
Đại Nam anh nhã tiền biên 大南英雅前編 là một sách ghi chép hơn 40 tác phẩm trong thời nhà Nguyễn từ đời vua Gia Long đến vua Tự Đức với những nội dung đa dạng phong phú, bao gồm những tác phẩm đề cập đến các vấn đề đương thời như khuyên dạy quan lại, binh pháp, chế độ thi cử, biên soạn lịch sử, văn hóa, phong cảnh một số địa phương,... Tuy nhiên, giá trị của nó vẫn chưa được khai thác khi chưa có công trình nghiên cứu về tác phẩm này được công bố. Bài viết này thông qua việc khảo sát và phân tích 07 tác phẩm liên quan trực tiếp đến Nam Bộ (gồm: 1/Võ công bi ký 武功碑記 (Văn bia ghi võ công), 2/An Tây võ công bi ký 安西武功碑記 (Văn bia ghi võ công yên định cõi tây), 3/Phụng khai tân cảng ký 奉開新港記 (Bài ký vâng mệnh vua đào cảng mới), 4/Thoại Sơn bi ký 瑞山碑記 (Văn bia núi Thoại), 5/Hồi Thủy cựu đồn ký 廻水舊屯記 (Bài ký ghi việc đồn cũ Hồi Thuỷ (nước xoáy), 6/ Tiên Sơn tự ký僊山寺記 (Bài ký chùa Tiên Sơn), 7/ Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 (Bài ký thành trấn Hà Tiên)), để tập trung phân tích những dấu ấn sâu sắc của triều Nguyễn tại vùng đất Nam Bộ trong nỗ lực bình định, khai phá, kiến tạo hệ thống thủy lợi, và quản lý của nhà Nguyễn tại vùng đất chiến lược này, qua đó góp phần khẳng định tầm quan trọng của Đại Nam anh nhã tiền biên 大南英雅前編 trong việc nghiên cứu toàn diện về triều Nguyễn và vùng đất phương Nam.
1. Giới thiệu tác phẩm Đại Nam anh nhã tiền biên
Hình thức văn bản: Đại Nam anh nhã tiền biên大南英雅前編(1) [Lời hay ý đẹp nước Đại Nam, phần tiền biên] là tác phẩm tuyển chọn những bài văn hay triều Nguyễn, từ đời vua Gia Long đến đời vua Tự Đức. Văn bản có ký hiệu A.2286, hiện lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (VNCHN). Sách có kích thước 22x13Cm, toàn sách gồm 96 tờ (192 trang), dạng thức viết tay, sách không chia quyển, không có tựa bạt và mục lục. Toàn sách chép theo lối Khải thư pha lẫn Hành thư, chữ tương đối rõ ràng, dễ đọc. Sách ngoài ký hiệu của VNCHN, còn có dấu của Viện Viễn đông bác cổ Pháp (dấu hình elip).
Niên đại văn bản: Do văn bản ĐNANTB 大南英雅前編 không cho biết thông tin về niên đại hoàn thành cũng như niên đại xuất bản, do vậy chúng tôi phải dựa vào các thông tin nội tại chứa đựng trong văn bản để xác định niên đại. Tên văn bản là ĐNANTB 大南英雅前編, tên gọi văn bản cho chúng ta biết được rằng, văn bản này thành thư phải từ sau năm 1838 – tức là năm vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu từ Việt Nam sang Đại Nam. Sử liệu triều Nguyễn cho biết:
“Nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phía Đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng, đều thuộc vào trong bản đồ, bờ biển rừng sâu khắp nơi đều theo về cả. Trước gọi là Việt Nam, nay gọi là Đại Nam thì càng tỏ nghĩa lớn… Chuẩn từ nay trở đi, Quốc hiệu phải gọi là nước Đại Nam, hết thảy giấy tờ xưng hô phải chiếu theo đó tuân hành. Giả hoặc có nói liền là nước Đại Việt Nam về lẽ vẫn phải, không được nói hai chữ Đại Việt. Còn Hiệp kỷ lịch năm nay trót đã ban hành thì không phải thay đổi hết thảy… Lấy năm Minh Mạng thứ 20 bắt đầu đổi thành chữ Đại Nam mà ban hành để chính tên hiệu cho các nơi xa gần đều biết”. (Đại Nam thực lục 大南寔錄, Chính biên, Đệ nhị kỷ, Q.190).

Thông tin trên đây cho chúng ta biết được rằng, văn bản ĐNANTB 大南英雅前編 nếu được thành thư sớm nhất cũng phải là sau năm 1838, tức sau thời điểm vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu Đại Nam.
Khảo sát chi tiết trong văn bản, chúng tôi thấy xuất hiện các chữ huý Nhậm 任, Thì 時, đều là những chữ huý có liên quan đến vua Tự Đức. Chữ Nhậm任, xuất hiện 2 lần ở trang 25b,d7(2) và 73b,d2. Đây là chữ tên vua Tự Đức (Nguyễn Phúc Hồng Nhậm 阮福洪任), cách kiêng huý là đổi sang chữ đồng nghĩa Ký寄 và đổi sang chữ khác có cùng âm đọc 壬Nhậm (Nhâm). Chữ Thìn辰, là chữ huý xuất hiện nhiều nhất trong ĐNANTB (1a,d6; 9a,d3; 14b,d1;29a,d3; 31a,d1; 4b7,d3, 27a,d7; 86a,d7; 88b,d1; 89a,d2), đó là kiêng huý chữ Thì 時 tên vua Tự Đức.
“Vua Tự Đức là con nuôi thứ hai của vua Thiệu Trị, sinh năm Kỷ Sửu (1829), lúc còn nhỏ được đặt tên là Hồng Nhậm 洪任. Ngày tháng 10 năm Đinh Mùi (11-1847) vua Thiệu Trị mất, hoàng tử Hồng Nhậm là người được chọn kế vị… Trong ngày đăng quang, vua dẫn các đại thần lên Chính điện kính cẩn mở Kim đằng lấy sách đặt tên (御制命名册Ngự chế mệnh danh sách) do vua Minh Mạng soạn để chọn chữ đặt tên một chữ. Căn cứ theo câu đầu bài thơ đó là chữ Thì 時. Câu đầu của bài thơ Hai mươi chữ bộ Nhật (日字部二十Nhật tự bộ nhị thập) mở đầu với câu “Tuyền 暶Thì 時 Thăng 昇Hiệu 昊 Minh 明”. Tự Đức kế vị Thiệu Trị chọn chữ Thì 時 là chữ thứ hai, tiếp theo chữ Tuyền… Như vậy, sau khi Tự Đức lên ngôi, chữ Thì 時là tên chính thức của vua, tên thủa nhỏ là Hồng Nhậm 洪任 chuyển làm tên tự(3)”.
Các chữ huý trên đây là minh chứng cho việc, ĐNANTB 大南英雅前編 phải được biên soạn sau khi vua Tự Đức lên ngôi (1848). Khảo sát chi tiết trong văn bản, chúng tôi thấy từ tờ 62b đến 65a có bài dụ của vua Tự Đức về việc sát cử (bài này vốn không có nhan đề, nhan đề là do chúng tôi căn cứ vào nội dung để đặt), bài dụ được viết vào ngày tháng 10, năm Tự Đức thứ 18 (1865). Trong tổng số 41 tác phẩm được tuyển chọn trong ĐNANTB 大南英雅前編, thì tác phẩm nêu trên có niên đại biên soạn muộn nhất. Từ thông tin trên đây, có thể khẳng định văn bản ĐNANTB 大南英雅前編 phải được biên soạn thành thư là sau tháng 10 năm 1865.
Tác giả văn bản: ĐNANTB 大南英雅前編 không cung cấp thông tin nào về tác giả biên soạn ngoài những tác giả của từng tác phẩm cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ vào các tác phẩm được tuyển chọn, cũng như hệ thống tác giả của từng tác phẩm cụ thể đa phần là vua và các vị đại thần hay những vị đại khoa của triều Nguyễn, cùng với hai chữ “anh nhã” (lời hay ý đẹp), có thể gợi ý cho chúng ta phần nào khẳng định tác giả biên soạn của ĐNANTB 大南英雅前編 có thể là một cơ quan như Hàn Lâm viện hoặc Nội các, hay Quốc Sử quán triều Nguyễn thực hiện.
Cấu trúc số lượng tác phẩm cụ thể: Tiến hành khảo sát chi tiết ĐNANTB 大南英雅前編, chúng tôi xác định được tổng cộng 41(4) đơn vị tác phẩm, bao gồm nhiều thể loại như văn tế, sớ điệp, tựa bạt, phú, ngự đề và bi ký. Danh mục và sự phân bố 41 bài trong văn bản cụ thể như sau: 1/賜祭文太保郡公阮文張文- Tứ tế văn Thái bảo Quận công Nguyễn Văn Trương văn/ Văn tế Thái bảo Quận công Nguyễn Văn Trương do vua ban. Các Đình thần ở bộ Lễ phụng soạn vào năm Gia Long thứ 9 (1810), tờ 1a-1b; 2/ 賜祭掌營阮廷得文 - Tứ tế Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc văn/ Văn tế Chưởng dinh Nguyễn Đình Đắc do vua ban. Bộ Lễ biên soạn vào năm Gia Long thứ 10 (1811), tờ 1b-2a; 賜祭太傅郡公阮黃德文 - Tứ tế Thái phó Quận công Nguyễn Huỳnh Đức văn/ Văn tế Thái phó Quận công Nguyễn Huỳnh Đức do vua ban. Bộ Lễ biên soạn vào năm Gia Long thứ 18 (1819), tờ 2a-3a; 4/賜祭太傅郡公阮德川文 - Tứ tế Thái phó Quận công Nguyễn Đức Xuyên văn/ Văn tế Thái phó Quận công Nguyễn Đức Xuyên do vua ban. Hàn Lâm viện biên soạn vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824), tờ 3a-4a; 5/賜祭協辨大學士鄧德超文 - Tứ tế Hiệp biện Đại học sĩ Đặng Đức Siêu văn/ Văn tế Hiệp biện Đại học sĩ Đặng Đức Siêu do vua ban. Hàn Lâm viện soạn vào năm Minh Mạng thứ 6 (1825), tờ 4a-4b; 6/賜祭名山大川壇文 - Tứ tế danh sơn đại xuyên Đàn văn/ Văn tế Đàn danh sơn đại xuyên do vua ban. Hàn Lâm viện soạn vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), tờ 4b-5a; 7/附代黃鎮守祈雨文 - Phụ đại Hoàng trấn thủ kì vũ văn/ Phụ bài Văn cầu mưa viết thay cho trấn thủ Hoàng. Bùi Dương Lịch soạn, không đề năm, tờ 5a-6a; 8/天姥寺齋壇疏牒 - Thiên Mụ tự trai đàn Sớ điệp/ Sớ điệp trai đàn chùa Thiên Mụ. Bộ Lễ soạn vào năm Minh Mạng thứ 16 (1835), tờ 6a-8b; 9/覺皇寺修齋疏牒 - Giác Hoàng tự tu trai Sớ điệp/ Sớ điệp tu trai chùa Giác Hoàng. Hàn lâm viện phụng soạn vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846), tờ 8b-11a; 10/定內閣官制議 - Định Nội các quan chế nghị/ Bàn về việc định quan chế Nội các. Đình thần tấu nghị vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829), tờ 11-13b; 11/ 止善堂詩集跋 - Chỉ Thiện đường thi tập bạt/ Bài bạt Tập thơ Chỉ Thiện đường. Trương Đăng Quế viết vào năm Thiệu Trị thứ 5 (1845), tờ 14a -18a; 12/聖製裁成輔相先天後天詩集跋 - Thánh chế tài phụ tướng tiên thiên hậu thiên thi tập bạt/ Bài Bạt Tập thơ Thánh chế tài thành phụ tướng tiên thiên hậu thiên. Nguyễn Văn Siêu soạn vào năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), tờ18-22a; 13/聖製文二集跋 - Thánh chế văn nhị tập bạt/Bài bạt Thánh chế văn nhị tập (Văn vua làm, tập 2). Vũ Phạm Khải soạn vào năm Tự Đức nguyên niên (1848), tờ 22a-25b; 14/附讀艮齋詩集跋 - Phụ độc Cấn Trai thi tập bạt/Phụ bài bạt đọc Cấn Trai thi tập. Cao Huy Diệu soạn vào năm Gia Long thứ 17 (1818), tờ 25b-29a; 15/雷聲賦 - Lôi thanh phú/ Bài phú tiếng sấm. Lê Duy Thái soạn, không đề năm, tờ 29a-30b; 16/象陣賦 - Tượng trận phú/Bài phú voi đánh trận. Lê Duy Thái soạn, không đề năm, tờ 30b-33a; 17/御製賦誌事 - Ngự chế phú chí sự/Bài phú nói chí do vua làm. Không đề tên tác giả và năm biên soạn, tờ 33a-37a; 18/御題覓象搏虎行 - Ngự đề mịch tượng bác hổ hành/Bài hành tìm voi đánh hổ do vua đề. Bề tôi ở Viện Tập hiền – Phan Nhật Tỉnh phụng soạn, không đề năm, 37a-39b; 19/御題躬耕籍田賦考韻 - Ngự đề cung canh tịch điền phú khảo vận/Bài phú đích thân cày ruộng do vua đề, theo vần Khảo. Quan Tư nghiệp Vũ Duy Thanh soạn, không đề năm, 39b-45a; 20/御製五王宅歌 - Ngự chế Ngũ vương trạch ca/ Bài ca Ngũ vương trạch do vua làm. Vua Thiệu Trị soạn, không đề năm, 45a-46b; 21/開史局 - Khai sử cục/ Mở sử cục. Nội các soạn, năm Tự Đức thứ 8 (1855), 46b-48b; 22/ 文臣不愛錢論- Văn thần bất ái tiền luận/Luận về văn thần không ham tiền. Nội các thần Nguyễn Tư Giản vâng mệnh ứng chế, 48b-53b; 23/御題二十八日第二期覈 - Ngự đề nhị thập bát nhật đệ nhị kì hạch/ Đề thi do vua ra vào ngày 28, kỳ hạch thứ 2. Vua Thiệu Trị, 54a-56a; 御題十月初四日第期三覈 - Ngự đề thập nguyệt sơ tứ nhật đệ kỳ tam hạch/ Ngự đề khảo hạch kỳ thứ 3, ngày mùng 4, tháng 10. Vua Thiệu Trị, 56a-58a; 25/和王維觀獵詩 - Họa Vương Duy Quan liệp thi/Họa thơ Quan liệp thi của Vương Duy. Đông Dương Phạm đại nhân (Vũ Phạm Khải), 58a; 26/和高啟詠岳武穆事 - Họa Cao Khải vịnh Nhạc Vũ Mục sự/ Họa thơ Cao Khải vịnh việc Nhạc Vũ Mục. Đông Dương Phạm đại nhân (Vũ Phạm Khải), 58a-58b; 27/明高啟弔岳武穆墓原韻 - Minh Cao Khải điếu Nhạc Vũ Mục mộ nguyên vận/Theo nguyên vận bài của Cao Khải đời Minh viếng mộ Nhạc Vũ Mục. Đông Dương Phạm đại nhân (Vũ Phạm Khải), 59a; 28/擬韓愈進學解 - Nghĩ Hàn Dũ Tiến học giải/Phỏng theo bài Tiến học giải của Hàn Dũ. Quan Vũ Đông Dương soạn (Vũ Phạm Khải), không đề năm, 59a-62b; 29/ Bài dụ của vua Tự Đức về việc sát cử (bài này vốn vô đề), Vô danh vâng soạn theo dụ vua Tự Đức, năm Tự Đức thứ 18 (1865), 62b-65a; 30/御製示諸雅士及考官等絕句二首 - Ngự chế thị chư nhã sĩ cập khảo quan đẳng tuyệt cú nhị thủ/Hai bài tuyệt cú do vua ngự chế để khuyên bảo các nhã sĩ và khảo quan. Không đề năm, 65a; 31/武功碑記 - Võ công bi ký/Văn bia ghi võ công. Hàn Lâm viện soạn, không đề năm, 65b-66b; 32/安西武功碑記 - An Tây võ công bi ký/ Văn bia ghi võ công yên định cõi tây. Hàn Lâm viện soạn, không đề năm, 66b-71a; 33/海陽風俗記 - Hải Dương phong tục ký/Bài ký phong tục Hải Dương. Phạm Quý Thích soạn, không đề năm, 71a-73a; 34/奉開新港記 - Phụng khai tân cảng ký/ Bài ký vâng mệnh vua đào cảng mới. Trịnh Hoài Đức soạn vào năm Mậu Dần, 73a-74b; 35/瑞山碑記 - Thoại Sơn bi ký/Văn bia núi Thoại. Cao Huy Diệu soạn, không đề năm, 74b-76b; 36/廻水舊屯記 - Hồi Thủy cựu đồn ký/Bài ký ghi việc đồn cũ Hồi Thuỷ (nước xoáy), Lê Duy Thái soạn, không đề năm, 76b-80a; 37/僊山寺記 - Tiên Sơn tự ký/Bài ký chùa Tiên Sơn, Lê Duy Thái soạn, không đề năm, 80a-82a; 38/河僊鎮城記 - Hà Tiên trấn thành ký/Bài ký thành trấn Hà Tiên, Lê Duy Thái soạn, không đề năm, 82a-85a; 39/協順神祠碑記 - Hiệp Thuận thần từ bi ký/Văn bia ghi về đền thiêng Hiệp Thuận, Lê Văn Đức soạn, không đề năm, 85a-90a; 40/西湖寺碑記 - Tây Hồ tự bi ký/Văn bia ghi về chùa Hồ Tây, Phạm Quý Thích soạn, không đề năm, 90a-91a; 41/顯尊皇帝御製天姥寺碑記銘 - Hiển tôn Hoàng đế ngự chế Thiên Mụ tự bi ký minh/Bài minh trên bia ghi chép về chùa Thiên Mụ do Hiển tôn Hoàng đế soạn, Chúa Nguyễn Phúc Chu (Hiển Tôn Hiếu Minh Hoàng đế) soạn, 91b-96b.
Từ kết quả thống kê trên đây cho biết, ĐNANTB 大南英雅前編 là một tác phẩm rất đáng nghiên cứu, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử quý giá, nội dung liên quan đến đến các chủ đề chính là lịch sử - văn hoá, khoa cử - giáo dục, văn học và phong tục - địa lý. Tuy nhiên, trong phạm vi và chủ đề bài viết này, chúng tôi muốn tập trung phân tích về những dấu ấn của triều Nguyễn ở vùng đất Nam bộ.
2. Dấu ấn triều Nguyễn ở vùng đất Nam bộ qua Đại Nam anh nhã tiền biên
Như đã giới thiệu, trong 41 bài được tuyển chọn trong ĐNANTB 大南英雅前編, chúng tôi đã thống kê được 7 bài có liên quan trực tiếp đến những dấu ấn của triều Nguyễn ở vùng đất Nam Bộ, bao gồm các bài sau: 1/Võ công bi ký 武功碑記 (Văn bia ghi võ công), 2/An Tây võ công bi ký 安西武功碑記 (Văn bia ghi võ công yên định cõi tây), 3/Phụng khai tân cảng ký 奉開新港記 (Bài ký vâng mệnh vua đào cảng mới), 4/Thoại Sơn bi ký 瑞山碑記 (Văn bia núi Thoại), 5/Hồi Thủy cựu đồn ký 廻水舊屯記 (Bài ký ghi việc đồn cũ Hồi Thuỷ (nước xoáy), 6/ Tiên Sơn tự ký僊山寺記 (Bài ký chùa Tiên Sơn), 7/ Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 (Bài ký thành trấn Hà Tiên).
Nam Bộ (tên cũ là Gia Định Thành) được xem là đất “khởi nghiệp vương” của triều Nguyễn, có vị thế chiến lược đặc biệt trong quan hệ với Chân Lạp, Xiêm La cùng các quốc gia phía nam khác. Đây là vùng đất màu mỡ, giàu có về tư liệu sản xuất và được coi là “hậu phương chính trị ổn định” cho nhà Nguyễn. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí 嘉定城通志 cũng thừa nhận tính chiến lược trong vị trí địa lý của thành Gia Định: “Thành Gia Định nước Việt Nam ta, đất rộng lương thực nhiều, không lo về đói rét”. Tuy nhiên, Nam Bộ không phải là vùng đất dễ dàng thâu tóm. Dân cư nơi đây không thuần nhất, bao hàm nhiều giai tầng như Hoa kiều, người Công giáo, đại địa chủ, thương nhân, cho thấy sự phức tạp trong việc cố kết các tộc người. Vùng đất này luôn nằm trong “tầm ngắm” của các nước lân cận, minh chứng là sau khi vua Minh Mạng băng hà, Xiêm La lập tức đưa quân sang đánh chiếm và cai quản Chân Lạp, đồng thời xâm lược nước ta (1841-1845). Nhà Nguyễn đã phải rất vất vả trong việc đối phó và giữ vững bờ cõi.
2.1. Dấu ấn bình định và bảo vệ biên cương
Các bài ký trong ĐNANTB 大南英雅前編 như An Tây võ công bi ký 安西武功碑記, Võ công bi ký 武功碑記, Hồi Thuỷ cựu đồn ký 廻水舊屯記 đã ghi lại những chiến công hiển hách của triều Nguyễn trong việc bình định và bảo vệ Nam Bộ, thể hiện ý thức hệ dân tộc của vương triều.
An Tây võ công bi ký 安西武功碑記 – Bản hùng ca về sự nghiệp bình định Trấn Tây: Bài An Tây võ công bi ký (Văn bia ghi chép võ công yên định cõi Tây) là một trong những tư liệu lịch sử đặc biệt quý giá, bởi bản văn bia gốc tại Huế hiện nay đã thất lạc, và nhờ sự sao chép lại trong ĐNANTB 大南英雅前編 mà nội dung của nó vẫn được bảo tồn đầy đủ. Tác phẩm này ghi lại công lao của các tướng lĩnh và quan quân triều đình nhà Nguyễn trong việc đánh dẹp, bình định Trấn Tây (Campuchia ngày nay), phản ánh một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Quan điểm của triều Nguyễn về Trấn Tây được thể hiện rõ nét trong tác phẩm: xem Trấn Tây như một vùng đất lệ thuộc và có trách nhiệm bảo hộ. Nhà Nguyễn coi việc Xiêm can thiệp vào Trấn Tây là hành động bạo ngược, làm đảo lộn trật tự vốn có, buộc triều đình phải ra quân để khôi phục sự ổn định. Điều này khẳng định tư duy về chủ quyền và ảnh hưởng của Đại Nam đối với khu vực. Tác phẩm cũng nhấn mạnh chiến lược quân sự của triều Nguyễn. Triều đình đã điều động và phối hợp chặt chẽ giữa nhiều tướng lĩnh quan trọng như Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn, Nguyễn Hoàng, Vũ Văn Giải. Các chiến dịch được tiến hành bài bản, phân công rõ ràng, chia quân thành nhiều hướng tiến công để tiêu diệt kẻ địch. Tác phẩm liệt kê chi tiết các trận đánh quyết định tại Ba Xuyên, Lạc Hóa, Vĩnh Tế, Ô Đông, Thiết Thằng, cho thấy sự củng cố quyền kiểm soát của triều đình ở Nam Bộ và Trấn Tây.

Kết quả chiến dịch được ghi lại cụ thể: hàng ngàn quân địch bị tiêu diệt, hàng vạn quân đầu hàng, các thủ lĩnh Xiêm như Chất Tri phải xin hàng, và Sá Ong Giun(5) buộc phải quy phục, tiếp tục triều cống. Sau chiến thắng, triều đình nhà Nguyễn áp dụng chính sách “ân uy tịnh dụng 恩威並用”. Việc tha tội cho Sá Ong Giun và cho ông tiếp tục giữ ngôi vương là cách để duy trì ổn định lâu dài và thu phục lòng dân, thể hiện tư tưởng khoan dung(6). Vua Thiệu Trị còn ban thưởng công lao, phong tước hiệu và khắc bia để ghi công cho các tướng lĩnh, nhằm vinh danh quân công và nhắc nhở các thế hệ sau về tầm quan trọng của việc bảo vệ biên cương(7).
Võ công bi ký 武功碑記 và Hồi Thủy cựu đồn ký 廻水舊屯記– Ghi dấu công lao dẹp loạn, giữ đất: Nếu An Tây võ công bi ký 安西武功碑記 ghi lại chiến công bình định Trấn Tây, thì Võ công bi ký 武功碑記 cũng góp phần khắc họa công lao của các tướng sĩ trong việc bình định, dẹp loạn, giữ vững biên cương. Tác phẩm này thể hiện sự trân trọng và tự hào của nhà Nguyễn đối với các chiến công ở vùng đất Nam Bộ(8). Bài ký này cũng cho thấy tinh thần “trung quân” và tầm quan trọng của việc phụng sự quốc gia trong bối cảnh dựng nghiệp gian nan của triều Nguyễn.
Bài ký Hồi Thủy cựu đồn ký 廻水舊屯記 (Bài ký ghi việc đồn cũ nước xoáy) của Lê Duy Thái mô tả địa hình hiểm trở của vùng Hồi Thủy, nơi từng là cứ điểm quan trọng trong các cuộc chiến, đặc biệt là với Tây Sơn và Xiêm La. Tác phẩm cho thấy sự gian nan trong công cuộc bình định và xây dựng vương nghiệp ở phương Nam, đồng thời thể hiện sự ngưỡng mộ đối với các công thần đã dốc sức vì đất nước tại nơi này. Theo bài ký, nơi đây là ngã ba sông chảy xuống Sa Đéc, thông ra Hậu Giang và ngược lên Tiền Giang, tạo thành dòng nước xoáy – chính là “Hồi Thủy(9)”. Tác giả Lê Duy Thái cũng kể lại những khó khăn mà triều Nguyễn phải đối mặt khi quân Tây Sơn xâm nhập Gia Định nhiều lần, và công lao của Thế tổ Cao Hoàng đế cùng các tướng sĩ trong việc bình định, giữ vững các đồn như Hồi Thủy. Bài ký khẳng định rằng Hồi Thủy, dù ngày nay chỉ là đất của một trong số vùng ngoại thành phía Nam, nhưng trong quá khứ là nơi chứng kiến sự mở rộng lãnh thổ đến tận cùng Nam Bắc, điều mà “hơn ba nghìn năm từ thời Hồng Bàng” chưa từng có được(10). Tác phẩm còn ghi nhận những người theo hầu vua ở Vọng Các và Hồi Thủy, cho thấy sự hy sinh và lòng trung thành của họ, với một số lượng người sống sót sau 30 năm theo phò giúp Gia Long ở Vọng Các là rất ít ỏi.
2.2. Dấu ấn mở cõi, khai phá và xây dựng công trình thủy lợi
ĐNANTB 大南英雅前編 là nguồn cứ liệu “khả tín” trong việc nghiên cứu địa chí, ghi dấu hành trình mở cõi của nhà Nguyễn về phương Nam.
Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 – Bức tranh tổng quan về đất Hà Tiên
Bài Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 (Bài ký thành trấn Hà Tiên) là một tác phẩm quan trọng của Lê Duy Thái, được chia làm ba phần. Phần đầu kể lại lịch sử hình thành vùng đất Hà Tiên và nêu bật vai trò của dòng họ Mạc (Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ) trong sự phát triển của vùng đất này, từ việc chiêu tập dân lưu tán, lập thôn xã, xây thành lũy, quy hoạch phố phường, cho đến việc mở Tao đàn Chiêu Anh Các. Tác giả đặc biệt ca ngợi công lao và tài năng của họ Mạc trong việc khai mở và phát triển Hà Tiên. Phần thứ hai miêu tả một số địa danh, thắng tích nổi tiếng của Hà Tiên, bao gồm núi Tô Châu 蘇州山, núi Lộc Trĩ 鹿峙山 (Mũi Nai), núi Bình San 屏山, chùa Phù Dung 芙蓉, và chùa Di Đà 彌陀. Đây là những địa danh đã đi vào thơ văn của các thi nhân trong Tao đàn Chiêu Anh Các. Phần cuối cùng thể hiện sự cảm nhận và đánh giá của tác giả về trấn thành Hà Tiên. Tác giả cảm phục trước sự bồi dưỡng và giáo hóa của hai vị chủ nhân vùng đất (ý chỉ Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ), giúp Hà Tiên định yên hơn sáu bảy mươi năm, thành hào được sửa sang, kho lẫm đầy đủ(11).

Bài Hà Tiên trấn thành ký trong ĐNANTB 大南英雅前編
Ngoài ra, bài ký còn cung cấp thông tin giá trị về chuyến đi kinh lược của Tổng trấn Lê Văn Duyệt đến vùng đất này vào năm Nhâm Ngọ (1822), cũng như số liệu về tổng, huyện, xã, thôn, điếm của trấn Hà Tiên vào đầu thế kỷ XIX(12). Điều này cho thấy sự quan tâm của triều Nguyễn trong việc nắm bắt và quản lý chi tiết vùng đất phương Nam. Lê Duy Thái, với tư cách là người theo hầu Lê Văn Duyệt, đã có dịp quan sát và tìm hiểu về Hà Tiên để sáng tác bài ký này. Tác phẩm cũng bộc lộ nỗi bùi ngùi của tác giả khi chứng kiến những biến cố lịch sử (như binh hỏa của quân Xiêm năm 1771) đã khiến nhiều tư liệu về họ Mạc bị thất lạc, cho thấy sự trân trọng của ông đối với di sản văn hóa của vùng đất này.
Tiên Sơn tự ký 僊山寺記 – Ghi nhận vẻ đẹp và công đức khai phá: Bài Tiên Sơn tự ký 僊山寺記 (Bài ký chùa Tiên Sơn) của Lê Duy Thái là một bài ký danh thắng quý giá, đặc biệt hiếm hoi khi viết về một thắng cảnh ở cuối trời Nam. Tác phẩm mô tả chi tiết cảnh đẹp của chùa Tiên Sơn và núi Lộc Trĩ (Mũi Nai) ở Hà Tiên, với hình dạng núi như cái chuông úp, hang động kỳ vĩ, và cảnh biển đảo mênh mông, ẩn hiện trong khói sóng, gợi cảm giác siêu thoát.
Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả cảnh vật, bài ký còn dẫn dắt người đọc từ danh thắng đến suy tư về kiếp người, về sự vô thường của vạn vật và cái còn mất của đời người. Đoạn cuối tác giả chuyển bút sang ca ngợi công đức của Mạc Thiên Tứ – người đã tạo dựng nên vùng đất Hà Tiên văn hiến với Tao đàn Chiêu Anh Các và Hà Tiên thập cảnh mộng mơ. Tác giả khẳng định Mạc Thiên Tứ được người đời nhớ đến không phải nhờ bia đá, mà là do “cái mà chính cuộc đời ngài truyền lại(13)”. Bài ký cũng thể hiện niềm cảm phục của tác giả khi lưu bút về nơi này, cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu liên ngành khi tìm hiểu về triều Nguyễn. Tác phẩm tuy ngắn nhưng giàu văn học tính, đem lại nhiều cảm xúc cho người đọc.
Thoại Sơn bi ký 瑞山碑記 – Tôn vinh công lao khai kênh: Bài Thoại Sơn bi ký 瑞山碑記 (Văn bia núi Thoại Sơn) của Cao Huy Diệu 高輝曜 ca ngợi công lao của Thoại Ngọc Hầu (Nguyễn Văn Thoại) trong việc đào kênh Thoại Hà, mở mang vùng đất An Giang. Tác phẩm này cho thấy sự quan tâm sâu sắc của triều Nguyễn đến việc khai phá, phát triển kinh tế vùng Nam Bộ.
![]() |
![]() |
| Văn bản Thoại Sơn bi ký瑞山碑記 trong ĐNANTB, tờ 74b-75a. | |
Bài ký mô tả núi Thoại Sơn, ban đầu có tên là núi Sập 垃山 (tục danh Lạp Sơn) thuộc vùng phiên bang, nhưng sau này nhờ ơn vua mà được đổi tên thành Thoại Sơn, gắn liền với tên tước hiệu Thoại Ngọc của Thoại Ngọc Hầu. Tác giả Cao Huy Diệu tự hào khi tên Nguyễn Văn Thoại được đặt cho ngọn núi, xem đó là một vinh dự lớn lao, trường tồn cùng trời đất, không bị tiêu mòn. Bài ký cũng nhắc đến quá trình Thoại Ngọc Hầu được giao nhiệm vụ quản lý trấn Vĩnh Thanh, giám sát việc đào kênh Đông Xuyên (nay là kênh Thoại Hà), giúp thuyền bè qua lại thuận tiện. Tác phẩm không chỉ ghi lại công trạng mà còn thể hiện nỗi trăn trở của người làm quan Nho sĩ về việc lập công danh, sợ sau này khi về hưu thì “khác gì như cây cỏ tàn tạ”. Cuối bài ký, tác giả bày tỏ mong muốn dựng miếu sơn thần và khắc bia ghi rõ tên “Thoại Sơn” cùng lai lịch, để lưu truyền muôn đời bất hủ.
Phụng khai tân cảng ký 奉開新港記 – Chứng tích của công cuộc thủy lợi quy mô: Bài Phụng khai tân cảng ký 奉開新港記 (Bài ký vâng mệnh vua khai thông cảng mới) là một tư liệu vô cùng quý giá, ghi lại chi tiết công cuộc đào kênh Bảo Định ở Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Tác phẩm này thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược và sự nỗ lực của triều Nguyễn trong việc cải tạo địa hình, phát triển giao thông thủy lợi ở Nam Bộ.
Theo bài ký, vào tháng Chạp năm Mậu Dần (1818), triều đình ra dụ chuẩn bị đào cảng sông ở Định Tường vào mùa xuân tới. Đến tháng Giêng năm Kỷ Mão (1819), công trình chính thức khởi công, với việc điều động 3.225 dân đinh của trấn Định Tường. Việc giám sát và đốc thúc được giao cho nhiều quan lại cấp cao như Khâm sai Chưởng cơ lãnh Giám thành sứ Nhậm Tín hầu, Khâm sai Trấn thủ trấn Định Tường Bửu Thiện hầu, Khâm sai Phó Tổng trấn Thị trung Thống chế thành Gia Định Lý Văn hầu, và đặc biệt là Khâm sai Tổng trấn Chưởng Tiền quân Bình tây tướng quân Đức Quận công (Lê Văn Duyệt) cùng Khâm sai Hiệp Tổng trấn Lại bộ Thượng thư An Toàn hầu(14). Điều này cho thấy tầm quan trọng và sự phối hợp quy mô của triều đình trong công trình này. Công việc được tiến hành từ ngày 28 tháng Giêng, đào từ chợ Thang Lung đến bến Mỹ Tho, bao gồm cả việc đào thẳng ruộng bằng, đắp đập bờ sông, khơi sâu chỗ cạn, nắn thẳng chỗ cong, biến hai bờ thành đê, tạo nên một tuyến đường thủy thẳng tắp. Công trình hoàn thành vào ngày 10 tháng 4 nhuận, giúp nước sông thông chảy và cảng với sông thông nhau. Tác giả bày tỏ sự ngưỡng mộ Thánh thượng vì đã sáng suốt nhận thấy sự quanh co, hiểm yếu và bùn tắc của các dòng sông, gây bất tiện cho việc giao thông công tư. Tác phẩm khẳng định rằng, việc chịu khó nhọc trong mươi ngày một tháng đã tạo nên sự tiện lợi “lâu dài cả ngàn vạn năm”. Thành quả này là sự kết hợp của mưa nắng thuận hòa, sức người đồng lòng, và tầm nhìn của nhà vua, thể hiện sự cần mẫn trong việc “lý hội địa đạo” và sự nỗ lực của con dân, đáng được “bất hủ” và ghi vào đá để truyền lại lâu dài. Bài ký này là minh chứng hùng hồn cho chính sách trọng nông và nỗ lực kiến thiết hạ tầng của nhà Nguyễn nhằm phát triển kinh tế Nam Bộ.
2.3. Dấu ấn về tác giả và tài năng văn học Nam Bộ
ĐNANTB 大南英雅前編 còn là một tư liệu quý giá, cung cấp cứ liệu đầu tiên cho việc nghiên cứu về những tác giả ít được biết đến, tiêu biểu là trường hợp của Lê Duy Thái 黎維泰. Mặc dù tiểu sử của ông vẫn là một khoảng trống trong lịch sử triều Nguyễn và các tài liệu hiện nay chưa thể xác định được chi tiết, nhưng các sáng tác của ông được chép lại trong ĐNANTB 大南英雅前編 đã phần nào chứng tỏ tài năng văn học của ông.
Lê Duy Thái là tác giả của năm bài ký trong ĐNANTB 大南英雅前編, nhiều nhất trong số các tác giả được tuyển chọn. Qua các bài ký như Tiên Sơn tự ký 僊山寺記 và Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記, Lê Duy Thái không chỉ tái hiện lịch sử hình thành trấn Hà Tiên, ghi nhận các biến cố lớn, mà còn dẫn dắt người đọc từ danh thắng đến suy tư về kiếp người. Hai bài phú Lôi thanh phú 雷聲賦 (Bài phú tiếng sấm) và Tượng trận phú 象陣賦 (Bài phú voi đánh trận) của ông với hình ảnh nghệ thuật sống động, thể hiện sự linh hoạt trong bút pháp nghệ thuật lẫn nội dung, là tư liệu nghiên cứu hữu ích trong việc tìm hiểu phong cách hành văn của Lê Duy Thái. Dựa vào những ghi chép trong Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記 về việc ông theo hầu Tổng trấn Lê Văn Duyệt đi kinh lược Hà Tiên vào năm Nhâm Ngọ (1822), các nhà nghiên cứu có thể xác định Lê Duy Thái sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ XIX, dưới thời Gia Long đến Minh Mạng. Điều này khẳng định sự đóng góp của ĐNANTB 大南英雅前編 trong việc truy nguồn tiểu sử còn bỏ ngỏ của ông, mở ra hướng nghiên cứu quan trọng về giá trị văn học, phong cách bút pháp và tư duy nghệ thuật của một trí thức nửa đầu thế kỷ XIX.
Không chỉ có giá trị trong nghiên cứu triều Nguyễn ở Nam Bộ, ĐNANTB 大南英雅前編 còn chứa đựng nhiều giá trị khác trong nghiên cứu khoa cử giáo dục và văn hóa phong tục. Về khoa cử và giáo dục: ĐNANTB 大南英雅前編 sưu tập các bài “Ngự đề 御題” của vua Thiệu Trị và Tự Đức, phản ánh sự đổi mới trong chế độ khảo thí nhằm khuyến khích Nho sinh bộc lộ tư duy và kiến giải, tránh học thuộc lòng. Về văn hóa phong tục và địa chí: Về văn hóa phong tục, ĐNANTB 大南英雅前編 cung cấp thông tin về quá trình hình thành các vùng đất qua các bài như Hải Dương phong tục ký 海陽風俗記 (Bài ký phong tục Hải Dương), Hà Tiên trấn thành ký 河僊鎮城記, Tây Hồ tự bi ký 西湖寺碑記 (Văn bia ghi về chùa Hồ Tây). Điều này bổ sung tư liệu cho các nhà sử học, văn hóa học khi tìm hiểu về nền lịch sử văn hóa của triều Nguyễn nói riêng và Việt Nam nói chung. Tác phẩm cũng khai thác vấn đề giao hòa của Nho - Phật trong văn hóa tôn giáo (Hiển tôn Hoàng đế ngự chế Thiên Mụ tự bi ký minh 顯尊皇帝御製天姥寺碑記/Bài minh trên bia ghi chép về chùa Thiên Mụ do Hiển tôn Hoàng đế soạn) giúp người đọc hiểu thêm về tín ngưỡng Phật giáo và cách triều Nguyễn dung hòa việc tôn Nho và kính Phật trong trị nước. Các bài ký về địa chí và phong tục khắc họa sinh động bối cảnh văn hóa, sự hòa hợp tín ngưỡng Nho - Phật và phong tục địa phương, tạo tư liệu tham khảo quý giá cho các nghiên cứu liên ngành về văn hóa, xã hội và tôn giáo.
Tóm lại, khảo cứu ĐNANTB 大南英雅前編 không chỉ làm phong phú kho tàng tư liệu Hán Nôm mà còn cung cấp cái nhìn đa chiều, khách quan về triều Nguyễn trên nhiều phương diện lịch sử, văn hóa, giáo dục và văn học, góp phần bảo tồn và phát huy di sản Hán Nôm Việt Nam. Những dấu ấn của triều Nguyễn ở Nam Bộ qua tác phẩm này là minh chứng rõ nét cho nỗ lực của một vương triều trong việc xây dựng và bảo vệ bờ cõi, để lại di sản văn hóa và lịch sử vô cùng quý giá cho hậu thế.
3. Kết luận
Đại Nam anh nhã tiền biên 大南英雅前編 thực sự là một tác phẩm rất đáng nghiên cứu, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, lịch sử quý giá. Qua khảo sát và phân tích 7 bài ký liên quan đến vùng đất Nam Bộ, có thể thấy rõ những dấu ấn sâu đậm và đa diện của triều Nguyễn trong công cuộc bình định, khai phá và kiến tạo vùng đất chiến lược này. Tác phẩm này không chỉ ghi lại công cuộc bình định gian nan để bảo vệ biên cương trước các thế lực ngoại xâm, mà còn khắc họa rõ nét nỗ lực khai phá, kiến tạo hệ thống thủy lợi quy mô như việc đào kênh Bảo Định, và phát triển các trung tâm kinh tế, văn hóa như Hà Tiên. Đồng thời, ĐNANTB 大南英雅前編 còn là nguồn sử liệu quan trọng để tìm hiểu về đời sống văn hóa, phong tục, và đặc biệt là tài năng văn học của các tác giả gắn liền với vùng đất phương Nam như Lê Duy Thái. Những ghi chép này không chỉ làm phong phú kho tàng Hán Nôm mà còn góp phần bảo tồn và làm sâu sắc thêm nhận thức về vai trò lịch sử của triều Nguyễn trong việc hình thành và phát triển Nam Bộ.
Hoàng Ngọc Cương
Nguồn: Nghiên cứu Hán Nôm 2025, Nxb Thế giới, 2025, tr.294-311.
Tài liệu tham khảo
1. Đại Nam anh nhã tiền biên大南英雅前編, Ký hiệu A.2286, VNCHN.
2. Hoàng Ngọc Cương, (2018), Tuyển Tập thơ văn Trương Đăng Quế, NXB. Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
3. Ngô Đức Thọ, (1997), Nghiên cứu chữ huý Việt Nam qua các triều đại, Nxb Văn hoá, Hà Nội.
4. Ngô Đức Thọ & Trịnh Khắc Mạnh, (2007), Cơ sở văn bản học Hán Nôm, Nxb. KHXH, Hà Nội.
5. Nhiều tác giả, (2013), Triều Nguyễn và lịch sử của chúng ta, in lần thứ 3, Tạp chí Xưa và Nay - NXB. Hồng Đức, Hà Nội.
6. Quốc sử quán triều Nguyễn, (2004-2007), Đại Nam thực lục, Bản dịch, 10 tập, Viện KHXH Việt Nam, Viện Sử học, NXB. Giáo dục, Hà Nội.
7. Trần Nghĩa & François Gros, (1993), Di sản Hán Nôm Việt Nam thư mục đề yếu, 3 tập, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
8. Trịnh Hoài Đức, (1999), Gia Định thành thông chí, bản dịch, NXB Giáo dục, Hà Nội.
Chú thích:
(1)Từ đây trở đi xin được viết tắt là ĐNANTB.
(2) 25b,d7: Tức là chỉ dẫn tờ số 25, mặt b, dòng thứ 7.
(3) Ngô Đức Thọ. (1997). tr.151.
(4) Sách Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu (t.1, tr.474-475), cho biết sách này gồm “37 bài văn của vua quan nhà Nguyễn”, tuy nhiên, qua khảo sát, chúng tôi thống kê được 41 bài.
(5) Preah Bat Ang Duong (1796-1860), tiếng Khmer là ព្រះបាទ អង្គ ឌួង, phát âm tiếng Khmer: [ʔɑŋ duəŋ]), (trị vì trong 2 giai đoạn 1841-1844, và 1845-1860). Sử sách Việt Nam thường gọi là Nặc Ông Đôn, Nặc Ong Đuông (匿螉?) hay Nặc Ong Giun, Sá Ong Đuông (詫螉?), là vua của Cao Miên (Campuchia). Danh hiệu chính thức của ông là Preah Raja Samdach Preah Hariraksha Rama Suriya Maha Isvara Adipati. Ong Giun là em trai cùng cha khác mẹ với Nặc Ong Chăn.
(6) 帝乃下詔赦其罪,許以自新,勅武文解等升帳受降,所遣使臣準其詣阙奉表献欵,既乃復 其國號,俾詫螉?續其舊藩王之封,世世奉聀貢/ Vua bèn hạ chiếu tha cho, để y tự mình hối lỗi. Sắc cho Vũ Văn Giải thăng trướng tiếp nhận quân địch đầu hàng, sai sứ thần chuẩn cho chúng đến cửa khuyết dâng biểu quy thuận, cho được phục lại quốc hiệu, để cho Sá Ong Giun vẫn nhận phong làm phiên vương như trước, đời đời phụng chức cống. (ĐNANTB, tờ 68b).
(7) 邊事既蕆命諸臣振旅凱還飲至,策勳班賞,武文解賜忠武将,封安邊伯; 阮知方賜智勇将,封壮烈子; 尹蘊賜謀畧将,封綏靖子; 阮黃賜駿健将,封武含子; 段文策,尊室議前以病卒于軍皆已贈都統。段文策因其故裏封邑,晋封延祐伯; 尊室議封隆平子。餘将校吏士,大者封拜,小者賜賚各有差。寔惟聖恩體臣,不自有其美,歸功于下,寸效涓劳,無微不錄/Việc biên cương đã xong, mệnh chư thần chỉnh đốn đội ngũ, ca khúc khải hoàn, tế cáo tông miếu, ghi công ban thưởng. Vũ Văn Giải ban cho Trung Vũ tướng, phong tước An Biên bá; Nguyễn Tri Phương ban cho Trí Dũng tướng, phong tước Tráng Liệt tử; Doãn Uẩn ban cho Mưu lược tướng, phong tước Tuy Tĩnh tử; Nguyễn Hoàng ban cho Tuấn Kiện tướng, phong tước Vũ Hàm tử; Đoàn Văn Sách, Tôn Thất Nghị trước vì bệnh mất trong quân đều đã tặng Đô thống. Đoàn Văn Sách vì phong ấp cố hương, nên tấn phong tước Diên Hựu bá; Tôn Thất Nghị phong Long Bình tử. Các tướng, hiệu, lại, sĩ còn lại, công lớn phong tước thăng quan, công nhỏ ban đồ khen thưởng, đều có khác biệt. Thực nhờ ơn thánh xét kẻ bề tôi, chẳng tự khen mình; chỉ những quy công cho kẻ thần hạ, thành hiệu nhỏ, chút công bé, chẳng đâu không xét. (ĐNANTB, tờ 69a-69b).
(8) 鴻惟! 我世祖高皇帝,龍興之會,當辰奮庸佐命恒不乏人。明命初年,曾奉摘其勳烈,炳著者升之從祀庙庭矣….眷其劳能,列爵宣封,復舉行夫鉅典 。爰諭兵部臣,敘其勳伐,再采諸僉議,錄其武功,最著者取張明講等十人,列為两碑,分豎于武庙庭前之左右。 特 命翰林院臣等記其事,併将十臣之官爵,姓名,事状開列于左。豊功偉績彪炳千秋,非惟于古有光,又是以為千萬世有功者勸云。/Đoái nghĩ! Thế tổ Cao Hoàng đế ta, vận hội Long Hưng, đương thời ra sức giúp mệnh, thường chẳng thiếu người. Những năm đầu thời vua Minh Mạng, đã vâng mệnh chọn những người có công, công hiển hách sẽ được tòng tự nơi miếu đình… đoái nghĩ công lao của họ, ban phong thăng thưởng chức tước, lại cử hành theo đại điển triều đình. Bèn dụ cho các bề tôi bộ Binh, nêu công lao của các tướng sĩ, lại chọn lựa ý kiến của quan lại, ghi chép võ công của họ, công lao rực rỡ nhất thì chọn mười người là bọn Trương Minh Giảng, xếp vào hai bia, chia ra mà dựng ở hai bên trái phải trước sân Võ miếu. Đặc sai các bề tôi viện Hàn lâm ghi lại việc này, đồng thời đem quan tước, tên họ, sự nghiệp của 10 công thần liệt kê ra ở sau. Công lao to lớn rực rỡ nghìn năm, chẳng phải chỉ đời xưa mãi sáng tỏ, mà còn để khuyến khích cho những người có công ở muôn vạn đời sau. (ĐNANTB, tờ 65b, 66a-66b).
(9) 此江三岐下沙的,南通後江,西溯前江,两水交會端溯廻旋所謂廻水也/Đây là nơi phân nhánh của ba sông để chảy xuống Sa Đéc, phía Nam thông Hậu Giang, phía Tây ngược dòng về Tiền Giang, hai sông giao nhau, dòng chảy bị ngược hai đầu thì trở về, đó được gọi là Hồi Thủy (Nước Xoáy). (ĐNANTB, tờ 77b).
(10)凢我越昔辰所謂阻絕不可至之域盡入版圖, 若廻水者今特南阃中一土耳, 由此而溯新疆達河僊, 尚有數百里之逺, 自鴻厖三千餘年以来之所未闢, 猗欤盛哉!/Các vùng đất của nước Việt ta ngày trước cho là hiểm trở không thể đến được, toàn bộ nhập vào bản đồ ta, giống như đồn Hồi Thủy ngày nay chỉ là đất của một trong số vùng ngoại thành phía Nam mà thôi. Từ nơi này mà ngược dòng Tân Cương thì đến Hà Tiên, vẫn còn xa vài trăm dặm, là nơi chưa khai khẩn từ thời Hồng Bàng hơn ba nghìn năm đến nay, ôi thật huy hoàng thay! (ĐNANTB, tờ 78b).
(11) 余觀河仙之地,除要足恃,加以地主二公涵養,安佚六七十年之餘,城堡修,倉廩寔,自可旬日守以待朝兵之援,暹人必無能為矣./Ta xem địa thế Hà Tiên, ngoài được cái thế hiểm yếu nương tựa, lại thêm được hai vị chủ nhân đất ấy bồi dưỡng giáo hóa, định yên hơn sáu bảy mươi năm, thành hào sửa sang, kho lẫm đủ đầy, có thể tự giữ được trong mươi ngày để đợi viện binh triều đình, người Xiêm ắt không thể làm được gì. (ĐNANTB, tờ 79a).
(12) 鎮在城之西南,水行六日,該六百九十九里,鎮二縣四總,百三社村店隊耨庯屬所滀。其地東接永清,南臨海,北極界高蠻,為嘉定城關塞之大去./Trấn ở phía Tây Nam thành, đi đường thủy chừng 6 ngày, thành đó [rộng] 699 dặm, toàn trấn có 2 huyện 4 tổng, 103 xã thôn thôn điếm đội nậu bộ tụ tập. Đất ấy phía Đông giáp [trấn] Vĩnh Thanh, phía Nam tới biển, cùng cực phía Bắc giáp giới Cao Miên, là nơi trấn giữ vùng biên cho thành Gia Định. (ĐNANTB, tờ 83a).
(13) 夫公之名節固不待峒而傳,而峒之所以名亦不待碑而顯。今人之所以悲公,此正公之所以傳也。/Ôi, danh tiết của ngài hẳn nhiên chẳng phải nhờ động này mà truyền lại, và động sở dĩ vang danh cũng chẳng phải nhờ bia đá. Người thời nay sở dĩ cảm thương ngài, ấy là do cái mà chính cuộc đời ngài truyền lại. (ĐNANTB, tờ 83a).
(14) 照起定祥鎮三千二百二十五丁。欽差掌奇領監城使壬信侯按圖指授。定祥鎮欽差鎮守寶善侯奉督丁夫開作。欽差嘉定城副總鎮侍中左統制理文侯奉就處董督在城。欽差總鎮掌前軍平西將軍德郡公,欽差協總鎮吏部尚書安全侯協心照料。/Lấy dân đinh ở trấn Định Tường gồm 3.225 người. Khâm sai Chưởng cơ lãnh Giám thành sứ Nhậm Tín hầu chiếu theo bản vẽ để chỉ bảo. Khâm sai Trấn thủ trấn Định Tường Bửu Thiện hầu vâng mệnh đốc thúc dân đinh trai tráng đào mở khơi thông. Khâm sai Phó Tổng trấn Thị trung Thống chế thành Gia Định Lý Văn hầu nhận việc đến nơi đôn đốc thêm ở thành. Khâm sai Tổng trấn Chưởng Tiền quân Bình tây tướng quân Đức Quận công, Khâm sai Hiệp Tổng trấn Lại bộ Thượng thư An Toàn hầu cùng hiệp tâm lo liệu sự việc. (ĐNANTB, tờ 73a).




