tương tác xã hội (social interaction) và các yếu tố, các vấn đề sâu xa ẩn dưới các mối quan hệ và tương tác này, nói chung là các động lực xã hội tác động đến hành vi con người. Đặc thù của nghiên cứu nhân học là cách tiếp cận mở nên phải liên tục điều chỉnh khung lí thuyết cho phù hợp với các phát hiện trên thực địa. Một trường hợp thực tế không đại diện cho bức tranh tổng thể về lĩnh vực nghiên cứu. Do đó, việc tăng số lượng đối tượng nghiên cứu không giúp đưa ra bức tranh đại diện hơn về cộng đồng.

Nói chung, các phương pháp của nhân học văn hoá (còn được gọi là dân tộc học) được áp dụng trong nghiên cứu folkore từ khá sớm. Những phát sinh từ khảo sát thực địa (empirical investigation) và điền dã dân tộc học liên tục đặt ra yêu cầu nhận thức lại đầy đủ về bản chất của đối tượng nghiên cứu của folklore học. Năm 1897, các nhà folklore học Mỹ đã đề xuất thuật ngữ folklife đối trọng với thuật ngữ folklore có tuổi đời nửa thế kỷ. Nếu tính từ thời kỳ Franz Boas giữ vị trí biên tập tờ Tạp chí Folkore Hoa Kỳ (1908) và chủ xướng đường hướng nghiên cứu văn học dân gian theo phương pháp điền dã dân tộc học đến nay thì hướng nghiên cứu văn học dân gian dựa trên lý thuyết nhân học có tuổi đời hơn một thế kỷ. Tuy nhiên, trước khi trường phái nghiên cứu “bối cảnh” ra đời ở Mỹ vào thập niên 60 của thế kỷ XX, văn học dân gian chủ yếu được đặt trong bối cảnh chung của văn hoá các dân tộc, trong đó, hoàn cảnh diễn xướng được đề cập một cách sơ lược, gián tiếp nhưng những chỉ dẫn đi kèm các dị bản tác phẩm được sưu tầm. Đóng góp lớn của các nhà folkore học giai đoạn này là tái dựng những phong tục xa xưa bị thời gian vùi lấp để hỗ trợ cho việc lí giải nội dung ẩn sau những chi tiết thể hiện trên bề mặt ngôn từ của tác phẩm. Các nghiên cứu kinh điển của nhà nhân học theo quan điểm tiến hoá người Anh James George Frazer (1854-1941) xoay quanh mối tương liên giữa huyền thoại và nghi lễ, cụ thể là sự kết nối giữa huyền thoại với tư duy ma thuật (gồm ma thuật bắt chước và ma thuật lây nhiễm). Với kỳ công nghiên cứu suốt vài ba thập kỷ, tác giả đã tin rằng mình đã tìm ra chìa khoá tư duy ma thuật của các dân “hoang dã”, tức là nắm được quy trình vận hành của nó cũng như đã chọc thủng bí ẩn về của các nghi thức ma thuật. Những khám phá của Frazer trở thành những di sản quý giá cho cả hai lĩnh vực nghiên cứu: nhân học và thần thoại học. Sau khi đề xuất mô hình cấu tạo đầy đủ của một truyện cổ tích với 31 hành động chức năng của 7 loại nhân vật, Vladimir Yakovlevich Propp (1895-1970) đi tiếp đến “Những gốc rễ lịch sử của truyện cổ tích thần kỳ” - những nghiên cứu về mối quan hệ biện chứng giữa truyện cổ tích với nghi lễ, phong tục và tư duy nguyên thủy - để cung cấp những chỉ dẫn dân tộc học giúp cho việc hiểu những thông tin “mơ hồ” hoặc “bí truyền” trong truyện cổ tích đồng thời đưa ra những giả định khoa học để phác hoạ cơ chế chuyển hoá ở bề sâu của những dữ liệu dân tộc học thành dữ liệu folklore… Có một điều đáng lưu ý là ngay cả các nhà nghiên cứu folklore theo truyền thống ngữ văn điển hình nhất như Stith Thompson, cuối cùng để đạt đến sự trọn vẹn của mục tiêu khoa học mà mình theo đuổi, vẫn tìm đến với nhân học văn hoá. Chính vì vậy, ông không chỉ vượt qua giới hạn nghiên cứu truyện cổ tích từ góc độ cấu trúc ngôn từ (type, motif) đến góc độ nguyên tắc tổ chức văn bản (tự sự học) mà, trong một chừng mực nào đó, còn chạm đến phương diện văn hoá học và ngoài mục tiêu trước hết là trình bày truyện cổ tích như là một nghệ thuật quan trọng, cần cho mọi tộc người, ông còn giúp độc giả làm quen với những truyện cổ tích nổi tiếng thế giới, không chỉ để thỏa mãn hứng thú của họ đối với truyện cổ tích mà còn làm quen với các thành tố quan trọng của văn hoá.

Sự điều chỉnh của Bascom trước tình hình “xung khắc” về quan điểm giữa các nhà nhân học và các nhà nghiên cứu ngữ văn dân gian thông qua thuật ngữ nghệ thuật ngôn từ (verbal art) vào năm 1955 có ý nghĩa thúc đẩy hướng tiếp cận văn học dân gian trong môi trường diễn xướng, đặc biệt là từ góc độ hoạt động giao tiếp. Năm năm sau, từ chỗ xác định nội hàm cho thể loại sử thi thông qua việc thay đổi tên gọi từ sử thi dân gian (folk epic) thành sử thi truyền miệng (oral epic), trong lý thuyết công thức truyền miệng (oral formulaic theory), Milman Parry và Albert Lord đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tổ chức tác phẩm trong quá trình diễn xướng bằng miệng hơn là bản thân hình thức truyền miệng. Bước sang thập niên 60, Alan Dundes là người mở đầu hết sức bài bản cho hướng nghiên cứu bối cảnh thông qua mô hình ba cấp độ: Văn bản - Kết cấu - Bối cảnh (Text, Texture and Context) [10]. Theo ông, chính bối cảnh là cơ sở phân biệt thể loại, giải thích lí do tồn tại của các văn bản cũng như tính ích dụng xã hội cụ thể của tác phẩm văn học dân gian. Sự phân tích toàn diện cấu trúc của từng cấp độ trên cơ sở những ghi chép điền dã tỉ mỉ và trung thực thông tin của các tình huống giao tiếp cụ thể sẽ mang lại những kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn. Dan Ben-Amos gây nên một làn sóng tranh luận mạnh mẽ khi ông tuyên bố sai lầm của các nhà nghiên cứu đi trước nằm ở quan niệm của họ về tác phẩm văn học dân gian như một bộ sưu tập những vật thể (an aggregate of things, common set of material) được gán cho các thuộc tính bất biến của truyền thống (tradition) và truyền miệng (oral transmission) trong khi bản chất chúng là một quá trình giao tiếp (a communicative process), đặc biệt là sự giao tiếp nghệ thuật trong nhóm nhỏ (artistic communication in small groups). Từ đó, ông định nghĩa folklore là “một hành động nghệ thuật” (artistic action), “một sự tương tác xã hội” (social interaction), “một quá trình hiện thực, nghệ nghuật và giao tiếp” (a definite realistic, artistic and communicative process) [6]. Cũng vào thời gian này, A. Robert Georges khẳng định các sự kiện kể chuyện (storytelling events) là “hành động phi văn tự hay tiền văn tự” (the actions of nonliterate or the preliterate), là “một loại sự kiện giao tiếp” (communicative event) và “kinh nghiệm xã hội” (social experience) của con người mà những ai tham dự vào bối cảnh của nó phải thiết lập “các bản sắc xã hội” (social indentities) [12] với vai trò những người nói và những người nghe. Theo ông, nghiên cứu văn bản truyện cổ không khác gì nghiên cứu sự diễn đạt bằng văn tự một bình diện của thông điệp của các sự kiện giao tiếp phức tạp. Đặc biệt, trong bài viết Truyện ngụ ngôn trong bối cảnh: Một phân tích có tính tương tác xã hội về diễn xướng kể chuyện (1975), Barbara Krishenblatt – Gimblett đã tiến hành phân tích kỹ lưỡng một tình huống diễn xướng truyện ngụ ngôn trong giao tiếp đời thường. Bà đã chỉ ra cơ chế tương tác giữa các vai giao tiếp mà ở đó, câu chuyện góp mặt như một thành tố có quan hệ hữu cơ trong việc tạo ra thông điệp của giao tiếp, và quan trọng hơn có chức năng hiệu chỉnh, tái lập cân bằng cho các sự cố phá vỡ chuẩn mực của xã hội.

Đối lập với hướng nghiên cứu ý thức con người, tâm lí học hành vi nổi lên như một phân nhánh thứ ba của tâm lý học thế kỷ XX, bên cạnh tâm lý học phân tích và tâm lý học nhận thức, với những đại biểu xuất sắc: J Watson (1878-1958), E.Tolmen (1886-1959), E.L.Toocdai (1874-1949), B.Ph.Skinnơ (1904-1990)… Đi theo đường hướng của chủ nghĩa thực chứng của triết gia Pháp Isidore Auguste Marie François Xavier Comte  (1798-1857), các nhà tâm lý học hành vi chọn đối tượng nghiên cứu khách quan là các hành vi quan sát được từ thực tế.

Trong công trình Dẫn nhập về folklore và đời sống dân gian, Richard M. Dorson nhận định rằng với nỗ lực làm cho folklore học trở thành một ngành khoa học chính thống, các nhà nghiên cứu trẻ thuộc trường phái “bối cảnh” đã chuyển hướng quan niệm tác phẩm folklore như những vật thể hay những văn bản sang một loại hành vi và sự giao tiếp của con người. A. Robert Georges, trong bài viết Để tìm hiểu về các buổi kể chuyện, đã xác lập những nguyên tắc hành vi của những sự tương tác kể chuyện, đồng thời, ông cũng chỉ ra sự khác biệt giữa văn bản và hành vi cũng như vai trò của chúng đối với sự cấu thành thông điệp của sự kiện giao tiếp - kể chuyện. Richard Bauman phát triển lý thuyết về nghệ thuật ngôn từ (verbal art) của Bascom thông qua sự diễn giải sâu sắc nội hàm của các khái niệm có liên hệ chặt chẽ: “nghệ thuật ngôn từ” (verbal art), “sự diễn xướng” (performance), “hành vi ngôn từ” (verbal behaviour), “cách thức nói” (the way of speaking) [8]. Theo ông, cách hiểu truyền thống về diễn xướng (performance) đã cô lập tác phẩm folklore trong các hình thức biểu diễn đặc thù của những thể loại mang tính thẩm mỹ trong khi với tư cách là một cách thức nói (the way of speaking), bản chất của nghệ thuật ngôn từ (verbal art) chính là hoạt động giao tiếp bao gồm những phạm vi khác nhau của hành vi ngôn từ (verbal behaviour).

Là người có nền tảng tri thức tâm lý học từ cuối thập niên 50, Hasan El-Shamy nhận ra lĩnh vực tâm lý, cụ thể là tâm lý học hành vi nằm trong quỹ đạo tiếp cận liên ngành mà các nhà nhân học vận dụng trong folklore học. Năm 1967, ông đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài Hành vi luận trong folklore học: một lý thuyết để nghiên cứu tính năng động của văn hoá truyền thống. Trên cơ sở mô hình tương tác giữa kích thích (S: stimulus) và phản ứng (R: reaction) trong tâm lý học hành vi, ông phác hoạ một sơ đồ khái quát cơ chế tạo nên một tình huống diễn xướng cụ thể đi từ tác nhân gợi ý dẫn đến hành vi kể chuyện, sự tương tác giữa các yếu tố bối cảnh làm nảy sinh những tình tiết, những hành động đối phó và kết quả của sự diễn xướng. Mô hình này được ông vận dụng vào việc phân tích hai tình huống thực tế được ghi chép tỉ mỉ bằng phương pháp quan sát - tham dự. Thông qua sự phối hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành: ngôn ngữ, dân tộc học, xã hội học, tâm lý học hành vi, đặc biệt là sự vận dụng khá linh hoạt các khái niệm của tâm lí học, Hasan El-Shamy đã đưa ra những minh chứng khả thi cho một đường hướng nghiên cứu mới mẻ còn đang gây tranh cãi.

   Như vậy, ngôn ngữ học, nhân học văn hoá và tâm lý học hành vi là ba lĩnh vực hỗ trợ đắc lực cho folklore học trong việc tái xác định đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu. Cần thấy rằng phương pháp nghiên cứu liên ngành không phải là một phép cộng của các ngành học mà là một sự tổng - tích hợp và đồng quy các cách tiếp cận theo ý nghĩa xuyên ngành để có thể nhận thức đối tượng nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện. Với những thành quả bước đầu trên cả phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn, hướng nghiên cứu bối cảnh góp phần làm hồi sinh chất sống, giữ gìn vẻ đẹp và giá trị vốn có của tác phẩm văn học dân gian. Tuy nhiên, vốn liếng nghiên cứu truyền thống đã thực sự trở thành tài sản quý giá cho ngành khoa học còn khá non trẻ này. Thực tế cho thấy, mọi sự cực đoan trong việc áp dụng cứng nhắc một phương pháp nào đều tạo ra nguy cơ hủy hoại chính bản thân đối tượng nghiên cứu. Hy vọng rằng sự thiếu cân đối trong bức tranh học thuật về folkore sẽ được khắc phục trong một tương lai không xa.

NHN.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Trần Thị An (2008); “Nghiên cứu văn học dân gian từ góc độ type và motif – Những khả thủ và bất cập”; Nghiên cứu Văn học, (7). 

2. Cành vàng – Bách khoa thư về văn hoá nguyên thủy. Nxb Văn hoá Thông tin, Tạp chí Văn hoá - Nghệ thuật, H, 2007.

3. Chu Xuân Diên (2004). Mấy vấn đề văn hoá và văn học dân gian Việt Nam. Nxb Văn Nghệ Tp.HCM, tr.226.

4. Đỗ Bình Trị (1982). “Mấy vấn đề hiện nay của nghiên cứu folklore”, Văn hoá dân gian, tr.27.

5. Tuyển tập V. Ia. Propp, tập I, II. Nxb Văn hoá dân tộc, Tạp chí Văn hoá - Nghệ thuật, H, 2003, 2004.

6. Ben-Amos, Dan (1971), “Tiến tới một định nghĩa về văn hoá dân gian trong ngữ cảnh” (“Toward a Definition of Folklore in Context”). Journal of American Folklore, (84), tr.3-15.

7. Bascom, William (1955), “Nghệ thuật ngôn từ” (“Verbal Art”). Journal of American Folklore (68), tr.4-27.

8. Bauman, Richard (1975), “Nghệ thuật ngôn từ truyền miệng như một hình thức diễn xướng” (“Verbal Art as Performance”). American Anthropologist (77), tr.290-311.

9. Bogatyrev, Petr and Roman Jacobson (1929), “Folklore với tính cách một hình thức sáng tạo đặc biệt” (“Folklore as a Special Form of Creativity”). The Prague School: Selected Writings 1929- 1946. Ed. Peter Steiner. (Austin: University of Texas Press, 1982), tr.32-46.

10. Dundes, Alan (1964), “Kết cấu, văn bản và bối cảnh” (“Texture, Text and Context”). Southern Folklore Quarterly (28), tr.251-265.

11. El-Shamy, Hasan (1967), Hành vi luận trong folklore học: một lý thuyết để nghiên cứu tính năng động của văn hoá truyền thống (Folkloreic Behavior: A Theory for the Study of the Dynamics of Traditional Culture), luận án tiến sĩ, Folklore Institute, Indiana University.

12. Georges, Robert A. (1969), “Để tìm hiểu các sự kiện kể chuyện” (“Toward an Understanding of Storytelling Events”), Journal of American Folklore (82), tr.313-328.

13. Lemon, Lee T., Reis, Marion J. (dịch và viết lời giới thiệu) (1965), “Lời giới thiệu” (“Introduction”), Regents Critics Russian Formalist Criticism: Four Essays, University of Nebresaka Press, tr.xi-xvii.

14.  Propp, Vladimir. Ia. (1946), “Đặc tính của Folklore” (“The Nature of Folklore”). Theory and History of Folklore, ed. Anatoly Liberman. (Minneapolis: University of Minnesota Press, 1984). tr.3-15.


[1] Khái niệm trò chơi trên ngôn ngữ do Johan Huizinga khởi xướng vào năm 1955, sau đó được triết gia Ludwig Wittgenstein thiết lập như một khái niệm then chốt và đặc biệt phức tạp, sau đó, nó lại được Jean-Francois Lyotard vận dụng để biện luận về đặc trưng của chủ nghĩa hậu hiện đại.

Nguồn: Tạp chí Đại học Sài Gòn, Bình luận văn học, Niên san 2013

Campuchia là một trong những quốc gia hình thành sớm ở khu vực Đông Nam Á. Nền văn hóa Campuchia có lịch sử phong phú đa dạng trải qua nhiều thế kỷ và chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ. Con người nơi đây sống kín đáo, giản dị, nhã nhặn, coi trọng gia đình và người phụ nữ có vai trò rất quan trọng. Trước khi tiếp nhận văn minh và nền triết học tôn giáo Ấn Độ, người Campuchia có những thần linh bản địa của mình. Nền văn học Campuchia bao gồm văn học dân gian và văn học viết. Văn học dân gian Campuchia trong đó có truyện cổ tích đã phản ánh thực tế cuộc sống hàng ngày của nhân dân lao động, những kinh nghiệm sống, sự khôn ngoan của các thế hệ và những tình cảm chân thành chứa đựng nghĩa tình giữa những người lao động cũng được thể hiện rõ nét, sinh động qua các truyện cổ tích. Cùng với yếu tố thần kỳ, không gian, thời gian, nghệ thuật xây dựng nhân vật là các motif đã tạo nên sự hấp dẫn của truyện cổ tích Campuchia. Các motif là sản phẩm của trí tưởng tượng, của sự quan sát cuộc sống xã hội của tác giả dân gian và qua đó thể hiện những ước mơ, khao khát của người dân Campuchia về một cuộc sống tốt đẹp.

20170805 ngungonhanquoc

1.     MỞ ĐẦU

Cũng như nền văn học truyền thống của các dân tộc khác trên khắp thế giới, văn học dân gian Hàn Quốc cũng là một mảnh đất màu mỡ đa dạng về thể loại và phong phú về nội dung thể hiện. Truyện ngụ ngôn là một thể loại chiếm số lượng lớn và có giá trị nội dung nổi bật trong văn học truyền thống của người Korea, kể cả ngụ ngôn dân gian và ngụ ngôn trong văn học trung đại. Ở bài viết này chúng tôi muốn giới thiệu khái quát những nét đặc trưng trong nội dung của những câu chuyện ngụ ngôn dân gian của người Hàn, từ những bài học kinh nghiệm hay triết lý dân gian rút ra đằng sau mỗi cốt truyện có thể giúp chúng ta hình dung được phần nào những quan điểm sống và triết lý nhân sinh của người xưa ở đất nước này.

PGS. TS. Lê Tiến Dũng

Trường ĐH KHXH &NV TP.HCM 

1.Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã đã định nghĩa về loại du lịch sinh thái như sau: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiênvăn hoá bản địa (chúng tôi nhấn mạnh - LTD)gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn thiên nhiên và cá giá trị văn hóa kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đẩy công tác bảo tồn, có ít tác động tiêu cưc đến môi trường và tạo các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế- xã hội cho cộng đồng địa phương” [1].

20170729. Nghinh OngNghinh kiệu cá Ông về lăng

1. Mở đầu

Đời sống văn hoá tín ngưỡng của cộng đồng cư dân miền biển là một phần quan trọng trong việc tổng hợp nên những diện mạo tốt đẹp của văn hoá Việt Nam. Người miền biển, bên cạnh những sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng nằm trong hệ tín ngưỡng chung của dân tộc, còn có những sắc thái riêng mang tính đặc thù do được hình thành và gắn bó chặt chẽ với hoạt động ngư nghiệp biển. Lễ hội Nghinh Ông ở huyện Cần Giờ là nghi lễ truyền thống và lớn nhất của người dân tại huyện duy nhất có biển của thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều người dân Cần Giờ đã xem lễ hội này như là cái tết thứ hai trong năm sau tết Nguyên Đán cổ truyền của người Việt. Thông qua lễ hội, họ được hòa mình trong các hoạt động vui chơi giải trí đồng thời cũng thể hiện tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” đối với cá Ông – loài cá được xem là thần hộ mệnh của họ trên biển. Hằng năm, đến dịp rằm tháng tám âm lịch là hàng trăm chiếc ghe thuyền háo hức trang trí cờ hoa chuẩn bị ra biển rước Ông và cầu mong một mùa đánh bắt bội thu, cuộc sống ấm no.

2. Diễn biến chính của lễ hội Nghinh Ông huyện Cần Giờ

“Lễ hội bao giờ cũng gắn bó với một cộng đồng dân cư nhất định. Nếu Tết âm lịch là sinh hoạt của cả cộng đồng thì ngày hội lại là ngày Tết của một công đồng dân cư nhất định nào đó. Lễ hội gắn bó với từng làng quê, các làng quê khác nhau thì ngày hội làng cũng khác nhau. Mặt khác, lễ hội mang tính tộc người rất rõ. Các dân tộc khác nhau sẽ có những lễ hội khác nhau” (Trần Quốc Vượng (cb), 1998, tr.98). Thông thường lễ hội luôn có hai phần đó là: phần lễ với các nghi thức được thực thi trong lễ hội nhằm thể hiện sự tôn kính của những người tham gia đối với nhân vật trung tâm được thờ cúng, còn phần hội với các trò diễn và trò chơi nhằm mang lại cho người tham gia lễ hội những giờ phút thư giãn sau chuỗi ngày lao động vất vả. Cũng trong suốt thời gian diễn ra lễ hội, các ngư dân gửi lời mời lẫn nhau kể cả khách từ nơi xa đến nhà mình cùng nhau ăn uống, vui chơi, trò chuyện thân tình – đây quả  là một lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

 Từ đèo Ngang vào đến Phú Quốc, ngư dân đều gắn liền với tục thờ cá Ông và lễ hội nghinh Ông, tín ngưỡng này cũng phổ biến tại Cần Giờ. Hằng năm, cứ đến trước ngày diễn ra lễ chính là nghinh Ông thì nơi đây đã bắt đầu náo nhiệt với nhiều hoạt động của Ban quý tế phân công công việc cho các thành viên: Các ban ngành và đoàn thể có liên quan, hội Vạn Lạch, bà con huyện Cần Giờ tiến hành làm lễ viếng và dâng vòng hoa Bia tưởng niệm trận đánh đồn Cần Giờ - Nhà bia ghi danh liệt sĩ thị trấn Cần Thạnh tại nghĩa trang liệt sĩ Rừng Sác nằm đối diện với quảng trường Rừng Sác. Ngoài ra, các thành viên Ban quý tế còn chuẩn bị một bàn lễ được đặt sẵn bao gồm: tam sơn, lục sự, hoa quả, hương đăng, trà kiệu tươm tất. Hai bên bàn lễ đặt một căp lọng tròn, phía bên phải bàn lễ thì đặt trống chầu nằm trên giá còn bên trái bàn lễ thì đặt chiêng treo trên giá. Các dãy ghế ngồi của đại biểu thì sắp sau cột cờ, đội lân và trống kèn thiếu nhi thì đứng thành hàng hai bên cổng lăng. Còn 3 vị huơng chức của hội Vạn Lạch thì mặc trang phục chỉnh tề quần dài khăn đóng, 4 quân Áp Hầu cầm 4 góc là cờ lễ, 8 quân Thị Lập cầm hồi tị, tinh túc, tay văn tay võ, binh khí đi hầu hai bên đại kì trong trang phục áo quần màu vàng viền đỏ, đầu thì đội nón và chân mang giày như lính hầu thời xưa. Tất cả được chuẩn bị chu đáo để lễ Thượng đại kì lễ hội tại sân chợ Cần Giờ. Sau khi kết thúc lễ kéo cờ khai mạc lễ hội, chương trình biểu diễn cải lương của đoàn Trần Hữu Trang tại lăng Ông được tiếp nối cho cả một chuỗi dài những khoảnh khắc thư giãn của cư dân Cần Giờ. Kết nối với công tác chuẩn bị, người dân Cần Giờ nô nức tham gia các trò chơi dân gian đặc sắc như: đi cà kheo tại công viên, đua xuồng tại lăng Ông... Tổ chức lễ mừng công cho các nghề liên quan đến biển như: ngư nghiệp, diêm nghiệp và thường lễ này sẽ tổ chức tại lăng Ông Thủy Tướng (nhưng cũng tùy theo năm nếu thời tiết tốt thì Ban quản lý hội Vạn Lạch sẽ chọn địa điểm khác). Thành phần tham dự rất đa dạng bao gồm: hội Vạn Lạch, lãnh đạo địa phương, các ban ngành và đoàn thể liên quan, ngư dân, nông dân, diêm dân tiêu biểu của thị trấn Cần Thạnh và sáu xã khác của huyện Cần Giờ. Lễ bắt đầu bằng những âm thanh trang trọng của đội kèn trống chào mừng các vị đại biểu tham dự. Tiếp sau là phần giới thiệu các vị đại biểu, tổng kết thành quả mà các tập thể và các cá nhân của huyện đạt được trong một năm qua trong những ngành nghề nói trên. Lãnh đạo đọc diễn văn trao những tấm bằng khen cho những cá nhân cũng như tập thể xuất sắc – đây là phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực cống hiến của họ đối với ngành nghề truyền thống tại địa phương.

Mọi người cùng hòa vào không khí vui tươi, giải tỏa đi những lo toan muộn phiền của cuộc sống. Trong buổi tế lễ, bao giờ cũng có nhạc lễ. Ngày xưa thì mọi người thường tổ chức lễ nghi thức rước Ban nhạc lễ biểu diễn trong lễ hội. Tuy nhiên, qua thời gian thì nghi thức này cũng được hiện đại hóa cho phù hợp với tình hình hiện nay bằng cách hợp đồng với Ban nhạc lễ gồm: 5 nhạc công với nhạc cụ và bát âm, 6 lễ sinh, 1 lễ xướng và 1 lễ văn. Đúng giờ quy định, hội Vạn Lạch chuẩn bị sẵn các lễ vật như trà, hoa quả, rượu, giấy tiền vàng bạc bày sẵn trên bàn thờ cúng tổ và sau đó Ban nhạc lễ đến thì đặt nhạc cụ và lễ cụ vào khu vực bày trí của nhạc lễ. Sau đó, tại lăng Ông Thủy Tướng diễn ra lễ rước đoàn hát bội. Cũng giống như nghi thức rước Ban nhạc lễ thì nghi thức rước đoàn hát bội cũng có điểm khác giữa thời xưa và ngày nay: điển hình là việc đánh một hồi trống chầu kéo dài vừa có tác dụng nghênh đón đoàn hát vừa có tác dụng báo hiệu cho bà con là đoàn hát đã đến và mau đến lăng để thưởng thức các tiết mục. Hiện nay thì hình thức trên không còn nữa. Mà thay vào đó chỉ còn việc đại diện hội Vạn Lạch trong trang phục áo dài khăn đóng, tay bưng khay lễ vật (hoa quả, nhang đèn, trầu, rượu, tiền tổ) ra tiếp đón. Trong niềm hân hoan gặp mặt, bên hội Vạn Lạch trao khay lễ vật cho người đại diện của đoàn hát bội. Sau đó, vị này sẽ đem lễ vật đặt vào án thờ tổ sư, đốt nhang cúng vái tổ, cho người đem án thờ vào đặt trang trọng trong bàn thờ trong hậu trường sân khấu kèm theo đó là nhạc rước tổ “Bát cấu”. Án thờ tổ sư được các thành viên trong đoàn hát an vị xong thì mọi người trong đoàn hát cũng bắt đầu công việc trang trí sân khấu để chuẩn bị một đêm diễn đầy nhiệt tình và tâm huyết cho bà con thưởng thức. Tiếp đến các nghi thức kể trên là lễ cúng bạn cũ lái xưa. Cúng bạn cũ lái xưa: là việc cúng những người bạn lái, ghe bầu, ghe biển ban đầu… từ đàng ngoài vì cuộc sống khó khăn nên đã dùng thuyền vượt biển khơi đầy sóng gió vào vùng đất này khai hoang, lập nên những làng chài, vạn lưới, xóm câu… để rồi có người đã vĩnh viễn nằm lại ngoài biển khơi bao la kia. Thật ra đây chính là lễ cúng để tưởng nhớ đến các vị tiền hiền và hậu hiền, tiền vãn và hậu vãn cũng như các chiến sĩ đặc công rừng Sác đã hi sinh trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, các đồng bào đã tử nạn trong quá trình lao động trên biển. Mối liên hệ trong tục thờ cô hồn biển nơi đây còn thấy ở tập tục thờ cá Ông, qua sự gắn kết giữa truyền thống và hiện đại, phần nào giống như lễ khao lề thế lính trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi). Đó là sự kết hợp tưởng niệm những người sống chết vì nghề nghiệp trên biển mà ngư dân địa phương gọi là “bạn xưa lái cũ” (Nguyễn Thanh Lợi, 2003, tr. 54). Theo tập tục thì “bạn cũ lái xưa” thể hiện tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, tối lửa tắt đèn có nhau của những ngư dân bám biển. Tuy cuộc sống không giàu có nhưng với bản tính cần cù chất phát, họ luôn bình đẳng, phóng khoáng với nhau trong việc đánh bắt, phân chia sản phẩm giữa chủ nghề và bạn lái. Nghi lễ cúng “bạn cũ lái xưa” bao gồm cúng bạn cũ lái xưa (tiền hiền, hậu hiền, tiền vãn, hậu vãn) và cúng thí (36 đạo cô hồn dưới sông biển, 10 đạo cô hồn trên bộ). Trong đó, nghi thức cúng bạn cũ lái xưa với các lễ vật như trầu cau, hoa quả, đèn nhang, chè xôi và sau khi ba hồi chiêng, ba hồi trống hòa âm liên tục thì vạn trưởng hay chánh bái sẽ tiến lên bàn thờ Ông Thủy Tướng để nguyện hương rồi tuần tự là các thành viên trong hội Vạn Lạch, bà con cư dân cho đến khi dứt lễ thì chiêng trống mới dừng lại. Còn với nghi thức cúng thì thì có các lễ vật như phía đầu bàn là lư hương, cặp chân đèn, bình bông, dĩa trái cây, trà rượu, trầu cau, gạo muối, đèn nhang, vàng mã, bánh kẹo; còn chính giữa là xôi, hai bên dọn chè. Khi bắt đầu khởi cúng thì vạn trưởng hay chánh bái sẽ đánh 3 hồi mõ tre, nguyện hương, lạy 4 lạy và rồi tuần tự các thành viên hội Vạn Lạch, bà con vào đốt nhang. Lúc này, các thầy cúng cũng bắt đầu đọc kinh cần an và cầu siêu rồi khấu lạy khi xong. Vạn trưởng hay chánh bái rải gạo muối, đốt vàng mã rồi gõ một hồi mõ tre kết thúc nghi thức. Theo lời giải thích của bác Phan Văn Chấn – hội phó hội Vạn Lạch thì các đối tượng được tưởng nhớ đến trong nghi thức cúng “bạn cũ lái xưa” được giải thích như sau:

- Tiền hiền: là những tiền nhân dày công khai hoang mở đất, khắc phục thiên nhiên để lập nên làng xã, với một tinh thần đoàn kết cộng đồng, đùm bọc lẫn nhau rất cao trong cơn hoạn nạn và cùng nhau tìm kế sinh nhai;

- Hậu hiền: là những hậu nhân kế tiếp, có công sáng tạo ra nghề đánh bắt, khai thác ngư trường, canh tân làng xã, tạo ra cơ ngơi và đời sống tinh thần cho người dân Cần Giờ;

- Bạn cũ lái xưa: là những bạn lái ban đầu và những người bạn lái về sau được cộng đồng ngư dân tôn kính là những bậc thầy truyền dạy nghề đi biển và đánh bắt thủy hải sản cho ngư dân;

- Tiền vãn: là những ngư dân của Hội ngư nghệ và hội Vạn Lạch có công xây dựng và gìn giữ lăng Ông Thủy Tướng, tổ chức lễ hội nghinh Ông hằng năm, chung tay trong công cuộc chăm lo đời sống cho ngư dân của huyện nhưng đã quá vãng;

- Hậu vãn: là những ngư dân của hội Vạn Lạch kế tiếp thế hệ trước trong việc tôn tạo lăng Ông, nâng cấp lễ hội nghinh Ông, phát triển công đồng ngư dân tại địa phương nhưng đã quá vãng;

Về đêm, các hoạt động chuẩn bị cho lễ nghinh Ông vẫn còn diễn ra: giao lưu đờn ca tài tử giữa Trung tâm văn hoá huyện Cần Giờ và thành phố Hồ Chí Minh trong không khí sôi động, vui vẻ của bà con; thả 1000 chiếc đèn hoa đăng trên biển do 2 ghe đảm nhận từ lăng Ông cho đến công viên là một hình thức mới được đưa vào từ năm 2008 và được phát huy cho đến nay. Đây có thể xem là một hoạt động rất có ý nghĩa khi nó làm cho biển của khu vực Cần Giờ từ đêm 15/8 âm lịch đến rạng sáng 16/8 âm lịch trở nên lung linh, huyền ảo hơn. Mặt khác, mỗi ngọn đèn là một tấm lòng biết ơn của thế hệ những người con Cần Giờ dành cho thế hệ cha ông đã hi sinh để giữ gìn và phát huy vùng đất này.

Theo tục lệ từ xưa, nghi thức tỉnh sanh được bắt đầu sáng sớm ngày 16, tuy nhiên chú heo để tế lễ thì một màu trắng, toàn sắc và toàn sinh, đến giờ thì người ở lò sẽ giao đến hội Vạn Lạch. Sau quá trình tắm rửa bằng rượu cho heo tế thì thực hiện hành động tượng trưng là hạ sát chú heo tế này bởi vị vạn trưởng hay chánh tế nhưng sau đó họ mới di chuyển vào nhà bếp làm thật để lấy nhúm lông gáy, nhúm lông chót đuôi cho vào chén huyết đậy bằng vàng mã gọi là “mao huyết”. Heo tế nằm trên tợ, quay đầu vào bàn thờ: trước đầu heo đặt mâm xôi trắng, mâm bánh, mâm bánh; bên phải là chén “mao huyết” với cái thớt có con dao phay cắm lên; bên trái là trầu cau và chai rượu được đậy bằng chiếc ly nhỏ. Nghi thức này cũng có sự nguyện hương của vạn trưởng hay chánh tế rồi đến thành viên hội Vạn Lạch, bà con cư dân vào bái lạy. Tất cả bàn thờ được thắp đèn nhang rực rỡ, mọi người kiểm tra lại các vật tế đủ chưa. Sau đó, vạn trưởng bưng chén “mao huyết” trao cho một người nào đó của hội Vạn Lạch (đã bố trí trước) đem chôn, còn Chấp sự thì đến bàn Hội đồng nhận vùi để đánh 3 hồi chiêng, 3 hồi trống liên tục sao cho chúng hòa âm vào nhau. Vạn trưởng hay chánh bái tiếp tục nguyện hương rồi đến mọi người còn lại, heo tế thì đưa ra sau khu nhà chuẩn bị tiệc để làm thực phẩm đãi khách và cổ dĩa để cúng “Đại lễ”. Sáng ngày này, nhiều hoạt động vui chơi với các trò chơi dân gian được diễn ra trước lăng để mọi người có thể chờ đợi thuyền nghinh Ông về: thả vịt và bắt vịt, đẩy cây, kéo co, đi cà kheo, phiên chợ hàng Việt, biểu diễn lân sư rồng, chương trình chăm lo tết Trung thu cho thiếu nhi huyện… Còn các ban trong hội Vạn Lạch thì theo sự phân công trước đó mà chuẩn bị cho đại lễ được diễn ra suôn sẻ. Tại lăng, sau 3 hồi chiêng và 3 hồi trống thì đội hình đưa nghinh xuất phát trong tiếng nhạc của các nhạc công, chiêng trống hòa âm liên tục cho đến ghe nghinh mới dứt, đoàn lân sư nhảy múa dẫn đường. Theo sau đoàn lân là xe hoa, đội hình đưa nghinh, cộng đồng ngư dân, du khách. Khoảng 10 giờ thì nước lớn, hàng trăm chiếc ghe của ngư dân và ghe chở du khách tham gia lễ hội xuất phát từ bến đò Cần Giờ - nơi bà con thường đi qua xã đảo Thạnh An, hộ tống ghe chính tiến ra biển hướng biển Vũng Tàu mênh mông kia để nghinh Ông. Đặc biệt, ghe nào cũng được sơn phết lại rất đẹp và mới, ngư dân cũng nhân dịp này trang hoàng cho chiếc ghe của mình thêm phần lôi cuốn với cờ hoa đủ sắc màu. Còn trước ghe, ngư dân bày một hương án với các thức cúng như: xôi, gạo muối, heo quay cùng bộ lòng, trái cây, trầu cua, bún, rau sống, nước mắm, trà, hoa vạn thọ, đèn cầy, nhang, giấy tiền vàng bạc… Đối với ghe chính của lăng Ông thì nổi bật nhất với hai con rồng vàng được vẽ dọc hai bên thành ghe nhìn rất sống động, bốn góc mui ghe là những bó hoa vạn thọ vàng óng. Chính giữa mái ghe cắm lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng của Tổ quốc, những lá cờ ngũ hành thì được cắm ở mũi và đuôi ghe. Những người tổ chức còn sáng tạo khi treo một băng vải đỏ có dòng chữ “Cung nghinh Ông Thủy Tướng”. Về phần nhân sự thì trên ghe có ban nhạc lễ, các lễ sinh, ban quý tế mặc lễ phục rất trang nghiêm đứng cạnh hương án có linh vị và các lễ vật dâng cúng cho Ông. Kiệu nghinh được trang trí cờ phướng, gắn đòn khiêng, bên trong kiệu đặt khung hình Ông “Hy Hoàng Thái Hiệu Tiên Sư Tôn Thần”, lư hương, cặp chân đèn, dĩa trái cây, bình bông, ba bài vị, văn tế và mỏ tre. Tất cả các ghe thuyền tuần tự kết thành đội hình hoàn chỉnh để diễu hành trên biển. Tầm 11 giờ trưa, đoàn ghe đã đến khu vực Đèn Trắng hay còn gọi là Tam Giang Khẩu (nơi tiếp giáp giữa 3 con sông là Lòng Tàu của huyện Cần Giờ, sông Thị Vải của thành phố Bà Rịa, sông Dinh của thành phố Vũng Tàu) để bày đàn cúng tế: lễ cầu ngư là lễ cúng cá Ông sống với danh xưng là Phúc Thần, lễ nghinh Ông là lễ cúng cá Ông chết với danh xưng là Nhiên Thần. Trên chiếc ghe chính, vị chủ tế mặc áo dài đen, đầu đội khăn đóng, chân đi hài, ra lệnh gióng ba hồi trống rồi làm lễ tế theo nghi thức cổ truyền là dâng hương, dâng rượu (sơ hiến lễ, á hiến lễ, chung hiến lễ, dâng trà “nghệ điểm trà”, đọc và đốt văn tế cầu mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no rồi quăng xuống dưới lòng biển sâu thẳm kia, những hồi chiêng trống tiếp tục vang cả một vùng biển rộng trong khi hàng trăm chiếc ghe uốn lượn xung quanh nhiều vòng để chờ hiện tượng “lên vọi” – tức đã được Ông chứng giám cho những lời khẩn cầu trong bài văn tế kia. Trong khi đó, tại lăng Ông thì ban nghi lễ sắp xếp đội hình đón nghinh từ lăng đến bến đò và đội hình rước nghinh từ bến đò về lăng. Đội hình này bắt nguồn từ nghi lễ xa giá của Vua chúa, quan lại triều đình xưa được áp dụng xuống các làng xã trong các nghi lễ rước sắc vua, rước sắc thần và lễ rước nghinh, cúng Ông Thủy Tướng của ngư dân vùng biển. Đoàn thuyền nghinh Ông trở về đất liền tại bến đò mà họ xuất phát, các ngư dân trên ghe thì ngồi quây quần bên nhau trong một mâm rượu thịt chúc cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất cho mùa cá sắp tới. Khi ghe chính vào đất liền thì bà con nô nức ùa ra hai bên đường để theo dõi nghi thức của đội hình nghi lễ rước kiệu, hương án về lăng. Theo sau đó nào là múa lân, múa rồng, nhạc lể, nhạc tây. Cả một không gian náo nhiệt, người người tuần tự theo bước về lăng, đoàn đi đến đâu thì những bà con có nhà hai bên đường bày hương án ra cúng đến đó. Khi đoàn rước nghinh về đến lăng thì xe hoa dừng lại tại kì đài, đoàn rước nghinh tiến vào lăng, đoàn lân sư rồng thì biểu diễn tại sân trước của lăng, đội kèn trống đứng hai bên cổng lăng. Trưởng ban lễ hội, Vạn trưởng lễ phục chỉnh tề tiến ra cổng cung thỉnh kiệu nghinh vào lăng an vị. Mọi người vào lăng cầu nguyện và chiêm bái. Sau khi an vị cho Ông trên bàn thờ thì Ban quản tế tiến hành cúng đại lễ cổ truyền, xây chầu đại bội, lễ tế tiền hiền và hậu hiền theo nghi thức cổ truyền Nam Bộ bắt đầu theo tuần tự. Trong quá trình diễn ra các nghi thức như đọc văn tế, dâng hương, dâng trà, dâng rượu của Ban nghi lễ, Ban nhạc lễ, các lễ sinh. Kết thúc lễ thì mọi người bình đẳng quây quần bên nhau trong không khí ấm cúng của đại gia đình để cùng thưởng thức các phần lộc đã cúng Ông.

Trong những năm gần đây, lễ hội nghinh Ông được huyện và Ủy ban nhân dân thành phố quan tâm hơn. Điều đó đồng nghĩa với hình ảnh của lễ hội sẽ được nhiều người lưu ý hơn. Mọi người trong lăng tiến hành lễ chánh tế. Ban nghi lễ bày biện thức cúng ra một chiếc bàn lớn trước bàn thờ chính của lăng gồm nhiều lễ vật: một con heo trắng, hai ly rượu và trà, dĩa hoa quả to, hai mâm xôi. Các nghi thức diễn ra trong vòng một tiếng rưỡi với sự tham gia của Ban nghi lễ trong trang phục trang nghiêm, Ban nhạc lễ ngũ âm với những nhạc cụ truyền thống, các lễ sinh cùng các cô đào thài duyên dáng nhưng cũng không kém phần tôn nghiêm. Buổi sáng cùng ngày, nhiều chương trình ca nhạc, trò chơi dân gian, phiên chợ hàng Việt thuộc phần hội vẫn được tiếp tục. Các thành viên hội Vạn Lạch tập trung tại lăng để cúng “Đại lễ tạ Ông”. Thành phần tham dự gồm có Ban nghi lễ với các lễ vật đặt lên bàn thờ, nhạc lễ (nhạc công, lễ công, lễ xướng, lễ văn) đầy đủ, sáu cô đào thài, sáu lính hầu (để chuẩn bị cho việc hầu cờ, hầu hương và hầu chuông), chánh bái, phó bái, vạn trưởng, Ban tế lễ, cùng đông đảo bà con ngư dân và du khách. Xen lẫn quá trình cúng Ông trong lễ chánh tế và Đại lễ cúng Ông thì bà con ngư dân cũng vào lăng dâng hương cho Ông. Lăng Ông tổ chức hát bội suất cuối cùng với các vở tuồng sẽ thay đổi hàng năm chứ không lặp lại chủ yếu nhằm ca ngợi công ơn chở che, cứu giúp của cá Ông dành cho những ngư dân quanh năm mưu sinh trên biển cả. Khi hát đến đoạn cuối thì người đại diện đoàn hát sẽ thông báo cho hội Vạn Lạch chuẩn bị nghi tôn vương hồi chầu: thắp hương và đèn các bàn thờ, các thành viên trong hội Vạn Lạch thì trang phục chỉnh tề cầm hương đứng hai bên chánh điện. Sân khấu tạm dừng vài phút để các nghệ sĩ vào chuẩn bị trang phục thích hợp. Sau đó, 3 hổi trống nghi Tôn Vương vang lên hòa vào 3 hồi trống của đoàn hát bội. Vừa dứt 3 hồi trống nhạc thì ông chấp sự đánh chầu Tôn Vương, liên tục mỗi hồi 3 tiếng (2 nhặt 1 lơi). Trong khi đó, nam nghệ sĩ vào vai nhà vua cầm ấn kiếm từ trong bước ra ngoài lần lượt hô vang dõng dạc: “phản tiền chi hậu”, “phản hậu chi tiền”, “hồi chầu” ứng với từng hoạt cảnh tương ứng rồi kết thúc tuồng hát bằng những lời chúc một mùa bội thu, bình an, no ấm cho hội Vạn Lạch. Tiếp đến, người chấp sự hô to: “Tẩy trừ tiền nguyệt”, “Đắc địa hạo thiên”, “Hát xướng đã yên”, “Phong hòa vũ thuận” kèm theo ba tiếng trống cho mỗi câu. Và đáp tạ linh Ông – Tạ cổ hồi chầu bằng việc đánh trống chầu nhỏ giọt. Nghi Tôn vương hồi chầu kết thúc cho một kì lễ hội lăng Ông Thủy Tướng thành công tại Cần Giờ.

3. Những giá trị thiết yếu của lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ đối với đời sống văn hóa tinh thần của người dân tại đây

- Liên kết cộng đồng, tạo thêm sự gắn bó thân thiết trong toàn dân:

Giá trị đặc trưng của các lễ hội trên dải đất hình S của chúng ta dù thuộc về một cộng đồng làng xã, cộng đồng tôn giáo hay nghề nghiệp cũng đều mang tính cộng cảm và cộng mệnh. Vì thế, lễ hội nghinh Ông Cần Giờ cũng chứa đựng những giá trị đặc trưng ấy. Đến với một lễ hội lớn của huyện thì người dân nơi đây có dịp để tưởng nhớ, thể hiện tấm lòng tri ân đối với cá Ông – vị cứu tinh của ngư dân tại các tỉnh giáp biển của Việt Nam. Ngoài ra, hòa mình vào dòng người trong các nghi thức, quy định của lễ hội nhưng họ không thấy gò bó mà trái lại họ còn nhận ra rằng những sinh hoạt văn hóa mang tính tập thể như thế này làm cho bản thân mỗi người cảm thấy sự phấn khích, gắn bó chặt chẽ với nhau, trưởng thành hơn. Cũng chính sự cộng cảm và cộng mệnh đó như một chất keo kết dính giúp cho người dân nơi đây có cơ hội phát triển hơn bởi lẽ họ đã gắn bó với nhau thì thách thức nào cũng vượt qua, đủ sức xô ngã mọi chướng ngại trong đời sống văn hóa tinh thần để hướng tới những giá trị chân thiện mĩ. Lễ hội này cũng chính là sự kết hợp độc đáo giữa yếu tố linh thiêng trong phần lễ và yếu tố trần thế trong phần hội. Đối với những thành viên trong cộng đồng nơi đây thì lễ hội này như một liều thuốc bổ tinh thần lôi cuốn mọi người đến tham dự, khơi gợi trong họ những tình cảm tốt đẹp giữa người với người để rồi từ đó giữa các thành viên luôn có một sự liên kết bền chặt, tạo nên một nhịp sống hài hòa cho người dân của huyện Cần Giờ.

- Giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình phát triển bền vững du lịch sinh thái - văn hóa Cần Giờ:

Hiện nay, nhịp sống tại những đô thị hiện đại cuốn con người vào vòng xoay của những bộn bề, lo toan của cuộc sống. Mặc dù, quanh năm có nhiều lễ hội nhưng chưa chắc gì họ sẽ tham gia và thậm chí là nhớ đến. Những giá trị truyền thống ấy có thể dần mất đi và đó là một sự mất mát cho thế hệ sau. Vì thế, lễ hội nghinh Ông cổ truyền của ngư dân Cần Giờ qua quá trình hiện đại hóa dường như ít nhiều có thay đổi cho phù hợp. Tuy nhiên, vốn là một trong những thành tố của nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc cũng như thể hiện được tinh thần cộng đồng đẹp đẽ nhất của con người qua các cuộc trò chơi dân gian, qua các hình thức trình diễn nghệ thuật thì những thay đổi ấy cũng không làm mất đi giá trị truyền thống vốn có của lễ hội này. Nói cách khác, lễ hội Nghinh Ông thể hiện cái thiêng liêng của đời sống tâm linh, là trạng thái “thăng hoa” làm cân bằng đời sống hiện thực của người dân. Lễ hội này không chỉ là tấm gương phản chiếu nền văn hoá dân tộc đa dạng trong thống nhất của dân tộc, mà nó còn là nơi bảo tồn, giữ gìn, phát huy nền văn hoá dân tộc ấy. Trong lễ hội, những phần diễn trò và trò chơi dân gian luôn là những gam màu tươi sáng, có sức thu hút mãnh liệt đối với bất kì người dân nào. Chính những trò diễn và trò chơi tuy không mang tính nghi lễ ấy lại là những giá trị văn hóa cần được lưu giữ. Trong tâm thức mỗi người, những trò chơi ấy tuy đơn giản những lại hàm chứa những ý nghĩa sâu sắc, những tiềm năng to lớn. Chính vì thế, giữ gìn và bảo tồn các phần sinh hoạt ấy chính là lưu giữ cho thế hệ sau những nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc đồng thời cũng là cơ hội mở ra cho sự phát triển du lịch bởi những nét sinh hoạt ấy vốn còn lạ lẫm, thu hút nhiều du khách phương xa.

- Góp phần phát triển kinh tế của huyện và tạo thêm điểm đến hấp dẫn cho du lịch của thành phố:

Những năm qua, đất nước ta từng bước chuyển mình mạnh mẽ trong tiến trình hội nhập với thế giới về nhiều phương diện. Do đó, đời sống của người dân cũng được nâng cao hơn để rồi nhu cầu về vật chất và tinh thần đã trở thành một nhu cầu chính đáng. Trong đó, nhu cầu tinh thần thông qua hoạt động du lịch có ý nghĩa lớn khi con người được trải nghiệm những lễ hội, những thắng cảnh, những tập tục đặc sắc tại mọi nẻo đường mà họ tới. Nắm được nhu cầu đó, nhiều địa phương trong đó có Cần Giờ đã phục dưng và duy trì những lễ hội đặc trưng để có thể phát triển du lịch, góp phần vào phát triển kinh tế. Với việc tổ chức lễ hội nghinh Ông theo thông lệ hàng năm vào tháng 8 âm lịch còn có một lợi ích thiết thực khác là tạo ra một điểm đến cho khách du lịch trong nước, khách du lịch nước ngoài khi đến với thành phố Hồ Chí Minh sống động nhưng đậm chất văn hóa. Thông qua những chương trình du lịch lễ hội nhằm giới thiệu với du khách một cách sinh động về hình ảnh con người Nam Bộ trong quá khứ và hiện tại; giới thiệu những nét đặc trưng, những giá trị văn hoá tín ngưỡng được thể hiện trong lễ hội. Đến với lễ hội nghinh Ông, chi tiêu cho các dịch vụ cơ bản chiếm phần lớn và mức chi tiêu này ngày càng tăng nên việc đóng góp của du lịch địa phương cho nền kinh tế sẽ là một xu hướng đáng quan tâm. Đồng thời, du khách cũng được hoà mình với niềm vui của người dân địa phương, được tận hưởng phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp và nhiều công trình kiến trúc có giá trị lịch sử. Lễ hội truyền thống này đang được coi là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn quan trọng phục vụ phát triển du lịch và là một sản phẩm của loại hình du lịch văn hoá trong chiến lược phát triển du lịch của thành phố Hồ Chí Minh. Lễ hội nginh Ông từ lâu không bó hẹp trong phạm vi một địa phương mà tồn tại trên những tỉnh thành giáp biển của Việt Nam. Số lượng người tham gia lễ hội ngày càng đông, người dân địa phương lẫn du khách nhiều nơi hòa lẫn vào nhau trong niềm hân hoan tại một điểm đến tương đối mới so với những điểm du lịch trong nội thành đang được khai thác thường xuyên.

4. Kết luận

Từ lâu hình tượng cá Ông đã đi vào tâm thức của người Việt đặc biệt là những ngư dân bám biển trong cuộc mưu sinh. Dân gian coi cá Ông như một vị thần nên các nghi thức tưởng nhớ đã trở thành hoạt động tín ngưỡng dân gian. Vì thế, hàng năm, dân chúng nhiều nơi vẫn thường tổ chức ngày nghinh Ông vào nhiều thời gian trong năm tùy từng vùng để tưởng nhớ đến công lao của ông. Cho đến nay, những ngư dân tại Vũng Tàu, Kiên Giang, Cần Giờ vẫn rất kính nể Ông và xây dựng những khu Lăng, nghĩa trang rất uy nghiêm để thờ cúng. Trải qua bao nhiêu thăng trầm của thời cuộc, những lăng cá Ông này vẫn sừng sững uy nghiêm minh chứng cho việc ngư dân kính trọng công đức của cá Ông. Trong tâm thức của ngư dân tại các tỉnh giáp biển nói chung và người dân Cần Giờ nói riêng danh xưng “Nam Hải tướng quân” dành cho cá Ông là hoàn toàn xứng đáng. Vì thế, việc thờ cúng ông tại nhiều vùng được xem là một cử chỉ đẹp thể hiện một cách đậm nét bản sắc văn hoá dân tộc Việt. Đồng thời, tín ngưỡng thờ cá Ông còn là kết quả của quá trình giao lưu văn hoá hết sức sôi động của cư dân người Việt và người Chăm xưa. Do đó, đi kèm với sự thờ cúng là việc tổ chức lễ hội và nhiều trò chơi, trò diễn tại lăng. Lễ hội tại đây lăng Ông huyện Cần Giờ được xem là mẫu mực cho các lễ hội của đình làng ở thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ. Đặt trong bối cảnh xã hội hiện nay, vẫn còn đó nhiều ngư dân và người dân không sống bằng nghề biển rất tôn kính cá Ông và xem như là một tín ngưỡng văn hoá dân gian hướng họ đến với những cái hay, cái đẹp trong quá trình mưu cầu sung túc cho cuộc sống thiên biến vạn hoá này.

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Văn Chấn (Vạn phó hội Vạn Lạch) (2014), “Lăng Ông Thủy Tướng” (tài liệu cá nhân).
  2. Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục (1959), Ngô Lập Chí dịch, khoa Xã hội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.

http://www.taphopdongtam.org/baiviet/phubientapluc.html

  1. Nguyễn Thanh Lợi (1999), Sinh hoạt văn hóa dân gian ở xã Cần Thạnh (huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh) qua tục thờ cá Ông, Trong Làng xã Nam Bộ - quá khứ và hiện tại, Huỳnh Lứa, Đinh Văn Liêm chủ nhiệm, Đề tài của Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh.
  2. Nguyễn Thanh Lợi (2003), Thờ cá voi ở thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á, số 6.
  3. Nguyễn Thanh Lợi (2014), Tín ngưỡng dân gian những góc nhìn, Nxb Thời đại.
  4. Phan Thị Yến Tuyết (2010), Tín ngưỡng thờ mẫu và nữ thần từ chiều kích văn hóa biển của vùng biển đảo Kiên Hải, Kiên Giang, Tạp chí Khoa học xã hội, số 5 (141).
  5. Trần Quốc Vượng (2005), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục.
  6. Lê Trung Vũ, Lê Hồng Lý (2005), Lễ hội Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin. 

 Nguồn: Tạp chí KH Văn hóa và Du lịch, Vol.7, số 4 (84), tháng 7.2016

(Chuyên luận của Trần Thị An. NXB KHXH, H., 2014; 430 trang)

TS. Đặng Quốc Minh Dương

Đại học Văn Hiến, TP Hồ CHí Minh.

So với các thể loại tự sự dân gian khác, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, truyền thuyết dân gian được các nhà nghiên cứu quan tâm muộn hơn cả. Hơn nữa, tư liệu về truyền thuyết dân gian Việt Nam hầu hết tản mát trong tín ngưỡng hoặc trong các tác phẩm văn học thành văn. Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu nhưng các ý kiến bàn luận về thể loại truyền thuyết dân gian chưa thống nhất, nguyên nhân cơ bản là do có các ý kiến khác nhau về đặc trưng thể loại…

Thông tin truy cập

74028339
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
4736
23952
74028339

Đang có 363 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website