04042026Sat
Last updateThu, 02 Apr 2026 5pm

Motif "Cái duy nhất"

 
Trong type (kiểu) truyện Tấm Cám, có loại motif cái duy nhất, như một con cá bống còn sót lại, đôi giày chỉ một người mang vừa, một quả thị chỉ một người hái được và tái sinh ra Tấm, một miếng trầu khéo chỉ một người như Tấm têm được.
 
Ở bài viết thứ nhất về Motif Cái duy nhất(1), chúng tôi đã nói về motif con cá bống duy nhất còn sót lại và motif đôi giày chỉ một người đi vừa. Ở bài viết này, chúng tôi sẽ nói đến hai motif còn lại. Để khảo sát hai motif này, chúng tôi vẫn dựa theo các bản đã nói đến lần trước(2).
 
*
 
Chúng tôi sẽ phân tích dựa trên 9 dị bản thuộc type Tấm Cám của Việt Nam, mà không nói đến các dị bản của các nước Đông Nam Á khác nếu không thật cần thiết.
 
Motif thứ 3: Một trái cây duy nhất chỉ một người hái được, từ đó “Cô Tấm” tái sinh.
 
Đây là một motif độc lập. Nhưng nếu xét từ khi “Tấm” bị hãm hại chết đi đến khi tái sinh lại thì là cả một quá trình biến hóa. Dĩ nhiên từ “xương cá” thành “đôi giày” cũng là một sự biến hóa, nhưng là biến hóa ở bên ngoài “Tấm”. Còn khi “Tấm” bị hãm hại, chết đi lại biến thành chim, rồi thành trái cây và tái sinh thì sự biến hóa này lại ở bên trong “Tấm”. Tôi xem đó là một Tiết, có liên quan với nhau. Từ sự biến hóa đầu tiên đến sự biến hóa cuối cùng hay là tái sinh, có thể chia làm 3 thời kỳ như sau: Biến hóa đầu tiên (Những biến hóa trung gian (Biến hóa tái sinh. Từ biến hóa bên ngoài đến biến hóa bên trong “Tấm” là từ chỗ bị hãm hại đến chết đến sự tái sinh chiến thắng.

 
1. Biến hóa đầu tiên:
 
Trong bản 1 của người Kinh mà A.Landes sưu tầm được vào cuối thế kỷ XIX kể: “Tấm (tức là cô gái hại người) lừa Cám cha bị ốm, mẹ ghẻ lót bánh tráng dưới chỗ cha nằm giả đau xương, và bảo Cám leo hái cau tươi, Tấm ở dưới chặt gốc. Cám ngã xuống chết. “Cám hóa thành con chim hoành hoạch… Hoàng tử bảo hoành hoạch: “Nếu ta là chồng mi, hãy bay đậu vào ống tay áo của ta, còn nếu ta không phải là chồng mi, hãy ra khỏi tay áo của ta”. Con hoành hoạch bay vào ống tay áo hoàng tử, chàng bắt giữ lại để nuôi”.
 
Tóm lại có thể tóm tắt như sau :
 
- Đánh lừa tạo cớ: cha ốm, nằm trên bánh tráng.
- Hãm hại: leo hái cau, chặt gốc rơi xuống chết.
- Biến hóa: người  (chim(3).
- Thử nghiệm: nếu đúng là chồng bay vào tay áo.
 
Thật ra đây là những motif phụ chuẩn bị cho motif chính là sự tái sinh của Tấm” sau này. Ở đây, motif thử nghiệm để xem có đúng con vật kia là vợ của mình hay không tỏ ra rất phù hợp và cần thiết vì đó là motif biến hóa đầu tiên của “Tấm”.
 
Bây giờ xin xét đến bản 2. Truyện Tấm Cám do Vũ Ngọc Phan kể: “Nhân ngày giỗ bố, Tấm xin phép vua về thăm nhà… Mụ bảo Tấm: “Con trèo lên cây cau, xé lấy một buồng để cúng bố”. Tấm vâng lời, trèo lên cây thì mụ dì ghẻ chặt gốc cau. Thấy cây rung chuyển, Tấm hỏi mụ trả lời: “Dì đuổi kiến cho con đấy mà!”. Cây cau gãy, Tấm ngã lộn xuống ao chết… Hồn Tấm nhập vào con chim vàng anh bay thẳng vào cung vua. Vua đi đâu chim cũng bay theo. Vua tưởng nhớ Tấm, bảo chim vàng anh rằng: “Vàng ảnh vàng anh, có phải vợ anh chui vào tay áo!”. Vua vừa nói dứt lời, chim vàng anh chui lọt vào tay áo vua”.
 
So sánh với bản 1, ta thấy bản 2 nhiều điểm giống nhau, nhưng cũng có chỗ khác. Tóm lại có mấy motif:
 
- Đánh lừa tạo cớ: giỗ cha. Không phải lừa cha ốm, không nằm trên bánh tráng.
- Hãm hại: hái cau cúng bố, ở dưới chặt gốc, ngã xuống chết.
- Biến hóa: người  (chim.
- Thử nghiệm: nếu đúng là chồng hãy bay vào tay áo.
 
Bản 3 của người Chăm cũng do A.Landes sưu tầm kể: Bà mẹ ghẻ lừa xin Kajong trở về, đối xử tàn tệ, rồi lừa bảo cô hái dừa, ở dưới chặt gốc, nó “nhảy xuống một cái hồ nước bên cạnh rồi biến thành một con rùa vàng sống ở đấy”. Bà mẹ ghẻ bịa đặt: “Kajong đã trốn đi đâu mất, nay con đưa đứa con gái ruột đến để hầu Bệ hạ”…  Họ bắt được một con rùa vàng. Nhà vua ôm rùa vào lòng và mang về cung. Ông không muốn đi săn nữa. Nhà vua thả rùa vào một bồn nước để nuôi”. Như vậy, ta có thể tóm tắt những motif chính như sau:
 
- Đánh lừa tạo cớ: xin cho Tấm trở về (không vì cha ốm, không vì giỗ cha).
- Hãm hại: leo dừa (chứ không leo cau), ở dưới chặt gốc, nhảy xuống ao (không phải ngã xuống ao chết).
- Biến hóa: người  (rùa (không phải chim).
- Thử nghiệm: không có (mặc nhiên nuôi rùa).
 
Khác với những bản trước, bà mẹ ghẻ xin con về mà không có lý do để làm gì, bảo leo dừa thay cho cau, chết rồi Tấm biến hóa thành rùa mà không thành chim, và không có thử nghiệm.
 
Bản 4 của người Mạ kể: “… một bữa nàng nhận được tin bà ngoại bị bệnh nặng do Dong đem đến. Ít lo lắng, đành xin vua cho nàng về thăm bà, vua đồng ý… Dong nói với em gái: “Em gái ơi! Em hãy về nhà trước, chị còn bận chút công chuyện, tí nữa chị sẽ về sau”. Ít vâng lời, tin chị gái mình nói, không ngờ Dong theo lối tắt, đón đường và thình lình lấy cây đập vào đầu Ít, nàng ngã lăn ra chết.. Ít chết biến thành con chim Ziêng bay về đậu ở đầu giường nhà vua”. Trong bản này, Ít và Dong là 2 chị em ruột, mồ côi cả cha lẫn mẹ, ở với bà ngoại, khác hẳn với các bản trước. Cách hãm hại của Dong là trực tiếp dùng cây đập vào đầu Ít, một cách hãm hại rất xưa. Không có motif thử nghiệm. Có thể tóm tắt như sau:
 
- Đánh lừa tạo cớ: về thăm bà ngoại ốm nặng do Dong báo tin, chị đi tắt đón đường.
- Hãm hại : thình lình dùng cây đập đầu em (khác với ba bản trước).
- Biến hóa : người  (chim.
- Thử nghiệm : không có. Chim bay về đậu giường nhà vua.
 
Bản 5 của người Tày kể: “Sau ba năm thì Tua Gia sinh được một con trai. Mụ dì ghẻ và Tua Nhi càng ngày càng ghen tức với hạnh phúc của Tua Gia. Một hôm, bố Tua Gia ốm, mụ dì ghẻ sai Tua Nhi đến báo Tua Gia là bố bị ốm nặng, nàng phải về ngay… Một hôm, hắn bảo Tua Gia dẫn hắn đến chỗ cây vả và trèo lên hái cho hắn ít quả. Tua Gia vâng lời, trèo lên cây. Người bố độc ác liền lấy rìu ra chặt gốc. Cây đổ… Nàng ngã xuống chết tươi và hóa thành một con chim…  Hoàng tử liền gọi chim yểng: “Yểng ơi yểng à, Có phải Tua Gia, Chui vào tay áo!”. Chàng vừa nói xong, chim yểng sà ngay xuống, chui vào tay áo. Hoàng tử mang chim yểng về nhà và đến tối chim yểng lại biến thành Tua Gia…”.
 
Trong bản này có mấy chi tiết đáng chú ý: Tua Gia lấy chồng đã ba năm, và sinh một con trai. Nghe lời vợ và con, bố sai Tua Gia hái vả và ông chặt gốc, nàng hóa thành một con chim, tối lại biến thành Tua Gia. Theo đó thì:
 
- Đánh lừa tạo cớ: bố ốm về thăm.
- Hãm hại: bố sai hái vả (không phải cau hay dừa), bố chặt gốc, Tua Gia ngã xuống chết.
- Biến hóa: người  (chim. Tối chim (người (Tua Gia).
- Thử nghiệm: nếu đúng là vợ sà xuống kiếm và đậu vào vai.
 
Bản 7 của người H’mông kể: “… Thấy Nù Náng không để ý đến con mình, mụ Rềnh tức giận tìm cách dèm pha Gầu Nà nhiều rận. Gièm pha không được, mụ Rềnh tìm cách đánh tráo. Ban đêm đợi cho Nù Náng và Gầu Nà ngủ say, mụ bế Gầu Nà sang chỗ khác, thay Gầu Rềnh vào, Nù Náng biết ý, đợi mụ đi ngủ, chàng bế người yêu lại chỗ cũ.
 
Mờ sáng Nù Náng đánh thức Gầu Nà dậy, rồi hai người trốn đi. Bấy giờ mụ mới biết đúng là con gái mụ còn nằm đó thật. Mụ tức điên lên, mụ vội lấy lương khô và một con dao nhọn đưa cho con gái, dặn phải đuổi theo, cướp cho được Nù Náng… Gầu Nà đã sinh được một đứa con trai. Gầu Rềnh rủ chị ra suối tắm, rồi lấy dao đâm chết chị… Hôm sau, ở mồ Gầu Nà mọc lên một cây to, hoa lá xum xuê chim chóc bay về ríu rít. Đứa con Nù Náng bẫy được con chim “là lẩy” rất đẹp; nó đem về nuôi”.
 
Ở bản kể này có nhiều chi tiết khác: Mẹ ghẻ ban đầu dèm pha, nhưng không được bèn tìm cách đánh tráo. Đánh tráo thất bại, lại bảo con cầm dao đuổi theo đâm chết. Bấy giờ Gầu Nà đã có con. Đứa con bẫy được một con chim. Không có motif thử thách. Như vậy, có thể tóm tắt như sau:
 
- Đánh lừa tạo cớ: dèm pha không được, rồi đánh tráo cũng không được (không đánh lừa cha ốm, bà ốm).
- Hãm hại: bảo con cầm dao đuổi theo đâm chết (không bắt trèo cây, ở dưới chặt gốc).
- Biến hóa: người  (chim (do con trai bẫy được, không phải Nù Náng).
- Thử nghiệm: không có.
 
Trong bản 8 của người Xơ-Rê kể: “Gờ Lát xin đi theo. Để vợ mình sớm hôm có chị có em trò chuyện, hoàng tử đồng ý cho Gờ Lát theo chị về cung. Ít lâu sau, hoàng tử được lệnh vua sai đi dẹp giặc. Vợ chàng ở nhà với Gờ Lát. Một hôm lừa lúc Gơ Liu đang ngủ say, Gờ Lát cầm dao giết Gơ Liu, rồi phao tin là Gơ Liu đã bị bệnh mà chết… Ít lâu sau, ở mồ Gơ Liu tự nhiên mọc lên một khóm trúc tuyệt đẹp. Hoàng tử nằm mộng thấy Gơ Liu báo cho biết là hồn nàng đã nhập vào khóm trúc mới mọc… Thừa lúc hoàng tử đi vắng, Gơ Lát chặt trụi khóm trúc, hồn của Gơ Liu liền nhập vào một con chim nhỏ. Chim bay quanh quẩn trong cung hoàng tử… Đoán là hồn vợ mình, hoàng tử bảo: “Chim xinh đẹp ơi! Nếu chim thật là nàng Gơ Liu yêu quí của ta thì chim hãy bay xuống đây với ta!”. Dứt lời, chim đã bay xuống, đậu trên tay hoàng tử. Từ đó, chim và hoàng tử luôn luôn quấn quít bên nhau”.
 
Ở bản này, có những chi tiết khác: Gơ Lát được hoàng tử cho theo ở chung với Gơ Liu (không có việc lừa về thăm cha hay bà ốm, không trèo hái cau hái dừa, ở dưới chặt gốc), lừa lúc ngủ say dùng dao giết chết, từ mộ mọc lên ban đầu là một khóm trúc, báo mộng là hồn Gơ Liu đã nhập vào đấy, sau khóm trúc bị chặt, hồn Gơ Liu lại nhập vào một con chim nhỏ. Có thể tóm tắt như sau :
 
- Đánh lừa tạo cớ: lừa về cung với Gơ Liu (không đánh lừa cha ốm, bà ốm).
- Hãm hại: rồi lừa lúc vắng, G? Liu đang ng? say cầm dao giết (không lừa trèo cau hay trèo dừa, ở dưới chặt gốc cho ngã xuống chết).
- Biến hóa: khóm trúc (chim.
- Thử nghiệm: hồn biến hóa thành khóm trúc: không có thử nghiệm.
 
Trúc biến thành chim: có thử nghiệm (chim bay xuống đậu trên tay hoàng tử).
 
Bản 9 của người Hơ-rê kể: “Nghe thấy Ú lấy được chồng giàu mụ bàn với chồng và con gái để tìm cách hãm hại. Một hôm theo lời mẹ, Cao đến nhà vót Ria báo tin cha ốm và giục Ú về thăm. Ú hoảng hốt theo Cao về. Cha Ú thấy con, liền gọi nàng lại nói thèm ăn trầu lắm. Ú thương cha, trèo lên cây. Cao rắc hoa hạt vừng ở dưới gốc. Hạt vừng mọc thành chông nhọn. Cao bảo chị : “Chị Ú ơi ! Trên ngọn cau có con rắn lục, nó đang bò xuống cắn chị đấy” Ú tưởng thật, sợ hãi buông tay. Ú rơi phải đám chông dày. Ú chết đi, hồn Ú hóa làm con chim. Chim bay đến nhà Ria. Tiếng chim hót làm cho Ria say mê, không thấy buồn nữa. Chàng bắt chim bỏ vào lồng”.  Như vậy, truyện này có những motif đáng chú ý sau: báo tin cha ốm, giục về thăm, cha đòi ăn cau, bảo leo lên hái, Cao rắc hạt vừng dưới gốc mọc thành chông nhọn, dọa rắn lục cắn, Ú buông tay, ngã xuống đám chông chết, hóa thành chim. Có thể tóm tắt :
 
- Đánh lừa tạo cớ: báo tin cha ốm, giục về thăm.
- Hãm hại: bảo leo hái cau, rắc hạt vừng mọc thành chông nhọn, dọa rắn lục cắn, hoảng sợ ngã xuống chông nhọn chết.
- Biến hóa: người  (chim.
- Thử nghiệm: không có.
 
Bây giờ chúng ta thử tổng hợp từng motif trên có bao nhiêu dị bản.
 
- Đánh lừa tạo cớ : Cha ốm (Bản 1, 5, 9), Giỗ cha (Bản 2), Bà ngoại ốm  (Bản 4), Dì ghẻ xin phép cho về (Bản 3), Tự xin về (Bản 6), Xin theo về cung (Bản 8), Gièm pha (rang vừng bảo nhiều rận) (Bản 7).
 
Theo đây, motif lừa cha ốm, bà ốm, giỗ cha là nhiều nhất (5 lần). Riêng motif gièm pha bằng cách rang vừng và bảo nhiều rận (Bản 7) có thể là rất cổ, đáng lưu ý, giống như motif nằm trên bánh tráng cho kêu giả đau (Bản 2). Còn 3 trường hợp là dì ghẻ xin phép cho về, tự xin về, xin đi theo vào cung là hơi gượng ép.
 
- Hãm hại: ở dưới chặt gốc cau, dừa, vả (Bản1, 2, 3, 5, 6).
 
Leo cau, ở dưới gieo hạt vừng mọc thành chông nhọn, dọa rắn lục cắn, ngã xuống bãi chông chết (Bản 9).
Lấy cây đập vào đầu (Bản 4).
Lấy dao đâm (Bản 7, 8).
 
Trường hợp leo cây cao rồi ở dưới chặt gốc là nhiều hơn cả (5 trường hợp) và có thể là một motif cổ. Nhưng theo tôi, motif gieo vừng thành bãi chông nhọn và hù doạ là rắn lục cắn có thể còn cổ hơn. Motif lấy cây đập vào đầu cũng là rất cổ. Còn những motif lấy dao đâm (Bản 7, 8) thì mới hơn.
 
- Biến hóa:   người  (chim (Bản 1, 2, 4, 5, 6, 7, 8, 9).
 
                       người  (rùa vàng (Bản 3).
 
Sau khi chết đi, Tấm (và những nhân vật cùng số phận như Tấm) đều hóa thành chim (8 trường hợp), chỉ có dị bản của người Chăm là người biến thành rùa vàng. Trong tay chúng tôi có 3 dị bản Chăm. Trừ dị bản Nàng Lọ Lem Chăm kết thúc ngay sau khi cưới nhau, nên sau đó không có biến hóa, còn hai dị bản còn lại là Truyện Chiếc giày vàng và Kajong và Halek thì đều biến hóa từ người thành rùa vàng. Có thể nói đây là motif khá đặc biệt của người Chăm mà chúng tôi chưa tìm được nguồn gốc của nó. Nhân đây cũng xin nói thêm rằng hai bản truyện Tấm Cám của Campuchia mà chúng tôi có được là truyện Neang Kantoc Campuchia và Nêang Cantóc và Nêaang Song Angcat thì người cha đã cố tình giết con bằng nước sôi. Truyện Neang Kantoc Campuchia kể: “Cha bảo muốn tắm cho nhẹ người. Kantoc đi theo, định giúp cha. Cha để sẵn hai nồi nước, một nồi nước sôi, một nồi nước nguội. Cha dội nước nguội vào người mình và đổ nước sôi vào người Kantoc. Kantoc chết”. Bản kia cũng tương tự. Motif giết người bằng nước sôi không rõ do đâu.
 
- Thử nghiệm: Nếu là Tấm chim hãy bay vào tay áo (Bản 1, 2, 5, 6, 8).
 
Không thử nghiệm : chim (Bản 4, 7, 9), rùa (Bản 3).
 
Thử nghiệm chiếm đa số (5 trường hợp).
 
2. Những biến hóa trung gian:
 
Sau khi “Tấm” bị giết chết và trước khi “Tấm” được tái sinh trở lại làm người, “Tấm” đã biến hóa qua nhiều kiếp trung gian. Bây giờ chúng ta thử xem “Tấm” đã biến hóa qua những kiếp nào.
 
Bản 1 kể: “Nhưng một hôm chàng đi vắng. Tấm giết chim nấu ăn. Khi hoàng tử trở về hỏi chim đâu, Tấm đáp: Tôi có mang, thèm thịt chim đã nấu ăn rồi. Hoàng tử hỏi: “Cô ăn thịt chim, vậy lông của nó vất ở đâu?” Tấm bảo vất ở đằng sau hàng rào. Hoàng tử đến đấy thì thấy mọc lên một búp măng tươi rói khỏe mạnh. Một hôm nhân lúc hoàng tử đi săn, Tấm cắt búp măng nấu ăn. Bẹ măng nó vất đi đã mọc thành cây thị; trổ ra một quả ngon lành, Tấm muốn ăn mà không làm sao hái được”.
 
Những biến hóa trung gian của bản 1 :
 
- Giết chim nấu ăn (mọc búp măng tươi rói.
- Cắt búp măng nấu ăn (mọc thành cây thị.
 
Bản 2 kể: “Vua rất yêu chim, cho chim ở lồng son, đi đâu cũng xách đi theo. Thấy thế, con Cám càng thêm ghét chim, Cám bóp chết chim rồi chôn… Chẳng bao lâu, ở chỗ chôn chim mọc lên một cây xoan đào, vua liền mắc võng vào cây nằm nghỉ. Nhân một ngày gió bão, vua lại đi xa vắng, con Cám chặt cây đi, rồi lấy gỗ xoan đào đóng khung cửi. Trong khi con Cám ngồi dệt vải, con ác bằng gỗ trên khung cửi kêu: “Cót ca, cót két, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra!” Nghe con ác kêu, con Cám sởn cả tóc gáy, vội ném thoi đi không dám dệt nữa. Con Cám đốt khung cửi, rồi đem tro đổ tận bên đường, thật xa cung vua. Ở đống tro, chẳng bao lâu mọc lên một cây thị lớnâ. Cây thị ra nhiều hoa nhưng chỉ đậu một quả thật to…”.
 
Những biến hóa trung gian của bản 2 :
 
- Bóp chết chim cho mèo ăn (mọc cây soan đào.
- Chặt cây soan đào (đóng khung cửi.
- Đốt khung cửi (mọc cây thị.
 
Bản 3 kể: “Một hôm ông đi dạo chơi, Halek bắt rùa vàng nấu ăn. Nó vất mai rùa ra sau nhà, ở đó mọc lên một búp măng… Một hôm nhà vua đi dạo vắng, Halek cắt búp măng về nấu ăn. Nhà vua hỏi Halek thì nó nói dối là có mang thèm măng nên đã cắt nấu ăn rồi. Nhưng bẹ măng đã biến thành chim bêk bay đến đậu trước cung vua than thở. Nhà vua nghe chim bêk kêu than thảm thiết, bèn có lời nguyện: “Nếu chim quả thật là Kajong thì hãy bay đậu vào tay áo của ta”. Chim bêk liền bay đậu vào tay áo nhà vua. Vài ngày sau nhà vua ra đi dạo chơi, Halek ở nhà bắt chim nấu ăn. Nó vất lông chim ra đường bên ngoài cung vua, ở đó mọc lên một cây thị”.
 
Những biến hóa trung gian của bản 3:
 
- Bắt rùa vàng nấu ăn (mọc lên một búp măng
- Cắt búp măng nấu ăn (thành chim bêk
- Bắt chim nấu ăn (mọc lên cây thị.
 
Trong những biến hóa này chúng ta chú ý biến hóa thành chim bêk. Theo bản kể của người Chăm thì chim bêk kêu than thảm thiết, nên nhà vua có thử nghiệm : nếu đúng là Kajong thì đậu vào tay áo. Trong hầu hết các bản kể khác (8 trường hợp) biến hóa đầu tiên đều là chim, riêng bản của Chăm là rùa. Thường lần biến hóa thứ nhất thì phải có thử nghiệm để biết có phải hồn “Tấm” hay không, nên sự biến hóa thành chim bêk đi liền với motif thử nghiệm đúng ra phải là biến hóa đầu tiên.
 
Bản 4 kể: “Ít chết biến thành con chim Ziêng bay về đậu ở đầu giường nhà vua. Hàng đêm chim hót kể lại tội ác tày trời của Dong. Vua cho quân lính về làng để đón Ít, thấy Dong ăn mặc giống Ít, họ không nhận ra, họ rước cô ta về lâu đài. Nhưng vừa thấy cô gái này, vua ngạc nhiên vì đó không phải là vợ mình, đành cho ở riêng. Cô nàng căm tức bởi nhà vua suốt ngày cứ quanh quẩn bên chim không rời ra nửa bước... Khi cô ả giặt đồ chim hót: “Chít, chít, chít giặt áo chồng tao, phải giặt cho sạch, không tao cào mặt”.
 
Nhân một bữa Vua cùng đoàn tùy tùng đi săn, Dong ở nhà đánh cắp chim làm thịt ăn, lông chim cô ta vứt sau bụi. Vua đi săn về không thấy chim đâu liền hỏi, cô ta trả lời vua là không biết. Chỗ lông chim sau đó mọc lên một cây chuối chỉ có một trái. Bấây giờ vua lại dành cả thời gian chăm sóc chuối. Dong buồn bực nên đã đánh cắp và ăn. Vua buồn sai lính lấy vỏ đem chôn, vỏ chuối lại mọc lên một cây măng, cũng bị Dong chặt ăn. Vua lại sai lính chôn vỏ măng, vỏ măng mọc lên cây dưa leo duy nhất một trái. Dong tìm cách hái trộm ăn vứt vỏ. Vua lần này sai lính đem chôn xa hơn, gần chỗ người Chăm ở. Vỏ dưa mọc thành một cây quít cũng chỉ có một trái.
 
Những biến hóa trung gian của bản 4:
 
- Bắt chim Ziêng làm thịt ăn (mọc thành cây chuối chỉ có một trái.
- Đánh cắp chuối và ăn (mọc lên búp măng.
- Chặt măng để ăn (mọc lên cây dưa leo duy nhất một trái.
- Hái trộm dưa leo ăn vất vỏ (mọc thành cây quít chỉ có một trái.
 
Trong truyện Ít Dong, ở đây có đến 5 lần biến hóa, từ Ít biến hoá thành chim,  từ chim thành chuối, thành măng, thành dưa leo, để cuối cùng thành quít. Ở đây biến hóa cuối cùng là quít chứ không phải thị. “Cây quít cũng chỉ có một trái”. Trong những lần biến hóa trung gian này, ta gặp đến hai motif cái duy nhất (không tính quít). Đó là “một cây chuối chỉ có một trái”, và “cây dưa leo duy nhất một trái”. Motif cái duy nhất trong truyện Ít Dong được đặc biệt nhấn mạnh, thậm chí là rất triệt để, và hơi quá thực tế. Chuối thì cho trái bằng buồng, bằng nải, chứ có bao giờ “chỉ có một trái” như trong truyện đâu!.
 
Bản 5 kể: “Hôm sau, lừa lúc hoàng tử đi vắng, Tua Nhi bắt Yểng đem giết đi và vùi Yểng vào một gốc tre. Tua Gia nhập ngay vào cây tre ấy. Hoàng tử về, không thấy Yểng đâu, hỏi Tua Nhi thì ả nói dối là mèo vào bắt ăn thịt mất rồi. Buồn lòng, hoàng tử ra vườn dạo chơi. Khi hoàng tử đi qua cây tre, cây tre nhẹ nhàng rũ lá như vuốt ve trìu mến. Một hôm, Tua Nhi đi qua dưới cây tre, bị cây tre cào xướt cả mặt mũi. Tức quá, Tua Nhi liền sai người chặt cây tre ấy để ả làm cọc màn. Nhưng đêm nào cũng thế, khi Tua Nhi mắc màn là bị cọc màn đâm vào tay. Tua Nhi bèn đem cọc màn ném vào bếp lửa. Có một bà cụ già đến xin lửa. Aû bèn cho bà cụ lửa và đưa luôn cả cái cọc màn. Bà cụ mang cọc màn về nhà, cho vào bếp. Khi đám khói tan, bà kinh ngạc thấy có hai quả trứng rất lớn ở cạnh bếp. Bà cụ liền lấy một cái làn tre cất hai quả trứng đi”.
 
Những biến hóa trung gian của bản 5:
 
- Bắt Yểng đem giết đi (nhập ngay vào cây tre.
- Chặt cây tre (làm cọc màn.
- Đem cọc màn ném vào bếp lửa (tỏa ra làn khói.
- Có bà cụ đến xin lửa (làn khói tỏa khắp nhà.
- Khi khói tan (hai quả trứng rất lớn.
 
Trước tiên ta thấy sự biến hóa cuối cùng khác với hầu hết các bản kia là motif cái duy nhất không triệt để, biến thành “hai quả trứng” chứ không phải một. Điều thứ hai là trong quá trình biến hóa trung gian này thường chỉ do một người gây ra mà thôi, thì ở đây lại có người thứ hai là “bà cụ đến xin lửa”. Nhân vật này sẽ tiếp tục về sau, nhưng đã xuất hiện hơi sớm. Sở dĩ xuất hiện sớm vì lần biến hóa này không hóa thành cây mà hóa thành khói. Để cho khói nhà Tua Nhi chuyển thành khói nhà bà cụ xin lửa nên bà đành phải xuất hiện sớm cho hợp lý.
 
Bản 6 kể: “Thấy Ý Noọng dệt vải hay đứt, chim hót: “Cúc cu, cúc cúc, Dệt vải hay đứt, Nối vải suốt ngày, Người sao ngu vậy, Cúc cúc cu cu”. Ý Noọng tức quá nhân lúc Khôn Chương đi vắng, lấy thoi đánh chết chim, đem vào bếp nướng. Một bà cụ ở nhà bên sang xin lửa thấy con chim cháy đỏ tưởng cục than lấy đem về, vô ý đánh rơi vào chậu nước, chim liền biến ngay thành Ý Ưởi đẹp hơn xưa”.
 
Những biến hóa trung gian của bản 6:
 
- Lấy thoi đánh chết chim, đem vào bếp nướng (một bà cụ sang xin lửa thấy con chim cháy đỏ tưởng cục than lấy đem về, vô ý đánh rơi vào chậu nước, chim liền biến ngay thành Ý Ưởi. Ở đây chim trực tiếp biến thành người, mà không cần qua motif cây duy nhất trổ một quả duy nhất không ai thấy và hái được như cây thị trong truyện của người Việt (Kinh). Ta tạm gọi đây là motif cái duy nhất không đầy đủ. Đáng chú ý của truyện này là ở đây chỉ có một biến hóa, và là biến hóa trực tiếp thành người (Ý Ưởi).
 
Bản 7 kể: “Gầu Rềnh bực mình lừa lúc Nù Náng và đứa con đi vắng bắt con chim làm thịt ăn, để phần cho hai bố con hai cái chân, một cái đầu. Hai bố con Nù Náng không ăn, đem chôn ngay trước cửa ra vào. Hôm sau, chỗ đó lại mọc ba cây bương rất cao. Hễ Gầu Rềnh đi qua thì ba cây bương lại bật mạnh lên. Gầu Rềnh sợ, lấy dao chặt đổ ba cây bương rồi đốt thành tro. Mụ Đang Pa(4) đến xin và đem tro về sẩy nhặt được một chiếc nhẫn rất đẹp, đem cất vào một cái hũ”.
 
Những biến hóa trung gian bản 7:
 
- Bắt chim làm thịt ăn (mọc ba cây bương.
- Lấy dao chặt bương (tro).
- Mụ Đang Pa xin tro (về sẩy nhặt được một chiếc nhẫn.
 
Ở bản kể này, lần biến hóa sau cùng là một chiếc nhẫn, chứ không phải quả thị, quả quít, hay quả trứng. Nhẫn là một hiện tượng văn hóa bất ngờ, đặc biệt. Ở nước ta hầu như không có “văn hóa nhẫn” như ở Ấn Độ, hay ở một số nước phương Tây. Đây là truyện Gầu Nà của dân tộc Mông. Tôi không được biết vai trò của chiếc nhẫn trong văn hóa của họ. Đây là một motif lạ và mới. Sau khi chôn chim mọc lên 3 cây bương, là vì sau khi ăn thịt chim, Gầu Rềnh để phần cho hai bố con hai cái chân, một cái đầu. Có lẽ nếu một chim biến hóa thành một cây bương thì tính duy nhất của câu chuyện hợp lý hơn.
 
Bản 8 kể: “Ít lâu sau ở mồ Gơ Liu tự nhiên mọc lên một khóm trúc tuyệt đẹp. Hoàng tử ra lệnh cho quân lính rào khóm trúc lại, để không ai chạm tới. Tin báo có giặc và hoàng tử lại phải đi đánh dẹp. Thừa lúc hoàng tử đi vắng, Gơ Lát chặt trụi khóm trúc, hồn của Gơ Liu liền nhập vào con chim nhỏ. Suốt ngày chim bay quanh quẩn trong cung hoàng tử. Về đến nhà thấy khóm trúc bị phá. Hoàng tử rất buồn và giận. Vừa lúc đó, chim vàng anh bay đến thả một cái hộp xuống trước mặt hoàng tử. Nhìn hộp, hoàng tử nhận ngay ra là hộp trầu của Gơ Liu. Đoán rằng hồn vợ mình đã nhập vào chim, hoàng tử bảo: “Chim xinh đẹp ơi! Nếu chim thật là nàng Gơ Liu yêu quý của ta thì chim hãy bay xuống đây với ta!”. Hoàng tử nói vừa dứt lời, chim đã bay xuống đậu trên tay hoàng tử. Thừa lúc lính canh sơ ý, Gơ Lát bắt chim làm thịt. Lúc về, thấy lồng không, hoàng tử hỏi, Gơ Lát nói dối: “Chim sổ lồng, rồi sa vào nồi nước sôi, nên đã làm thịt mất rồi, lông chim vứt đằng trước ngõ”. Hoàng tử tự đi nhặt lông, đem chôn bên đường. Chỉ hôm trước thì hôm sau chỗ đó đã mọc lên một cây thị”.
 
Những biến hóa trung gian của bản 8 là:
 
- Người (một khóm trúc.
- Chặt trụi khóm trúc (con chim nhỏ.
- Bắt chim làm thịt (lông đem chôn mọc lên một cây thị.
 
Có mấy điều đáng lưu ý. Ở bản này có 2 sự biến hóa được báo trước nghĩa là được thử nghiệm. Một là biến hóa 1 “người (một khóm trúc”, vì “Một đêm kia, hoàng tử nằm mộng thấy Gơ Liu báo cho biết là hồn nàng đã nhập vào khóm trúc mới mọc ấy”. Một là biến hóa 2, “Gơ Lát chặt trụi khóm trúc (con chim nhỏ, lông vàng như tơ”. Khi hoàng tử thử chim: “Chim xinh đẹp ơi! Nếu chim thật là nàng Gơ Liu yêu quí của ta thì chim hãy bay xuống đây với ta”. Hoàng tử nói vừa dứt lời, chim đã bay xuống đậu trên tay hoàng tử một cách âu yếm. Như vậy lại thêm một sự thử nghiệm, nghĩa là có 2 thử nghiệm, tạm gọi là “thử nghiệm đôi”. Nhưng thường chỉ cần một thử nghiệm  là đủ, và thường là thử nghiệm lần biến hóa ban đầu, giống phần lớn các bản khác, cho nên có thể nói đây là “thử nghiệm thừa”. Nếu thế thì ở bản kể này, lần thử nghiệm nào là thừa. Theo hầu hết các bản kể khác, ở lần biến hóa đầu tiên “chim (người” thường đi kèm với thử nghiệm thì hợp hơn. Còn những biến hóa sau, không cần thử nghiệm, báo mộng, vì đã biết ai rồi.
 
Bản kể này có một motif được nhắc đến hai lần, đó là hộp trầu. Lần thứ nhất, sau biến hóa thứ hai, “chim vàng anh bay đến thả một cái hộp xuống trước mặt  hoàng tử. Nhìn hộp hoàng tử nhận ra ngay là hộp trầu của Gơ Liu”.
 
Lần thứ hai, sau lần biến hóa thành cây thị, thì “Một hộp trầu rất đẹp rơi nhẹ vào giữa lòng bàn tay bà cụ”. Một motif lặp lại hai lần là thừa. Motif hộp trầu là nhằm cho hoàng tử nhận lại vợ mình, mà đã có motif thử nghiệm “Nếu chim thật là nàng Gơ Liu yêu quí của ta thì chim hãy bay xuống đây với ta!” thì motif hộp trầu thứ nhất là thừa.
 
Bản kể 9 kể: “Ú chết đi, hồn Ú hóa làm con chim. Chim bay đến nhà Ria. Chàng bắt chim bỏ vào lồng. Hàng ngày, Ria nghe chim hót, quên cả hỏi đến Cao. Cao hết sức thù oán. Một buổi đi rẫy về, Ria thấy mất chim. Anh hỏi Cao, Cao nói đã ăn thịt chim mất rồi. Ria chôn xương chim ở ngoài vườn ngay cạnh chỗ anh thường làm việc. Ít lâu sau, xương chim mọc thành cây cà. Ria dặn Cao không được ăn cà. Hàng ngày Ria chăm bón cho cây quên cả hỏi đến Cao. Một hôm đi rẫy về, Ria lại thấy Cao đã ăn hết cà chỉ còn để rơi lại có một hột. Ria trồng hột cà ngay ngoài đồng. Hột cà mọc thành cây cam”.
 
Những biến hóa trung gian của bản kể 9 :
 
- Người (chim.
 
- Aên thịt chim (mọc cây cà.
 
- Aên hết cà, chỉ còn để rơi lại có một cái hột (mọc thành cây cam).
 
Cần lưu ý: “Khi Cao đã ăn hết cà chỉ còn để rơi lại có một hột”, thì motif này đã mang tính cái duy nhất. Motif cái duy nhất này chuẩn bị cho motif cái duy nhất quan trọng hơn ngay ở sau: quả cam đặc biệt. Ở bản này, quả cam thay cho quả thị.
 
Sau khi phân tích các biến hóa trung gian, bây giờ chúng ta thử tổng hợp lại để xem có bao nhiêu hình thái. Những hình thái biến hóa có: Chim, Búp măng, Cây soan đào, Khung cửi, Rùa vàng, Cây chuối chỉ có một trái, Cây dưa leo duy nhất một trái, Cây quít, Cây tre, Cọc màn, Tỏa ra làn khói, Hai quả trứng rất lớn, Ba cây bương, Tro, Chiếc nhẫn, Khóm trúc, Cây cà, Cây cam, Cây thị.
 
Như thế là cô “Tấm” đã trải qua 19 hình thái biến hóa. Phổ biến là chim, cây, búp măng. Trường hợp hơi lạ là khung cửi, rùa vàng, cọc màn, khói, quả trứng, tro. Và lạ nhất là chiếc nhẫn.
 
3. “Quả thị” hay là motif biến hóa tái sinh
 
Sau motif một con cá duy nhất, một đôi giày duy nhất(5), bây giờ chúng ta nói đến motif cái duy nhất thứ 3: trái thị. Nhưng trước khi biến hóa thành trái thị, “Tấm” đã trải qua rất nhiều biến hóa. Những lần biến hóa đó liên quan chặt chẽ đến biến hóa cuối cùng là “trái thị (Tấm”, nên chúng ta đã vừa phân tích ở trước. Bây giờ chúng ta sẽ xem xét đến biến hóa cuối cùng, mà cũng là motif cái duy nhất thứ 3 của truyện Tấm Cám.
 
Bản 1 kể: “Bẹ măng nó vất đi đã mọc thành cây thị trổ ra một quả ngon lành, Tấm muốn ăn mà không sao hái được. Có một bà lão ăn xin thường hay ngồi dưới gốc cây thị: nhìn thấy quả thị ngon lành, bà cầu: “Trái thị, rớt bị bà già”. Trái thị rơi vào bị bà lão, bà mang về cất trong hũ gạo. Thừa lúc bà lão đi xin ăn, Cám (tức là Tấm trong bản sau này) từ trong trái thị chui ra, nấu cơm quét nhà”.
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: “trổ ra một quả ngon lành”.
 
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: “Tấm muốn ăn mà không sao hái được”
 
- Người được chọn gửi gắm: “bà lão ăn xin... cầu: “Trái thị rớt bị bà già”. Trái thị rơi vào bị bà lão”.
 
- Sự biến hóa tái sinh: “Thừa lúc bà lão đi ăn xin, Cám từ trong trái thị chui ra, nấu cơm quét nhà. Bà lão ngạc nhiên trước sự kỳ lạ này, rình bắt được cô ta”.
 
Đây đúng là sự biến hóa kỳ lạ, vì “Tấm” không xuất hiện ngay, mà vẫn trốn tránh. Khi bà cụ đi vắng, cô mới ra nấu cơm quét nhà. Bà lão phải rình mới bắt được. Sự biến hóa cuối cùng này là cả một quá trình. Có thể chú ý ở đây người được chọn lựa để “trái thị” rơi vào bị là một bà lão ăn xin.
 
Trên đây, là 4 yếu tố cơ bản của motif cái duy nhất “trái (Tấm” mà các bản “Tấm Cám” đều có. Bây giờ chúng ta lần lượt xem các bản kể khác.
 
Bản 2 kể: “Cây thị ra nhiều hoa, nhưng chỉ đậu một quả thật to ở một cành cao vút. Gần đó, có một bà cụ bán hàng nước nhà nghèo… Một hôm, thấy quả thị đã chín vàng, bà đứng dưới gốc cây nói lầm rầm: “Thị ơi, thị hỡi! Thị rụng bị bà, thị thơm bà ngửi, chứ bà không ăn”.
 
Bà cụ nói dứt lời thì quả thị rụng ngay vào giữa bị. Ngày nào đi chợ, bà cũng dặn thị: “Thị ở coi nhà, để bà đi chợ, mua quà thị ăn”.
 
Bà cụ vừa đi khỏi nhà, thì một cô gái bé tí từ trong quả thị chui ra và chỉ phút chốc cô bé trở thành cô Tấm xinh đẹp. Tấm quét dọn nhà cửa sạch sẽ, làm cơm canh để phần bà cụ. Một hôm, bà giả vờ đi chợ, rồi rón rén trở về nấp ở cửa ngoài. Tấm lại ở trong quả thị chui ra như mọi lần. Nhìn thấy một người con gái xinh đẹp lại hay làm như thế, bà cụ vui sướng quá, chạy ngay vào ôm chầm lấy Tấm và xé tan vỏ thị đi. Từ đó, Tấm ở với bà lão bán hàng, hai người thương yêu nhau như hai mẹ con”.
 
Bản kể này cũng có những yếu tố cơ bản như bản kể 1:
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: “Cây thị ra nhiều hoa nhưng chỉ đậu một quả thật to”.
 
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: “Ở một cành cao vút”.
 
- Người được chọn gửi gắm: “Một bà cụ bán hàng nước nhà nghèo…”.
 
- Sự biến hóa tái sinh: “Trái (người (Tấm)”.
 
Cũng là cả một quá trình trốn tránh rồi bà cụ rình bắt được.
 
Bản 3 kể: “Cây thị chỉ trổ ra một trái, đến khi chín mùi thơm phưng phức. Một bà lão người Việt bán bánh ratjam(6) đi qua trước cây thị. Trái thị chín tỏa mùi thơm. Bà lão người Việt ngước nhìn thấy trái thị đã chín. Bà khấn: “Cầu sao ta có trái thị để ăn! Trái thị đẹp làm sao!”. Thế là trái thị từ trên cây rơi xuống. Bà lão nhặt lấy bỏ vào rỗ mang về nhà cất trong hũ gạo. Kajong từ trong trái thị chui ra và làm phép hiện ra nào cơm, nào nước chè, nào trầu cau, nào bánh trái, xong rồi lại chui vào trong quả thị… Một hôm bà lão rình xem thì thấy cô gái. Bà lão chạy đến nắm lấy tay cô gái. Kajong cười… Bà lão hỏi: “Con ở đâu đến mà mang cơm mang bánh cho lão?”. Kajong đáp: “Con ở trong trái thị bà đã nhặt và cất trong hũ gạo”. Bà lão bước vào trong đến xem trái thị thì chỉ còn cái vỏ không. Bà biết là Kajong có phép thiêng và ở trong trái thị hiện ra”.
 
Bản này cũng giống hai bản kể trước, tuy có phần nhấn mạnh hơn.
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: “Cây thị chỉ trổ ra một trái”.
 
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: “Đến khi chín mùi thơm phưng phức. Ai đi ngang qua cũng ngước mắt nhìn nhưng không trông thấy trái thị đâu cả”.
 
Không phải chỉ có “Tấm muốn ăn mà không sao hái được”, mà “ai đi ngang qua cũng ngước mắt nhìn nhưng không trông thấy trái thị đâu cả”.
 
- Ng­ười được chọn gửi gắm: “Một bà lão người Việt bán bánh ratjam”. Cũng là một bà lão bán bánh nghèo, nhưng là bà lão người Việt, không phải bà lão người Chăm.
- Sự biến hóa tái sinh: “Trái (người (Kajong)”.
 
Đến đây, qua sự biến hóa này, bà lão biết là “Kajong có phép thiêng”. Sự tái sinh kỳ lạ của Kajong đã biến cô thành một “bán thần”! Theo bản kể này, Kajong không phải tự “nấu cơm quét nhà” như bản 1, cũng không phải tự “quét dọn nhà cửa sạch sẽ, làm cơm canh để phần bà cụ” như bản 2, mà làm phép hiện ra nào cơm, nào nước chè, nào trầu cau, nào bánh trái đủ loại”. Kajong đã làm phép hiện ra tất cả. Cô không còn là người như cũ nữa, mà đã biến thành bán thần.
 
Bản 4 kể: “Cây quít cũng chỉ có một trái. Bữa kia có hai bà cháu người Chăm đi qua thấy, đứa cháu trèo lên hái quýt. Họ khát nước bèn nghỉ chân định bóc quýt ăn. Không ngờ vừa bóc vỏ, họ thấy một cô gái. Cô gái tươi cười bước ra và kể lại sự thật cho cả hai bà cháu nghe. Cô còn xin cả hai đừng tiết lộ chuyện này cho ai biết…”. Đây là truyện Ít - Dong của người Mạ, nên hơi khác với truyện Tấm Cám của người Việt.
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: “Cây quít cũng chỉ có một trái”. Ở đây trái quít thay cho trái thị.
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: Không có.
 
Người được chọn gửi gắm: “Bữa kia có hai bà cháu người Chàm tới tòa lâu đài bán quần áo cho vua”. Có lẽ bà không phải người nghèo, và cũng không cầu cho trái quít rơi xuống, mà người cháu trèo lên hái. Ở đây cần đến người thứ hai.
 
Sự biến hóa tái sinh: “Trái quít (người (Kajong)”. “Không ngờ vừa bóc ra, họ thấy một cô gái vô cùng xinh đẹp ở trong đó”.
 
Không như quả thị chỉ biến thành cô gái khi bà lão vắng, cô dọn dẹp nhà cửa, nấu cơm nấu nước, rồi bà lão phải rình mới bắt được. Ở đây cô gái xuất hiện trực tiếp, trước mặt bà lão, “tươi cười bước ra và kể lại sự thật”. Sự biến hóa ở đây là trực tiếp chứ không ẩn giấu.
 
Bản 5 kể: “Một hôm, Tua Nhi đi qua dưới cây tre, bị cây tre cào xước cả mặt mũi. Tức quá, Tua Nhi liền sai người chặt cây tre ấy để ả làm cọc màn. Nhưng đêm nào cũng thế, khi Tua Nhi mắc màn là bị cọc màn đâm vào tay. Tua Nhi bèn đem cọc màn ném vào bếp lửa. Giữa lúc đó, có một bà cụ già đến xin lửa… Khi đám khói tan, bà cụ kinh ngạc thấy cả hai qu? tr?ng rất lớn ở cạnh bếp… Bà cụ liền lấy một cái làn tre cất hai quả trứng đi. Bà cụ có việc đi vắng. Tự nhiên, vỏ trứng mở ra, và có hai người đàn bà ở trong đó chui ra. Một người chính là Tua Gia, còn một người thì hình như là người hầu. Tua Gia và người hầu của nàng quét nhà, giã gạo, gánh nước, làm cơm cho bà cụ. Khi bà cụ về đến nhà thì thấy mọi thứ trong nhà đều gọn gàng ngăn nắp. Một hôm, bà cụ vờ có việc đi từ sớm. Nhưng vừa ra khỏi nhà, bà cụ đã quay về nấp vào một xó. Một lát sau, bà cụ thấy hai người đàn bà từ trong vỏ trứng chui ra. Thế là Tua Gia và người hầu của nàng không có chỗ ẩn nữa, đành ở lại với bà cụ từ đó”.
 
Bản kể này có những chi tiết khác với các bản trước.
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: “Khi đám khói tan, bà cụ kinh ngạc thấy hai quả trứng rất lớn”.
 
Ở đây, không phải cái duy nhất là một trái thị duy nhất, hay một trái cam duy nhất, mà là hai quả trứng. Vậy là mất đi tính duy nhất! Có hai người đàn bà chui ra từ hai quả trứng, một là Tua Gia, còn một người thì  “hình như” là người hầu. Chúng ta có thể gọi đây motif cái duy nhất thừa. Sự thật nó vẫn là motif cái duy nhất, vì người hầu vẫn là kẻ lệ thuộc vào chủ, không có tư cách riêng, và quan trọng hơn, nó không có hành động nào trong truyện.
 
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: “Tua Nhi đi qua dưới cây tre, bị cây tre xòe cành xuống, cào xước cả mặt mũi”.
 
Người được chọn gửi gắm: Bà cụ ở gần xin lửa.
 
Theo bà nói, là“dân thường và nghèo khổ”.
 
Sự biến hóa tái sinh: “Hai trứng (Hai người (Tua Gia + người hầu)”.
 
Đây là một biến hóa đặc biệt.
 
Bản 6 kể: “Một bà cụ ở nhà bên sang xin lửa thấy con chim cháy đỏ tưởng cục than lấy đem về, vô ý đánh rơi vào chậu nước, chim liền biến ngay thành Ý Ưởi đẹp hơn xưa. Ý Ưởi xin ở với bà cụ ngày đêm dệt vải”.
 
Bản này khá đơn giản, không có những biến hóa trung gian, và không có những biến hóa ẩn giấu cuối cùng trong lúc tái sinh lại thành người.
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: Cục than.
 
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: Không có.
 
- Người được chọn gửi gắm: “Một bà cụ ở nhà bên sang xin lửa”.
 
- Sự biến hóa tái sinh: “Chim (người (Ý Ưởi)”.
 
Sự biến hóa trực tiếp từ chim thành người, không qua trái thị, trái cam, quả trứng, nghĩa là không có motif cái duy nhất.
 
Bản 7 kể: “Hai bố con Nù Náng thấy mất bương chỉ còn đống tro bèn dặn Gầu Rềnh không cho ai tro cả. Nhưng khi mụ Đang Pa(7) đến xin tro thì Rềnh cho ngay. Mụ Đang Pa đem tro về sẩy nhặt được một chiếc nhẫn rất đẹp, đem cất vào một cái hũ. Từ hôm đó mỗi khi đi rừng về, mụ Đang Pa thấy cửa nhà sạch sẽ lại có cơm canh dọn sẵn. Một hôm mụ để ý rình thì thấy một người con gái rất xinh đẹp từ trong cái hũ chui ra, mụ vội lấy hòn đá đập vỡ hũ. Không còn chỗ ẩn nữa, người con gái ở lại với mụ Đang Pa. Ngày ngày mụ sai cô gái đi chăn bò”.
 
Bản kể này cũng rất đơn giản.
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: Chiếc nhẫn.
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: Không có.
- Người được chọn gửi gắm: “Khi mụ Đang Pa đến xin tro thì Rềnh cho ngay”.
 
Mụ Đang Pa là bà cụ Ma, thuộc thế giới người chết.
Sự biến hóa tái sinh: “Chiếc nhẫn (người (Gầu Nà)”.
 
Từ tro nhặt được một chiếc nhẫn cũng là một sự biến hóa. Như đã nói ở trước, chiếc nhẫn là một motif lạ trong truyện này. Và lạ hơn là cô gái không biết biến từ đâu ra, từ nhẫn hay từ hũ. Khi trở thành người, mụ Đang Pa “ngày ngày sai cô gái đi chăn bò”. Nù Náng sang xin cho Gầu Nà về với mình, nhưng mụ Đang Pa không thuận. “Mụ muốn giữ Gầu Nà lại để chăn bò, thổi cơm cho mụ”. Theo bản kể này, sau khi tái sinh, thân phận Gầu Nà không thay đổi bao nhiêu.
 
Bản kể 8: “Chôn hôm trước thì hôm sau ở chỗ đó đã mọc lên một cây thị, cây lớn nhanh như thổi, cành lá xum xuê, nhưng chỉ độc một quả.
 
Một hôm, trong lúc trời nắng gắt, có một bà cụ dừng lại nghỉ chân bên gốc cây. Bỗng cụ nghe như có tiếng ai gọi. Cụ ngẩng đầu nhìn lên. Một hộp trầu rất đẹp rơi nhẹ vào giữa lòng bàn tay bà cụ. Từ quả thị vàng có tiếng nói dịu dàng vọng xuống: “Cụ ơi, cụ làm phúc đưa hộp trầu này của cháu đến tận tay hoàng tử, cụ nhé!”. Biết có oan hồn nào muốn nhờ giúp đỡ, bà cụ gật đầu. Hôm sau, hoàng tử nhận được hộp trầu, biết vợ lại báo tin, Hoàng tử đi theo bà cụ đến gốc cây thị. Đúng trưa, cũng như hôm trước, bà cụ đến bên gốc cây, cất tiếng gọi. Lập tức quả thị rơi xuống, biến thành một cô gái xinh đẹp có đôi mắt sáng như ánh trăng, có cặp môi tươi như cánh hoa hồng mới nở”.
 
Bản kể này gần giống với bản của người Kinh, nhưng lại đưa motif trầu ra trước.
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: “Mọc lên một cây thị…, nhưng chỉ có độc một quả”.
 
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: “Trên đường vắng ngắt không một bóng người”.
 
Cô gái chọn lúc không có ai biết, trừ bà cụ. Nhưng việc rơi hộp trầu, và nhờ đưa nó đến tận tay hoàng tử thì so với các bản kia có hơi sớm. Theo lẽ thường, cô gái biến hóa từ quả thị trước khi hoàng tử nhận ra vợ mình qua miếng trầu.
 
Người được chọn gửi gắm: “Có một bà cụ dừng lại nghỉ chân bên gốc cây”.
 
Sự biến hóa tái sinh: “Quả thị (cô gái (Gơ - Liu)”.
 
Cô gái rất đẹp, nhưng không phải ẩn giấu trong hũ gạo, dọn dẹp nhà cửa, nấu cơm, một thời gian mới bị bà cụ rình bắt được như một số truyện kia.
 
Bản 9 kể: “Một hôm đi rẫy về, Ria lại thấy Cao đã ăn hết cà chỉ còn để rơi lại có một hột. Ria trồng hột cà ngay ngoài đồng. Hột cà mọc thành cây cam. Cây cam lớn lên, có một quả vàng mọng. Ai đi qua trông thấy cũng thích. Có một vài người với tay định hái. Nhưng người ta càng với, cây càng cao, bóng mát càng tỏa rộng, quả cam càng tươi tốt. Một hôm, có một bà già đi qua nhà Ria. Nhân trời nắng, bà ngồi nghỉ dưới gốc cây cam. Lúc định đi, bà không quên ngỏ lời cám ơn cây cam đã cho bà bóng mát. Bỗng nhiên quả cam rụng vào tay bà. Từ đó mỗi lần đi đâu về bà đều thấy cơm canh ngon ngọt sẵn sàng. Bà ngạc nhiên lắm và để ý rình. Một bữa kia, bà thấy có một người con gái xinh đẹp từ trong buồng, chỗ bà cất cam bước ra. Bà vội giữ lấy và hỏi duyên cớ. Người gái đẹp đó nói hết mọi chuyện cho bà nghe. Nàng chính là Ú. Bà khuyên Ú ở lại với bà”.
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: “Một hột cà (cây cam, có một quả”.
 
Ở đây quả cam thay cho quả thị.
 
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: “Nhưng người ta càng với, cây càng cao, bóng mát càng tỏa rộng, quả cam càng tươi tốt”. Vẫn không ai hái được.
 
- Người được chọn gửi gắm: “Bà ngồi nghỉ dưới gốc cây cam. Lúc định đi bà không quên ngỏ lời cám ơn cây cam đã cho bà bóng mát”. Có lẽ cũng là một bà già nghèo lại biết ơn bóng mát cây cam.
 
Sự biến hóa tái sinh: “Quả cam (người (Ú)”.
 
Cô Ú cũng phải ẩn giấu một thời gian, cũng cơm canh ngon ngọt sẵn sàng, nhà cửa ngăn nắp sạch sẽ, và bà rình mới bắt được.
 
Đến đây, chúng tôi xin tóm tắt các motif chính của chi tiết thứ 3 của cái duy nhất thứ 3.
 
- Tính chất của motif cái duy nhất: Một quả thị: Bản 1, 2, 3, 8; Một quả quít: Bản  4; Hai quả trứng: Bản 5; Cục than: Bản 6; Chiếc nhẫn: Bản 7. Đây là vật nhân tạo; Một quả cam: Bản  9.
 
Nếu xét quả thị, quả quít và quả cam là giống nhau, ta có thể nói có 6 bản kể về tính chất của motif cái duy nhất là quả. Còn 3 bản kể là quả trứng, cục than, chiếc nhẫn.
 
- Điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất: Tấm muốn ăn không hái được: Bản 1; Trên một cành cao vút: Bản 2; Không trông thấy: Bản  3; Không cã: Bản  4, 6, 7; Bị cây tre cào xước mặt mũi, bị cọc màn đâm vào tay, bị khói làm ả cay mắt: Bản 5; Không một bóng người: Bản  8; Nhưng người ta càng với, cây càng cao: Bản  9.
 
Có 3 bản kể không có điều kiện cấm đoán của motif cái duy nhất. Còn lại 6 bản kể, mỗi bản kể khác nhau.
 
- Người được chọn gửi gắm: Bà lão ăn xin: Bản 1; Bà cụ bán hàng nước nhà nghèo: Bản 2; Bà lão người Việt bán bánh ratjam: Bản  3; Hai bà cháu người Chăm tới tòa lâu đài bán quần áo cho vua: Bản 4; Bà cụ ở gần xin lửa: Bản  5, 6; Mụ Đang Pa đến xin tro: Bản 7; Bà cụ dừng lại nghỉ chân bên gốc cây: Bản 8, 9. Ở đây đều là bà cụ nghèo. Có hai bà lão người khác dân tộc. Có 2 bà cụ đến xin lửa, xin tro.
 
- Sự biến hóa tái sinh: Quả (người: Bản 1, 2, 3, 4, 8, 9; Phải ẩn giấu, nấu cơm quét nhà, rình bắt được; Bản kể 4 và 8 cô gái hiện ra ngay, khác ba bản trước và bản thứ 9; Trứng (hai người; Chim (người; Chiếc nhẫn (người .
 
Có 6 trường hợp biến hóa từ quả (thị, quít, cam) thành người. Có 2 trường hợp không phải ẩn giấu. Còn ba bản biến hóa hơi khác thường, từ trứng, chim, và nhẫn ra người. Từ một trái cây, hoặc trứng, chim, chiếc nhẫn tái sinh lại “Tấm”, đấy là motif cái duy nhất đáng chú ý trong truyện Tấm Cám./.
 
________________
 
(1) Bài đã đăng ở Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 2-2004, tr.19.
(2) Bản kể 1: Histoire de con Tấm et de con Cám (Kinh), A.Landes sưu tầm, công bố, 1886.
     Bản kể 2: Truyện Tấm Cám (Kinh), Vũ Ngọc Phan kể, 1966.
     Bản kể 3: Kajong et Haloek (Chăm) A.Landes sưu tầm, công bố, 1887.
     Bản kể 4: Truyện It Dong (Mạ) Lê Hồng Phong, st, trong sách Truyện kể dân gian - Đọc bằng type và motif, Nxb. Khoa học xã hội, H, 2001.
     Bản kể 5: Tua Gia Tua Nhi (Tày) Đỗ Thiện, An Ly st, bs, trong Truyện cổ Việt Bắc, 1963.
     Bản kể 6: ý Ưởi Y Noọng (Thái) Cầm Kim, st, trong Truyện cổ dân gian Việt Nam, 1963.
     Bản kể 7: Gầu Nà (Mông), Kiều Thế, st, bs trong Truyện cổ dân gian Việt Nam, 1963.
     Bản kể 8: Gơ Liu - Gơ Lát (Xơ ré) Hựu Minh kể, trong Truyện kể dân gian Việt Nam, 1963.
     Bản kể 9: ú và Cao (Hơré) Đinh Văn Thành kể, trong Truyện kể dân gian Việt Nam, 1963.
Còn một số bản kể nữa, như: Truyện Tấm Cám, G. Jeanneau sưu tầm ở Mỹ Tho, công bố năm 1886, Nguyễn Đổng Chi tóm tắt lại trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập IV, tr.1783-1785. Vì không tìm được bản gốc nên không xem xét; Dân tộc Chăm có 3 dị bản, nhưng đều giống nhau về cơ bản, nên chỉ xem xét một dị bản. Đó là những dị bản chúng tôi đã tập hợp được, không biết đã hết chưa.
(3) Mũi tên (có nghĩa là biến hóa. Thí dụ: Người (chim), tức là người biến hóa thành chim.
(4), (7) Đang Pa: theo tiếng Mông là bà cụ Ma.
(5) Như đã nói ở bài viết trước. Xem Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Sđd.

(6) Ratjam: lặt vặt, thập cẩm.

 

GS. Nguyễn Tấn Đắc

 

Homepage Data

71994425
Today
Yesterday
All
11890
18704
71994425

Show Visitor IP: 216.73.216.137
04-04-2026 13:31

All Recent Posts