Khoa Văn học và Ngôn ngữ

  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size
Home Research Sinology & Nom Vài nét về văn bản và giá trị của Thương Sơn thi thoại

Vài nét về văn bản và giá trị của Thương Sơn thi thoại

E-mail Print
There are no translations available.

 

Thương Sơn thi thoại (蒼山詩話) là một trong số ít sách thi thoại ở Việt Nam. Riêng trong văn học Việt Nam Trung đại, Thương Sơn thi thoại nghiễm nhiên trở thành cuốn thi thoại duy nhất (theo đúng nghĩa của nó) hiện còn. Thế nhưng, cho đến nay, cuốn thi thoại này vẫn chưa được nhiều người biết tới đầy đủ, cũng như chưa được quan tâm khai thác một cách triệt để. Bởi vậy, bài viết của chúng tôi sẽ bước đầu giới thiệu về văn bản và giá trị của tác phẩm này.

1. Văn bản Thương Sơn thi thoại

Thương Sơn thi thoại hiện chỉ có duy nhất một văn bản, được chép chung với một tài liệu khác mang tên Thế thuyết tân ngữ bổ (新語補), thành một tập sách kí hiệu VHv.105 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Sách gồm 56 tờ (111 trang) chép tay trên giấy dó còn mới đã in sẵn cột, khổ giấy 28x17cm; chữ viết lối hành thư, đá thảo khá đẹp, nhìn chung không quá khó đọc. Mỗi tờ được chia làm 9 cột đều nhau, mỗi cột chép khoảng 25 - 26 chữ Hán. Sách ghi rõ nơi tàng bản “Thư viện Long Cương” (Long Cương tàng bản). Điều đó cho thấy đây chính là một trong những sách mà Cao Xuân Dục (1842 - 1923) đã thuê người chép để lưu giữ trong thư viện của gia đình mình. Bìa sách chép “Thế thuyết phụ Thương Sơn thi thoại” (附蒼山詩話). Phần Thế thuyết tân ngữ bổ từ tờ 1 đến tờ 36 (72 trang). Theo Lưu Ngọc Quân dẫn Tứ khố toàn thư tổng mục, đây là bản sao sách Thế thuyết tân ngữ bổ do Hà Lương Tuấn, người đời Minh soạn và bổ sung, Vương Thế Trinh san định(1). Thương Sơn thi thoại bắt đầu từ tờ 37a cho đến hết tờ 56a (39 trang). Nhìn chung, việc đóng gộp Thương Sơn thi thoại với Thế thuyết tân ngữ bổ là một sự lắp ghép cơ giới, không có mối liên hệ nội tại nào.

Xét phần văn bản Thương Sơn thi thoại, cột 1 tờ 37a chỉ ghi “Thương Sơn thi thoại” với cỡ chữ bình thường không khác phần chính văn, cột 2 ghi “Bạch Hào Tử trước” (Bạch Hào Tử trước tác) với cùng cỡ chữ. Bắt đầu từ cột thứ 3 là chính văn của tác phẩm, kéo dài cho đến hết tờ 56a. Chính văn của sách được quy ước chia thành các điều bằng cách “ngắt cột”, có nội dung tương đối độc lập thường thấy trong các cuốn thi thoại Thương Sơn thi thoại bao gồm 55 điều, Trung Hoa. Theo cách quy ước đó thì ngắn thì một dòng, dài thì 1-2 trang (chữ Hán).

Theo như xuất xứ nơi tàng bản thì sách này có lẽ được chép vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, nhờ công của vị Quốc sử quán Tổng tài triều Nguyễn là Cao Xuân Dục. Xét cách tị húy trong văn bản, ta thấy có hiện tượng sau:

Sách kiêng triệt để các chữ “tông” (宗), “thì” (時). Chữ “tông” có kiêng húy trong cách viết tên, nhất loạt đổi ra “tôn” (尊), ví dụ: [Nguyễn] Duệ Tôn, Hiển Tôn, Thế Tôn [tờ 39b], Trần Duệ Tôn [tờ 49b], Lê Thánh Tôn [tờ 51a]... Các chữ “thì” (時) nhất loạt đổi ra “thần” (thìn) (辰). Tuy nhiên, sách không kiêng các chữ húy đầu triều Nguyễn như “ánh”(映) [tờ 49b], “lan” (蘭) [tờ 49b], v.v... chứng tỏ văn bản được chép khoảng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đúng như đã nhận định ở trên.

Theo ghi chép ở đầu văn bản thì tác giả của Thương Sơn thi thoại chính là Tùng Thiện vương Nguyễn Miên Thẩm (1819 - 1870). Tuy nhiên, do yêu cầu của công tác văn bản học, thiết nghĩ, điều này cần được xác minh cho rõ ràng hơn.

Hầu như không có cuốn sách chữ Hán nào ghi chép việc này, ngay cả những sách tập hợp trước tác của ông do con cháu làm như Thương Sơn ngoại tập (蒼山外集)(2), Thương Sơn thi tập (蒼山詩集)(3)v.v...; còn các sách tiếng Việt thì đề cập đến thông tin này tương đối muộn. Cho đến giữa thế kỉ XX, có lẽ chưa có sách tiếng Việt nào đề cập đến tác phẩm này cũng như tác giả của nó. Chẳng hạn, cuối những năm 30 của thế kỉ XX, khi hoàn thành bộ Chương Dân thi thoại, Phan Khôi còn khẳng định: “Xứ ta đây, người ta biết làm thơ chữ Hán từ hồi nhà Lý, nhà Trần. Song le từ đó đến giờ chưa hề có ai làm một bộ thi thoại nào bằng chữ Hán hết. Ấy là theo như tôi biết. Hoặc giả có bộ nào mà tôi chưa thấy chăng. Nhưng nếu có thì cũng chỉ một hay hai bộ là cùng. Mà có lẽ không có bộ nào hết; vì nếu có thì tôi tuy chưa thấy chớ cũng không nghe, có lẽ nào không nghe trơn? Trước đây tôi có viết Nam âm thi thoại mà đăng trong Nam Phong, trong Đông Pháp thời báo, trong Phụ nữ tân văn. Nhưng lâu nay tôi không có thể viết tiếp mà đăng nữa. Sự thực, trong nước ta phải kể bộ thi thoại này ra đời lần thứ nhất, mà mới chỉ có một mình nó mà thôi. Tôi để tên nó là Nam âm thi thoại mà không để Chương Dân thi thoại là vì chỉ có một mình nó, không sợ lộn với của ai hết” (XLII)(4).

Thương Sơn thi thoại lần đầu tiên được giới thiệu ở trong Thư mục Hán Nôm (9 tập) do Ban Hán Nôm - Ủy ban KHXH Việt Nam biên soạn vào những năm 1969 - 1973(5). Sở dĩ đến lúc bấy giờ người ta mới biết đến Thương Sơn thi thoại là vì từ trước đó Thương Sơn thi thoại vẫn nằm im trên giá sách trong Thư viện Long Cương tại Nghệ An. Những năm 50 của thế kỉ XX, khi cụ Cao Xuân Huy quyết định hiến tặng một phần số sách trong Thư viện Long Cương cho Nhà nước(6) thì tác phẩm này mới được giới thiệu sơ lược trong các bộ thư mục Hán Nôm, sau đó đi vào Từ điển văn học (1984)(7) v.v... Tác phẩm dường như đã được dịch ra quốc ngữ (dịch giả Nguyễn Đức Vân), nhưng chưa được công bố đầy đủ, rộng rãi.

Trở lại vấn đề tác giả Thương Sơn thi thoại, liệu có thể tin được những thông tin ghi chép trong văn bản về tác giả của nó? Theo chúng tôi, hoàn toàn có thể tin cậy được bởi những lí do sau đây:

- Trong sách có ghi chép khá nhiều thông tin cá nhân mà phải chính người trong cuộc như Miên Thẩm mới có thể viết ra được. Đó là những đoạn “tự thuật” khá chi tiết, sinh động. Chẳng hạn, “Cơ ngơi riêng của ta nằm ở bờ nam sông Hương, mặt tây hướng ra cửa sông, lại từ phía tây rẽ sang đông, ngảnh về nam là chỗ ở của em gái An Thường, quay sang đông là chỗ ở của em trai Hải Ninh. Mấy nơi đều có thuỷ đình, làm chỗ uống trà, [mấy câu thơ trên] là ghi chép sự thực” [tờ 37b]; hoặc: “Đêm trăng, ta đến dinh thự của ông Phan Lương Khê [tức Phan Thanh Giản - NTT], sai tiểu đồng vào trước báo tin. Ông đang cùng phu nhân ăn uống. Tiểu đồng trở ra, [ta] bảo nó không được làm kinh động đến ông và phu nhân, rồi đứng ngoài cửa chờ. Khi ăn xong bèn vào. Trước án vừa có bút mực, đùa viết rằng: [... ]. Ông ôm bụng cười lớn, lập tức sai pha trà để an ủi”. [tờ 3]; v.v... Những sự kiện, chi tiết đó xảy ra ở những mốc thời gian cụ thể như: năm Ất Tỵ (1845), Thiệu Trị thứ sáu (1846), năm Giáp Dần (1854) v.v...

- Sách có niên đại tương đối gần với thời gian sống của tác giả Miên Thẩm, nên khả năng ngụy tạo được giảm thiểu.

- Sách có xuất xứ từ Thư viện Long Cương, một nơi tàng bản đáng tin cậy, dưới sự chỉ đạo, xem xét của vị Quốc sử quán Tổng tài triều Nguyễn là Cao Xuân Dục. Ông không thể nào lại để lọt vào kho sách quý giá của mình một “ngụy thư”, nhất là một tác phẩm mà thời điểm sáng tác không cách thời ông quá xa, và ghi là do một người quan trọng và nổi tiếng như Miên Thẩm viết.

- Từ trước đến nay, chưa có nhà nghiên cứu nào khi nhắc đến tác phẩm này, tỏ ra nghi ngờ xuất xứ của nó. Nếu độc giả nào có tư liệu chứng minh được sự nghi ngờ đó xin được phủ chính cho.

Như vậy, chúng ta có thể tạm yên tâm về độ tin cậy của Thương Sơn thi thoại trước khi đi vào thẩm định giá trị của tác phẩm này.

2. Giá trị của Thương Sơn thi thoại

a. Giá trị sử liệu

Thương Sơn thi thoại không phải là một cuốn sử, tác phẩm ít nhiều phản ánh một số chi tiết lịch sử đáng chú ý. Qua cuốn sách này, người đọc có thể biết một số hoạt động thường niên trong cung đình nhà Nguyễn. Chẳng hạn:

- “Lễ chế triều ta, các ngày lễ hưởng tự, hoặc ở trong miếu điện, vâng theo bề trên hành lễ, ngoài ra đều phân cho các hoàng thân hành lễ. Thời điểm hành lễ là vào đầu khắc 8 canh 5, cửa thành mở, theo lệ cứ như thế, các vị hoàng thân trở về chỗ ở riêng ngoài thành, đến ngày ắt vào trong thành, rồi đều đến ở chùa Giác Hoàng để triều cận, thường sai tăng chúng trong chùa làm cơm chay... ” [tờ 40a].

- “Tháng 6 mùa hạ năm Ất Tỵ (1845), ta cùng mấy anh em hộ giá vua đi chơi núi Thúy Vân. Khôn Chương (tức Miên Trinh - NTT) tụ tập mấy anh em làm thơ với đầu đề Bạc Mỹ Á đàm thừa nguyệt (Đậu thuyền trên hồ Mỹ Á cưỡi trăng)” [tờ 43a].

- “Năm Thiệu Trị thứ sáu (1846), thuyền sứ đến từ Việt Đông, dâng hoa mẫu đơn, [...], Đến đêm rằm tháng giêng, các hoàng tứ tâu xin vua ngự giá ra vườn [... ], xem đèn thưởng tết. Vua sai triệu chú Kiến An, chú Diên Khánh, chú Từ Sơn, anh Thọ Xuân, anh Ninh Thuận, anh Phú Bình, cùng thần là Miên Thẩm, em Tuy Lý, Tương An, Quảng Ninh, cùng đại thần Viện cơ mật Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, các bề tôi ở Đông các là Nguyễn Văn Trường, Vũ Phạm Khải đến hầu yến. Vâng sắc lệnh cung kính họa lại thơ ngự chế của vua...” [tờ 47b]

- “Sứ bộ của quốc triều đi Yên Kinh, gồm một Chánh sứ và hai Phó sứ Giáp, Ất, cần những người phải lấy ở Lục bộ và các quán viện. Tuy lệ là ở việc đình cử, coi trọng sự đối đáp, mà cũng không tránh khỏi có lúc lấy người dự bị, có việc dự tuyển thế này thế nọ” [tờ 50b].v.v...

Những chi tiết trên giúp cho những người nghiên cứu chế độ, văn hóa triều Nguyễn cũng như nghiên cứu về tiểu sử một số nhân vật lịch sử của triều đại này. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng giá trị này không nhiều.

b. Giá trị văn học sử

Trước hết, tác phẩm là một khối tư liệu về sáng tác thơ từ của các tác giả, chủ yếu là các tác giả Việt Nam trung đại, trong đó tập trung nhất là sáng tác của chính Miên Thẩm và những người đồng thời với ông. Từ khối tư liệu đó, ta có thể nhặt ra được không ít những tác phẩm có giá trị văn chương (nhất là những bài thơ, bài từ khá đặc sắc). Sáng tác của một số tác giả có tiếng trước đó cũng được nhắc đến, bình phẩm và tôn vinh, như thơ của Trần Nhân Tông, Nguyễn Trung Ngạn, Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Sái Thuận, Lê Ngạn Tuân, Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Du, Phạm Khiêm Ích, Bùi Huy Bích, v.v...

Thứ hai, tác phẩm phản ánh không khí sinh hoạt văn nghệ chủ yếu trong cung đình nhà Nguyễn, trong tư thất của các hoàng thân: những hội thơ, đêm thơ, những cuộc gặp gỡ xướng họa, bình thẩm thơ ca, những thú vui tao nhã xung quanh chuyện sáng tác, những giai thoại trong làng thơ,... mà trong đó hầu hết đều có sự tham gia của chính tác giả. Qua đây, chúng ta thấy được hoạt động sáng tác thơ ca chữ Hán, và đặc biệt là từ khúc phát triển như thế nào vào khoảng giai đoạn giữa triều Nguyễn. Người nào muốn nghiên cứu từ khúc ở Việt Nam không thể không đọc tác phẩm này.

Thứ ba, qua Thương Sơn thi thoại, ta có thể biết được đôi nét về tiểu sử, tác phẩm của một số tác giả, nhất là những tác giả ở miền Trung và miền Nam như Đỗ Túc Trưng [tờ 43b]; Lê Công Nhuận [46a], Lê Ngưng Phủ [45b], Vương Hữu Quang [39b], Nguyễn Quang Tiền [39b]; Phan Thanh Giản, Phạm Đăng Thuật, Trương Đăng Quế... Những thông tin đó góp phần bổ sung vào diện mạo văn học Việt Nam thế kỉ XIX, vốn chưa có điều kiện nghiên cứu kĩ lưỡng.

Thứ tư, Thương Sơn thi thoại cũng cho ta nhiều chi tiết thú vị về các hoạt động văn học trước thời Nguyễn. Chẳng hạn, Miên Thẩm đã điểm lại khá chi tiết lịch sử hình thành và phát triển của “thi tuyển” (tuyển tập thơ ca) ở Việt Nam thời trước đó: “Tuyển tập thơ ở nước Việt ta bắt đầu từ sử thần nhà Lê là Phan Phu Tiên với tập Việt âm [thi] tập, kế đó là Tinh tuyển [chư gia thi] tập của Dương Đức Nhan, Trích diễm [thi] tập của Hoàng Đức Lương, Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn. Quý Đôn là thầy chân truyền của Bùi Huy Bích, hiệu Tồn Am. Nay tác phẩm truyền lại của Bùi Huy Bích là Hoàng Việt thi tuyển, 6 quyển, chính là cuốn sách tóm lược sách của thầy, lại phụ thêm thơ của chính mình vậy... ” [tờ 49b - 50a]. Hay tác phẩm cho ta biết những thông tin cụ thể về Hội Tao đàn thời Lê Thánh Tông: “Năm Hồng Đức thứ hai mươi sáu (1495) triều vua Lê Thánh Tôn, vua làm chùm thơ Quỳnh uyển cửu ca cùng bài tựa, tự cho mình là Tao đàn nguyên súy. Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận làm Phó nguyên súy. Đông các Hiệu thư Ngô Luân, Ngô Hoán; Hàn lâm viện Thị độc Chưởng viện sự Nguyễn Trọng Ý; Hàn lâm viện Thị độc Tham chưởng viện sự Lưu Hưng Hiếu; Thị thư Nguyễn Quang Bật, Nguyễn Đức Huấn, Vũ Dương, Ngô Thầm; Đãi chế Ngô Văn Cảnh, Phạm Trí Khiêm, Lưu Thư Ngạn; Hiệu lí Nguyễn Nhân Bị, Nguyễn Tôn Miệt, Ngô Hoan, Nguyễn Bảo Khuê, Bùi Phổ, Dương Trực Nguyên, Chu Hoán; Kiểm thảo Phạm Cẩn Trực, Nguyễn Ích Tuân, Đỗ Thuần Nhự, Phạm Nhu Huệ, Lưu Phong, Đàm Thận Huy, Phạm Đạo Phú, Chu Viên,... cả thảy 28 người, nối nhau họa vần chín bài thơ đó, lấy tên là Tao Đàn nhị thập bát tú” [tờ 51a-b]. Danh sách các thành viên của hội Tao Đàn cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận chưa thống nhất(8). Vì vậy, có thể xem những ghi chép của Miên Thẩm như một tư liệu tham khảo để tiến tới thống nhất danh sách đó.

Cuối cùng, Thương Sơn thi thoại là một công trình khảo cứu có giá trị về một số nguồn thi liệu, điển tích, từ ngữ,... trong sáng tác, đặc biệt là sáng tác thơ ca và từ khúc. Trước Miên Thẩm, có lẽ chỉ có Lê Quý Đôn làm được chút ít trong Vân Đài loại ngữ Kiến văn tiểu lục. Miên Thẩm đã nối tiếp bước đi đó và bước đầu đạt được một số kết quả. Ông đã đứng ra tranh biện với cả học giả Trung Hoa về một số hiện tượng văn học. Chẳng hạn, ông biện luận về nhân vật có tên Lục Cơ (Khải) 陸凱 trong thơ [tờ 52a-b], biện luận về nguồn gốc của điệu từ Quất chi 橘枝[tờ 38a-b]; khảo luận về sự học tập, ảnh hưởng lẫn nhau trong từng câu thơ, bài thơ của các nhà thơ Trung Hoa và Việt Nam... Nhiều đoạn khảo luận khá lí thú và thấu tình đạt lí, chẳng hạn: “Xét Truyện Vương Nhung trong Nam sử, Đông Hôn phi tên là Phan Ngọc Nhi, có nhan sắc nổi tiếng cả nước, Vũ Đế sắp giữ lại [làm phi], bèn hỏi ý kiến Vương Nhung. Nhung đáp rằng: ‘Cái làm mất nước Tề chính là thứ này đây, giữ nàng ta lại sợ rằng bên ngoài dị nghị’. Vũ Đế bèn cho Đông Hôn ra khỏi cung. Quân chủ là Điền An Khải muốn xin làm vợ mình, Ngọc Nhi khóc nói: ‘Xưa được gặp vị chúa một thời, nay há lại giáng xuống cùng loại sất phu hay sao, chỉ có lấy cái chết để làm việc nghĩa chứ quyết không chịu nhục’. Kịp đến khi chết, [nàng] vẫn đẹp đẽ xinh tươi như sống, xe tang ra, bọn quan võ đều làm việc phi lễ. Có người đem việc đó làm chứng cho nghĩa cử lấy cái chết để báo đáp [vua cũ] của Đông Hôn. Ta nói: Không phải. Tuy có lời nói ‘làm việc nghĩa chứ quyết không chịu nhục’, nhưng có lẽ việc giáng xuống cùng loại sất phu cũng có duyên cớ. Nếu không có một lời ‘cái làm mất nước Tề...’ của Vương Nhung chặt đứt [đường sống của Ngọc Nhi], khiến cho [Ngọc Nhi] cũng được như Dư Phi và Ngô Viên, thì vị tất nàng đã không theo ý [sắp đặt của họ mà lại tự vẫn] [... ]. Nhưng [ta] cũng lấy làm quái lạ cho việc Vương Nhung có thể dung cho Ngô Viên ở bên Vũ Đế, lại nhận Dư Phi làm vợ mình [mà lại không dung Ngọc Nhi]. Ấy là riêng tàn nhẫn với Ngọc Nhi vậy” [tờ 40b-41a] v.v...

c. Giá trị tư tưởng thi học

Giá trị nổi bật của Thương Sơn thi thoại là tư tưởng thi học. Trước Thương Sơn thi thoại, ở nước ta có rất ít công trình chuyên bàn về thơ. Các ý kiến bàn về thơ trước đó chủ yếu được lồng vào các lời bình, các bài tựa, bài khải, các ghi chép tản mạn,... trong các tập sách, tập thơ. Đến Thương Sơn thi thoại, nhiều vấn đề về thơ ca đã được đề cập dưới nhiều giác độ, từ các giác độ giàu tính lí luận như quan hệ giữa thơ và nhạc, vấn đề âm luật thơ, vấn đề học tập tiền nhân, ý tượng thơ, hiện tượng nhập thần... đến những giác độ cụ thể thuộc phép làm thơ như sử dụng điển cố, dùng chữ, đặt câu, v.v... Đáng chú ý ở đây là những vấn đề có tính lí luận.

Về vấn đề quan hệ giữa thơ và nhạc, âm luật trong thơ, Miên Thẩm đã khẳng định khá nhất quán: “Kẻ không hiểu thơ là do [không hiểu] nhạc vậy. Ngâm thơ mà mắc ở cổ họng, tức [thơ đó] không hợp với nhạc. Vẫn còn đó việc trích dẫn trong cách thơ mang tên Nguyễn tì bà, [cách này] vốn có các thanh ‘tứ, thượng, công, lục’ (?), nhưng rối rắm vụng về, nông sâu không thích đáng bởi vì âm luật không điều hòa. Kẻ làm thơ há lại có thể hiểu biết lỗ mỗ về âm luật chăng?” [tờ 37a]. Như vậy, có thể thấy Miên Thẩm rất đề cao “tính nhạc” cũng như âm luật thơ. Đây là hồi quang của không khí đề cao âm nhạc trong thơ thời Nguyễn. Không chỉ có Miên Thẩm, những người cùng thời với ông như Phạm Đình Hổ, Miên Trinh, Cao Bá Quát...(9) cũng có chung tư tưởng. Có thể nói, chưa bao giờ âm nhạc trong thơ lại được đề cao như vậy. Sự đề cao âm nhạc ở Miên Thẩm, Miên Trinh và các tác giả thời Nguyễn còn do sự thịnh hành từ khúc thời bấy giờ. Từ khúc vào Việt Nam từ khá sớm, ngay từ buổi đầu độc lập, nhưng phải đến cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn mới được quan tâm sáng tác nhiều. Thương Sơn thi thoại cũng dành khá nhiều “điều” nói về thể loại này (có thể gọi là những đoạn “từ thoại”). Đây cũng là một điểm độc đáo của Thương Sơn thi thoại.

Về vấn đề “nhập thần”, Miên Thẩm hết sức chú ý. Bàn về thơ, Nghiêm Vũ (đời Tống) trong Thương Lang thi thoại từng nói: “Thơ có chỗ hay nhất là nhập thần” (thi hữu cực trí giả, nhập thần dã). Miên Thẩm tán thành quan điểm đó. Không ít lần bình điểm thơ cổ kim, ông dùng tiêu chí này để đánh giá độ hay dở. Chẳng hạn, đọc thơ Đỗ Phủ, ông viết: “Ta mỗi khi đọc Xa Công (biệt hiệu của Đỗ Phủ - NTT), biết quy mô của nó hoàn hảo, xa rộng, khí tượng hùng tráng, khoáng đạt, không gì là không đạt được, trở thành một sự độc đáo riêng biệt vậy. Huống chi, nghe chỗ vô thanh, tạo lời cực kì đơn giản... Thực chất phác thay bậc quân tử, [vì thế mà thơ ông] trở thành tập đại thành vậy” [tờ 49a]. Hay nhận xét về hai câu thơ của mình “Tịch dương minh tế vũ/ Lạc diệp sái cô chu” (ánh chiều tà rọi sáng cơn mưa nhỏ/ Lá rơi nằm phơi trên chiếc thuyền đơn), Miên Thẩm cũng viết: “Ngẫu nhiên mà làm được [câu thơ hay], tự cho là “tả cảnh nhập thần” (đi vào chỗ thần tình khi tả cảnh vật), mà chữ “minh”, chữ “sái” ngờ rằng không phải dùng sức người mà có được vậy” [ tờ 49a-b]... Nói đến vấn đề “nhập thần” cũng là nói đến “tính chân thực” của cảm xúc thơ, “nhập thần” chính là sự thăng hoa của cảm xúc chân thực. Bởi vậy, đối với Miên Thẩm, cái hay của thơ không phụ thuộc vào đề tài mà phụ thuộc vào tính chân thực của cảm xúc. Bình những bài thơ du tiên, ông cho rằng: “Tuy nhất thời nói đến việc du hý chốn thiên tiên, không câu nệ ở sự ‘hại vật’, nhưng thanh tình, khí vận không một chỗ nào là bỏ đi cả, nhất thiết mỗi bài đều tả cái chân. ... quay lưng lại với sự thực thì không thể trông chờ được một mảy may. Cái gọi là trong tăm tối tả được sắc trắng mà có thể biết được, là như thế đó” [tờ 39b]. Theo Nguyễn Đình Phức, những ý kiến bàn về vấn đề này của Miên Thẩm có bóng dáng của thuyết “thần vận” và thuyết “cách điệu” phổ biến trong thi học đời Thanh(10). Dấu ấn ảnh hưởng cụ thể thế nào thì còn phải tiếp tục nghiên cứu, thảo luận, nhưng trong Thương Sơn thi thoại, rõ ràng Miên Thẩm đã trích dẫn, bàn bạc không ít về tư tưởng thi học của các học giả đời Thanh (như Viên Mai, Triệu Dực, Thẩm Đức Tiềm,... ). Và như vậy, Thương Sơn thi thoại đã vượt các tư liệu thi học trước đó về độ “cập nhật” các tư tưởng thi học nước ngoài.

Về vấn đề học tập tiền nhân, Miên Thẩm bàn bạc khá kĩ lưỡng. Ông khẳng định kế thừa tiền nhân là một quy luật phổ biến: “[phàm một cái gì đó] chẳng luận hay giở, đều có người trước dẫn đường” [tờ 41a]. Tuy nhiên, đối với Miên Thẩm, kế thừa phải có sáng tạo: “Cái mới của thơ, có khi là do dùng lại lời của cổ nhân có sửa đổi đi một hai chữ mà càng mới” [54a]. Bởi vậy, ông phê phán gay gắt việc kế thừa người xưa một cách sáo mòn, không chân thực. Ông gọi đó là hiện tượng “hư ngôn” (nói suông, nói hão). Bởi vì: “Nhạn và tuyết nước Nam ta không hề có. Mọi người cho rằng đó là hai chữ hay nên phần lớn thường dùng. Không biết rằng “hư ngôn” rốt cuộc cũng nào có ích gì? Ta thường lấy việc đó ra để cảnh báo những người bạn. Có người nghe, có người không nghe. Có lẽ đó là cái thói quen đã làm biến đổi mọi người từ lâu rồi” [tờ 49b]. Ông còn khẳng định: “đại để, người làm thơ chuyên chọn những cảnh trí đẹp đẽ, thích hợp với mình, không nhất thiết phải câu nệ vào chương cú” [tờ 49a]... Những ý kiến đó thực xác đáng.

Có thể nói, những ý kiến bàn về thơ từ của Miên Thẩm trong Thương Sơn thi thoại tuy không hoàn toàn mới mẻ và phong phú nhưng có tính tập trung, tính tổng kết và cập nhật, góp phần bù đắp những khuyết thiếu về lí luận của nền thi học Việt Nam trung đại vốn không lấy gì làm dày dặn. Đây là giá trị quan trọng nhất của tác phẩm. Và vì thế, Thương Sơn thi thoại có một vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng thi học Việt Nam.

d. Hạn chế của Thương Sơn thi thoại

Bên cạnh những giá trị đã nêu, Thương Sơn thi thoại còn có những hạn chế. Chẳng hạn, về mặt quy mô, độ dài tác phẩm còn khá khiêm tốn (trong tương quan với các thi thoại Trung Hoa và các phần trước tác khác của chính tác giả). Thương Sơn thi thoại chỉ mới dừng ở giai đoạn bản thảo, chưa được biên soạn hoàn chỉnh, nên càng về cuối tác phẩm càng có phần chệch choạc, tùy tiện. Về mặt tính chất thể loại, tác phẩm vẫn nặng về ghi chép tản mạn các sự kiện, sinh hoạt chủ yếu là của cá nhân tác giả, ít tính lí luận, khái quát. Xét cho thật chặt chẽ thì tác phẩm này thiên về thể tuỳ bút hơn là “thi thoại”. Chính vì thế, trong bài báo Việt Nam cổ đại thi học thuật lược (Lược thuật về thi học cổ Việt Nam), hai tác giả Trung Quốc Vương Tiểu Thuẫn và Hà Thiên Niên đã xếp tác phẩm này vào thể loại bút kí(11). Về mặt nội dung tư tưởng, Thương Sơn thi thoại cũng hàm chứa những ý kiến bảo thủ, thiên kiến. Chẳng hạn, ý kiến bàn về thơ Viên Mai, Triệu Dực sau đây: “...Bọn Viên Mai, Triệu Dực không biết như thế, lại chuyên tìm tòi những chuyện tục, những việc mà người ta không thèm để ý tới, xong rồi tự khoe khoang với nhau [là hay]. Lỗi này không phải người xưa không nói nhưng bọn họ coi đó là thiển cận mà không chịu sửa. Song le, xét thi tập của hai nhà ấy cũng không ra ngoài lời nói của người xưa, ấy do bởi thiếu kiến văn mà ra cả. Vân Tùng thường có thơ rằng: [... ], lời đã quê mùa thiển cận, đáng lấy muôn cốc nước thơm mà tẩy rửa” [tờ 54a]; hay ý kiến phê bình Lê Thánh Tông và Hội Tao đàn: “Vua tôi công kênh nhau, quê mùa không thể nói hết” [tờ 51 b]... Ở đây, Miên Thẩm đã đứng trên quan điểm thi học chính thống của triều Nguyễn để viết như vậy, mà quan điểm này thì còn nhiều điểm phải bàn.

Tóm lại, dù có những hạn chế nêu trên, Thương Sơn thi thoại là một văn bản quý trong kho sách Hán Nôm. Cùng với những Chương Dân thi thoại (Phan Khôi), Thi tù tùng thoại, Việt Ngâm thi thoại, Tục Việt ngâm thi thoại (Huỳnh Thúc Kháng) sau này, tác phẩm bù đắp phần nào sự vắng bóng của loại hình thi thoại ở Việt Nam, cho nó một lịch sử. Trong lĩnh vực văn học, muốn nghiên cứu tư tưởng thi học Việt Nam nói riêng và tư tưởng văn học Việt Nam trung đại nói chung thì có lẽ không thể không đọc Thương Sơn thi thoại.

NGUYỄN THANH TÙNG

ThS. Khoa Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội

Chú thích:

(1) Lưu Ngọc Quân: Góp ý bàn về Việt Nam Hán Nôm văn hiến mục lục đề yếu (Đinh Văn Minh dịch), Tạp chí Hán Nôm, số 2-2006, tr.76-77.

(2) Nguyễn Miên Thẩm: Thương Sơn ngoại tập, VHv.119/1-8.

(3) Nguyễn Miên Thẩm: Thương Sơn thi tập, A.1496/1-2.

(4) Phan Khôi: Chương Dân thi thoại, Nxb. Đà Nẵng, 1996 (tái bản), tr.143.

(5) Ban Hán Nôm - Thư mục Hán Nôm, 9 tập, in rônêô, 1969-1973.

(6) Xin xem Cao Xuân Huy: Tư tưởng phương Đông - Gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb. KHXH, H. 1995.

(7) Từ điển văn học, Tập 2, Nxb. KHXH, H. 1984, mục từ “Nguyễn Miên Thẩm”.

(8) Xem Mai Xuân Hải, Bùi Duy Tân: Lại bàn về Hội Tao đàn, Tạp chí Hán Nôm, số 2-1997.

(9) Xem Đỗ Văn Hỉ (biên dịch): Người xưa bàn về văn chương, tập 1, Nxb. KHXH, H. 1993; Nguyễn Minh Tấn (chủ biên) Từ trong di sản, Nxb. Tác phẩm mới, H. 1984.

(10) Nguyễn Đình Phức: Về bài Tự tự trong “Tĩnh Phố thi tập” của Miên Trinh, Tạp chí Hán Nôm, số 2-2006, tr.47-48.

(11) Vương Tiểu Thuẫn - Hà Thiên Niên: Việt Nam cổ đại thi học thuật lược, Tạp chí Văn học bình luận, số 5 năm 2002, tr.20-25 (tiếng Trung Quốc)./.

(Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (83) 2007; Tr. 33 - 40

 

Sponsors

 _logo_a_chau_1_1381809468.jpg

Online Members

We have 6213 guests online