Tự do và sự thật [Sartre và Robbe-Grillet]

 

             Quan hệ [giữa tự do và sự thật] được biểu thị trong mệnh đề của Sartre: “không có tự do khi không có sự thật”[1].  Robbe-Grillet phủ nhận hoàn toàn mệnh đề này khi tuyên bố : « Tôi không cần đến sự thật để có thể tự do”[2]. Đối với Robbe-Grillet, tự do không phải là nơi chốn cũng không phải là điều kiện của sự thật, cũng không phải là điều kiện của tính đích thực. Tự giới hạn ở phạm vi lời nói, tự do giúp con người giải phóng khỏi nỗi lo phải trở thành một bản thể đích thực của mình, phải có một cái tôi đích thực và duy nhất. Giải phóng khỏi nỗi lo đó để trở thành một bản thể trong mọi khả thể.

           Sartre đã phát triển một cách sâu rộng ý tưởng về con người đích thực như là con người tự do:

Cái mà chúng ta tìm cách định nghĩa, đó là bản thể của con người trong tư cách là nó quyết định sự xuất hiện của hư vô, và bản thể này xuất hiện trước chúng ta như là tự do. Như vậy tự do như là điều kiện cần thiết đối với sự hư vô hoá của hư vô không phải là một đặc tính (trong số những đặc tính khác) thuộc về bản chất của con người. […] Tự do có trước bản chất của con người, nhờ có nó mà bản chất con người mới có thể hình thành, và bản chất này ngưng lại trong tự do. Vì thế không thể phân biệt cái mà chúng ta gọi là tự do với sự tồn tại của “hiện thực người”. Con người không tồn tại trước rồi tự do sau, mà không có sự khác biệt giữa bản thể của con người và “bản thể tự do” của nó.»[3]

            Mệnh đề “tự do có trước bản chất của con người” gợi nhớ một mệnh đề khác: “tồn tại có trước bản chất”. Vậy có thể hiểu tồn tại đồng nghĩa với tự do? Chừng nào còn tồn tại, con người không có một bản chất xác định, bởi vì nó tự do tự tạo nên chính mình. Vì thế mà không có sự thật về một người đang sống, anh ta luôn có khả năng thay đổi và thay đổi không ngừng. Ta chỉ có thể nói về sự thật của một người sau cái chết của anh ta, cái chết mà cùng với nó mọi khả năng thay đổi sẽ kết thúc. Đấy là lý do khiến cho con người, một khi đã đến với thế giới này, “buộc phải tự do”. Đến lượt nó, sự bắt buộc này khiến con người âu lo: “…âu lo là cách thức tồn tại của tự do như là ý thức tồn tại, chính trong âu lo mà Tự do tồn tại-cho-mình trong sự tồn tại đang được bàn đến của nó. »[4] Như vậy, tự do được biểu hiện qua âu lo. Sự biểu hiện này của tự do có nghĩa là con người bị tách rời khỏi những gì anh ta đã là - bản chất của anh ta- bởi một hư vô từ đó xuất hiện nỗi sợ hãi. Con người không thể làm gì khác hơn là tồn tại trong tự do. Khi cố thoát khỏi nỗi sợ, anh ta có thể chọn thái độ chạy trốn mà Sartre gọi là nguỵ tín (mauvaise fois).

  Sự phân biệt giữa nguỵ tín và chân tín xác định một cách rõ ràng rằng con người thường sống trong ý thức mang tính hai mặt: ý thức về những sự thật mà anh ta muốn che giấu, vì điều này anh ta nói dối chính mình; và ý thức về những sự thật mà anh đủ can đảm thừa nhận.

Khi viết: “tôi là cái mà tôi muốn che giấu”[5], Sartre nhấn mạnh sự khác nhau giữa cái mà người ta muốn che giấu và cái mà họ muốn trưng ra, sự khác nhau giữa cái tôi đích thực tự do và cái tôi thiếu đích thực nguỵ tín. Tại sao cái tôi nguỵ tín lại thiếu đích thực? Bởi vì trong sự nguỵ tín, tự do bị phủ định, nó biến mất.

Trong một thế giới của không-sự-thật như thế giới của Robbe-Grillet, dường như chỉ có tự do, nguỵ tín không tồn tại. Đó cũng là thế giới kiểu Nietzsche, nơi mà “không có gì thật, mọi điều đều có thể”. Robbe-Grillet không tìm cách nắm bắt cái đích thực, cũng không tìm cách phát hiện cái không đích thực để từ chối nó. Ông cũng không tìm kiếm một cái tôi đích thực, cái tôi thuần tuý và duy nhất. Ông theo đuổi cuộc truy tìm nội tâm để khai thác những khả thể của cái tôi của ông. Câu hỏi đặt ra là: “tôi là ai?”, chứ không phải : « tôi thực sự là ai?”. Trong quan niệm của Sartre luôn có sự không liền mạch giữa bản-thể-là-ta và bản-thể-không-phải-là-ta. Trong tác phẩm Robbe-Grillet, rất khó chỉ ra cái mong muốn phân biệt hai kiểu tồn tại này. Đoạn văn sau đây trong Tái diễn cung cấp cho chúng ta một ví dụ về trường hợp này :

Tôi thường xuyên nói về năng lượng sáng tạo tràn trề vui sướng mà con người cần không ngừng phô trương để tái dựng lại thế giới đổ nát bằng những cấu trúc mới. Chính vì thế mà tôi lại tiếp tục bản thảo này sau trọn một năm viết kịch bản điện ảnh, bị ngắt quãng do quá nhiều chuyến đi, chỉ vài ngày sau khi một phần quan trọng của đời tôi bị tàn phá, vậy là tôi có mặt ở Berlin sau một tai biến khác, một lần nữa lại mang một cái tên khác, những cái tên khác, làm một nghề giả mạo được cung cấp nhiều hộ chiếu giả và một nhiệm vụ bí ẩn lúc nào cũng sẵn sàng bị giải tán, tuy nhiên tôi tiếp tục chiến đấu một cách bướng bỉnh giữa những nhị hoá nhân cách, giữa những hiện hình khó nắm bắt, những hình ảnh tái diễn trong những tấm gương trở về. (TD, 82)

             Một sự chuyển đổi lạ thường của chủ thể viết. Từ đầu đoạn văn đến « một phần quan trọng của đời tôi bị tàn phá », có thể hiểu chủ thể viết là tác giả, và đoạn tiếp theo là nhân vật. Sự thực là trong các bài phỏng vấn, Robbe-Grillet thường xuyên nói về ý muốn xây dựng một thế giới mới từ đống đổ nát, đến việc thực hiện các phim, đến những chuyến đi của ông. Tất cả những gì mà « tôi » của phần đầu đoạn văn nói đều trùng khít với những việc tác giả đã làm. Nhưng rõ ràng Robbe-Grillet không được cung cấp nhiều hộ chiếu giả, không có nhiều tên giả, cũng không thực hành nghề gián điệp. Như ta biết, đó là nhân vật chính của tiểu thuyết Tái diễn : một chủ thể đa danh mang nhiều tên khác nhau : Henri Robin, Wall, Ascher, Frank Mathieu, Mathieu Frank, Boris Wallon, Markus von Brücke…, anh ta đến Berlin vì một nhiệm vụ bí ẩn. Điều lý thú ở đây là về phương diện ngôn ngữ, không có sự phân biệt giữa các chủ thể phát ngôn. Dòng trần thuật tiếp diễn trong cùng một lô gíc hình thức, như thể chỉ có một « tôi » đang nói, một cái tôi vừa là tác giả vừa là nhân vật. Không nên quên rằng cuốn sách đang được bàn đến ở đây không phải là tiểu sử, mà là tiểu thuyết ; tác giả không đồng nhất với nhân vật. Tuy nhiên, cách viết này của Robbe-Grillet làm mờ ranh giới giữa các thể loại : tiểu thuyết có thể trở thành tự thuật (chúng tôi sẽ đi sâu vào vấn đề này trong chương sau). Nó cũng góp phần xóa bỏ sự phân biệt bản thể học giữa bản-thể-là-ta và bản-thể-không-phải-là-ta. Thực sự, có sự phân biệt giữa tác giả và nhân vật, hay tác giả chính là nhân vật ? Đến cuối đoạn văn, không thể phân biệt được nữa : đoạn câu « tôi tiếp tục chiến đấu một cách bướng bỉnh giữa những nhị hoá nhân cách, giữa những hiện hình khó nắm bắt, những hình ảnh tái diễn trong những tấm gương trở về », có thể đặt vào miệng cả hai, ai nói cũng được. Đoạn văn vang lên như là độc thoại nội tâm của chính tác giả. Tính đa thanh tạo hiệu quả tự truyện, đồng thời nó nhân lên những khả năng tồn tại của nhân vật. Tuy nhiên, khi nhân vật được nhân lên nhiều với nhiều khả thể, anh ta có thể trở thành tất cả những ai được xem là kẻ song trùng với anh ta, nhưng cũng không là ai cả. Như thế, anh ta tồn tại một cách không-đích-thực, ở anh ta không có tính đích thực, dù là theo nghĩa của Heidegger hay theo nghĩa của Sartre, vì anh ta là chính mình đồng thời không phải là chính mình, vì anh ta không tìm cách để trở thành đích thực, cũng không tìm cách thuộc về riêng mình anh ta. Đấy là lý do để, từ một góc độ nào đó, vấn đề tính đích thực không phải là vấn đề của tác giả này.

        Đối với Sartre, tự do là con đường dẫn tới tính đích thực, ta chỉ có thể đạt tới tính đích thực cùng với tự do. Cuộc tìm kiếm tính đích thực hoàn thành trong quá trình giải phóng và đúng hơn là tự giải phóng. Đó là một cuộc tìm kiếm vô tận nhờ nó con người tự định nghĩa trong tư cách là con người, với nghĩa đầy đủ nhất. Sartre chứng mình ý muốn tìm kiếm tính đích thực ở các nhà văn đương đại như  Proust, Sarraute, những người quan niệm viết là cuộc đấu tranh chống lại cái thiếu đích thực và truy tìm cái đích thực. Chính ở điểm này mà Robbe-Grillet tỏ ra vừa giống vừa khác với Sartre : tự do, và đặc biệt là tự do lời nói, là điều kiện cho phép con người đi tới tận cùng bản thể để xây dựng bản thể ; tuy nhiên ở Robbe-Grillet, đó không phải là một bản thể đích thực được hiểu như những phương diện bị che giấu, đối lập với một bản thể hiển lộ, tức là cái bề ngoài nhìn thấy được. Sự khác nhau giữa Sartre và Robbe-Grillet, liên quan đến quan hệ giữa tự do và sự thật, được nhà tiểu thuyết mới giải thích trong bài phát biểu của ông trong hội thảo ở Cerisy về Sartre từ 16 đến 26 tháng giêng năm 1979[6]. Robbe-Grillet thừa nhận các tiểu thuyết của Sartre đã có một tác động quan trọng đối với ông trong nghề nghiệp viết văn : vai trò kích hoạt hành động viết. Với Robbe-Grillet, Sartre của thời kỳ Libération[7] là một phát hiện có tính kích thích mạnh mẽ và gây sốc. Buồn nôn giúp ông nhận thức về việc cần đặt lại vấn đề về sự thật, và về sự đối lập giữa tự do và sự thật. Đó là điều ông đánh giá cao ở Sartre. Nhưng ông cũng trách triết gia này đã khuếch đại vai trò của sự thật và trách cứ ý tưởng cần phải có sự thật để được tự do : « Vấn đề của tất cả các nhân vật của Sartre chính là ở công cuộc tìm kiếm tự do của họ, hoặc là cuộc tìm kiếm ý thức về tự do, nhưng là tự do ở trong một lời nói luôn luôn là lời nói của sự thật. Đối với tôi Sartre lúc nào cũng gắn bó một cách thái quá với ý tưởng về sự thật »[8] Bằng sáng tạo văn học và các bài viết của mình, Robbe-Grillet từ chối tầm quan trọng mà Sartre gán cho sự thật. Ông cố gắng thiết lập một quan niệm khác về sự thật bằng cách lấy đi của khái niệm này tất cả các giá trị tuyệt đối. Ông cũng tước đi của lời nói tính chất thật của nó. Sau khi đọc Những con đường tự do thì cú sốc do Buồn nôn gây ra trở thành cú sốc chủ yếu. Dù Sartre rất gắn bó với ý tưởng về sự thật, thì theo Robbe-Grillet, Roquentin, nhân vật chính của Buồn nôn, vẫn là cha đẻ của Tiểu Thuyết Mới, tức là hình thức văn học mà Sartre có lẽ là định làm. Nhưng với Mathieu trong Những con đường tự do thì không còn như vậy nữa. Và những trang đầu tiên của cuốn Tuổi bắt đầu có lý trí cho ông cảm giác là « không còn gì để khám phá nữa, không còn gì để sáng tạo nữa », vì các quan hệ của nhân vật với thế giới đã được xác lập. Hệ quả là nhân vật không sống nữa, tương lai của nó đã hoàn tất. Những tiểu thuyết đầu tiên của Robbe-Grillet được viết một phần trong mục đích đối lập với trạng thái xơ cứng áp đặt bởi một sự thật có sẵn. Chính trong nghĩa này cần hiểu tại sao tác phẩm của Sartre đã từng kích hoạt cho Robbe-Grillet viết. Ông viết để cứu vớt sự vật, để giải phóng tự do khỏi sự thật, để trả cho thế giới những gì còn chưa bị đông cứng, chưa bị cầm tù trong những ý tưởng có sẵn, những gì vừa mới bắt đầu, vẫn còn phải xây dựng, phải xây dựng lại, những gì vẫn còn đang đòi hỏi và luôn sóng đôi cùng tự do. Chúng ta tự do vì thế giới này chưa được thiết lập, hoặc vì nó cần được thiết lập lại. Ông viết cũng là để giải phóng tiểu thuyết khỏi những chuẩn mực của thể loại, để làm cho lối viết tiểu thuyết trở thành không gian của tự do, bằng cách gán cho hình thức tầm quan trọng mà Sartre đã bỏ qua khi ông coi trọng nội dung hơn hình thức. Điều đó, theo Robbe-Grillet, là một sự khinh bỉ quá đáng đối với thể loại tiểu thuyết. Ngoài ra, liên quan đến thời gian tính của tiểu thuyết, vì Những con đường tự do mà Sartre đánh mất vai trò « nhà văn của những tiểu thuyết tương lai » và « người khởi xướng tiểu thuyết hiện đại », vai trò mà lẽ ra ông có thể có với Buồn nôn, một tác phẩm của tự do chứ không phải của sự thật, vì nó có một cấu trúc thời gian tự do từ chối tuyến tính thông thường của thời gian, từ chối tính nhân quả và chuỗi tiếp nối, tức là những chuẩn mực thời gian của thế kỷ XIX mà Sartre đã chấp nhận trong những tiểu thuyết khác ; những chuẩn mực này phá huỷ không gian văn học như là không gian nơi các sức mạnh tự do và sức mạnh sự thật đối đầu ; chính trong không gian này diễn ra cuộc đụng độ không thể hoà giải giữa tự do và sự thật mà Tiểu Thuyết Mới muốn xây dựng.

          Tóm lại, Sartre và Robbe-Grillet gặp nhau trong một kiểu văn học với mâu thuẫn giữa các cực đối lập và trong cách đọc như là « thực hành của tự do trong văn bản ». Và họ không gặp nhau ở chỗ : nếu với Sartre, các mâu thuẫn dừng lại sau Buồn nôn, chúng tiếp tục trong các tác phẩm của Robbe-Grillet một cách thường trực, trở thành độ căng nội tại trong một thế giới văn học không hề là thế giới của sự thật, cũng không phải là thế giới nơi sự thật chiến thắng :

Tôi không cần sự thật để được tự do. Nếu sự sóng đôi giữa sự thật và tự do, từng là tư tưởng tư sản ở thế kỷ XIX, đã phá sản, thì chính là vì dần dần người ta nhận thấy rằng, trong thế giới của chúng ta sự thật chỉ phục vụ một điều duy nhất : đàn áp, dù đó là đàn áp về đạo đức, chính trị hay văn học.[9]

Nếu sự thật chỉ phục vụ cho việc đàn áp, trong mọi lĩnh vực, như Robbe-Grillet nói, nó sẽ trở thành lực cản của tiến bộ xã hội, vì nó có thể đóng khung tư duy vào trong một khuôn khổ, và do đó, không có gì đáng ngạc nhiên, không còn có gì mới mẻ, không còn có sáng tạo. Theo Sartre, tự do gắn với ý muốn sự thật. Robbe-Grillet thay đổi tình huống này bằng cách gắn nó với ý muốn không-sự-thật và biến sự sóng đôi giữa tự do và sự thật thành cuộc đụng độ thường trực giữa chúng, đến mức mà cái này trở thành kẻ thù của cái kia. Điều đó có nghĩa là sự thật hoàn toàn tách rời tự do. Trong thực tế, không có chân lý vĩnh cửu, viết hoa, chỉ có những sự thật, viết thường. Tuy nhiên trong cuộc đụng độ này mà sự thật gắn liền với tự do : con người chỉ tự do khi nó khẳng định mình như là người chuyên chở những sự thật mong manh, những sự thật mà nó vừa là kẻ xây dựng, vừa là kẻ phá huỷ. Nó chỉ tự do khi nó có khả năng phá huỷ sự thật này để thiết lập một sự thật khác. Trong cơ chế này sự thật chuyển động, sinh sôi, từ chối trở thành vĩnh cửu, vì thế mà chúng là những sự thật có tính chất dối lừa hoặc những sự thật nói dối, những sự thật sai lầm, nói cách khác là không-sự-thật. Và chính ở đây ta thấy rõ, những gì được gọi là dối, sai lầm… được xác lập trong tương quan với một sự thật có sẵn, một sự thật bị áp đặt từ trước, sự thật mà một lực lượng nào đó muốn duy trì. Vì thế mà những sai lầm hay lừa dối mới có thể trở thành điều kiện của sự thật.

Nếu Robbe-Grillet không cần sự thật để đạt tới tự do, thì Sartre viết :

Ý niệm biết, khám phá, chỉ có thể có ý nghĩa đối với tự do. Và ngược lại, cũng không thể có việc tự do xuất hiện mà không bao hàm một sự hiểu biết giúp khám phá Tồn tại và không bao hàm dự định khám phá. Tóm lại, không có tự do nếu không có sự thật, […] vì tự do đến với bản thể vừa như là tấm màng che vừa như là sự khám phá.[10]

Nền tảng của Chân lý là tự do. Vậy nên, con người có thể lựa chọn không-sự-thật. Cái không-sự-thật này là sự không biết hoặc dối trá. Mặt khác sự khám phá bao hàm sự việc là sự vật bị che phủ ngay từ khởi thuỷ sau đó mới được khám phá. Về phương diện chủ quan mà nói, điều đó có nghĩa là ta không biết gì về thân phận con người lúc khởi thuỷ. Cuối cùng thái độ khám phá được kích hoạt : để cho Tồn tại hiển lộ như nó vốn có, cần phải tìm kiếm nó. [11]

Đối với Sartre, tự do và sự thật không thể tách rời, chúng gắn kết với sự hiểu. Không-sự-thật được hiểu như là những gì bị che giấu từ nguồn gốc. Tự do biểu hiện trong những nỗ lực khám phá ra chúng để đạt tới sự thật. Như vậy tự do đồng nhất với sự khám phá. Hành động khám phá làm xuất hiện Tồn tại như nó vốn có. Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng Sartre phân biệt những sự thật chết và những sự thật sống động. Đối với ông, những sự thật vĩnh cửu, có thể kiểm tra và dành cho người khác, những sự thật trở thành sự thật tự thân, là những sự thật chết ; và những sự thật sống động là những sự thật đang hình thành trong sự khám phá và bị vượt qua, chưa đông cứng lại thành những sự thật tự thân, và có thể không được thừa nhận.

Robbe-Grillet hoàn toàn đối lập với Sartre ở điểm này : tự do không phải là cơ sở của Chân lý, trước tiên vì Chân lý viết hoa không tồn tại, cũng không tồn tại Tồn tại như nó vốn có. Tiếp theo điều quan trọng không phải là ta đạt tới Chân lý nhờ tự do, mà để có thể tự do cần tự giải phóng khỏi sự tù túng của sự thật. Sự thật sẽ là vô ích khi nó chỉ phục vụ việc đàn áp, và vì thế trở thành kẻ thù của tự do. Ở Robbe-Grillet cũng có thái độ này : đi tìm, nhưng không phải để tìm thấy bản thể như nó vốn có. Đối với ông, bản-thể-như-nó-vốn-có là một trạng thái bất khả, vậy nên không thể có sự thật tối hậu. Hơn nữa, sự khám phá không soi sáng mà khiến cho bản thể càng mờ mịt hơn. Nó không giúp cho việc hiểu. Ta không bao giờ biết được bản thể như nó vốn có. Nếu bản thể có một ý nghĩa, thì theo Robbe-Grillet, ý nghĩa này nằm trong hành động đi tìm, chứ không phải trong kết quả của sự tìm kiếm. Thế nên sống là kiếm tìm, kiếm tìm không ngừng nghỉ. Trong cuộc truy tìm của nhà văn, việc hiểu không còn quan trọng nữa ; nó tách rời khỏi sự thật và tự do, trở nên bất khả. Cuối cùng, liên quan đến không-sự-thật, Sartre coi nó như là sự không biết và nói dối, và đối lập nó với sự thật. Trong khi đó, thế giới không-thật của Robbe-Grillet không đối lập với thế giới của sự thật. Đối với ông, nói dối là câu hỏi đặt ra cho sự thật. Ta tư duy về sự thật dựa trên những lời nói dối, và nhờ vào việc phân tích những lời nói dối. Sự thật không thể tồn tại một cách bình yên, ổn định ; nó phải bị lật đi lật lại, phải bị đặt lại vấn đề. Nếu với triết gia, ta đi từ không biết để đạt tới sự thật, thì với nhà văn, ta tìm thấy sự thật trong những điều không biết và trong sự dối trá.

Nguyễn Thị Từ Huy

                    Trích từ cuốn « Alain Robbe-Grillet : sự thật và diễn giải »,

                                                Daivietbook & NXB Hội Nhà Văn, 2009, tr. 106-118

 



[1] Jean-Paul Sartre, Sự thật và hiện sinh, Gallimard, 1989, tr. 41

[2] Robbe-Grillet, kẻ lữ hành, sđd,  tr.262

[3] Jean-Paul Sartre, Tồn tại và hư vô, Gallimard, 1980, tr. 60

[4]  Như trên, tr. 64

[5] Sđd, tr. 79

[6] Bản tham luận này được Michel Rybalka chép lại và công bố trong tạp chí Cahiers de sémiotique textuel, số 5-6, 1986, với tiêu đề  Sartre và tiểu thuyết mới, sau đó được chọn in trong cuốn  Alain Robbe-Grillet, kẻ lữ hành, sđd., tr. 251-262.

[7] Libération là một tờ nhật báo được thành lập dưới sự bảo trợ của Sartre vào tháng 4 năm 1973. Lúc đầu tờ báo này có khuynh hướng cực tả, nhưng dần dần nó phát triển theo tinh thần của phái hữu có tính dân chủ-xã hội, vào đầu những năm 80, sau khi Sartre rời bỏ nó.

[8] Alain Robbe-Grillet,  kẻ lữ hành, sđd., tr. 253

[9]Alain Robbe-Grillet, kẻ lữ hành, sđd, tr.262

[10] Jean-Paul Sartre, Sự thật và hiện sinh, Gallimard, 1989, tr.41

[11] Như trên, tr.35

Thông tin truy cập

73510883
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
2483
15668
73510883

Đang có 283 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website