HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ "KAWABATA YASUNARI: TỪ NHẬT BẢN ĐẾN VIỆT NAM"

Ký hiệu nước trong sáng tác của Kawabata Yasunari (Khảo sát trường hợp ba tiểu thuyết: Xứ tuyết, Hồ Những người đẹp say ngủ)

Water as a sign in the writings of Kawabata Yasunari (in the cases of Snow Country, The Lake, and The Sleeping Beauties)

Tác giả: Trần Thị Như Quỳnh

ThS., Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Bắc Giang

TÓM TẮT

Văn chương Kawabata Yasunari luôn ẩn chứa những hình ảnh được mã hóa dưới dạng các biểu tượng và đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về biểu tượng trong văn chương Kawabata Yasunari. Đã có nhiều nghiên cứu, bài viết tập trung phân tích các biểu tượng trong các tác phẩm như biểu tượng tuyết trong Xứ tuyết, gương trong Cố đô, trà đạo (chén uống trà, gian trà thất, những buổi trà đạo…) và chiếc khăn furoshiki trong Ngàn cánh hạc... Trong bài tham luận này, người viết mong muốn đề xuất hướng nghiên cứu, góc nhìn mới, mang tính phổ quát hơn về biểu tượng nước trong tiểu thuyết của Kawabata Yasunari qua khảo sát ba tiểu thuyết: Xứ tuyết, Hồ Những người đẹp say ngủ.

Cấu trúc bài tham luận được chia thành bốn phần với các ý chính như sau:

Phần một, tham luận đề cập tới biểu tượng nước trong sáng tác của Kawabata Yasunari thuộc dạng cổ mẫu sáng thế, xuất hiện với nhiều dạng thức, biểu hiện xuyên suốt các tác phẩm của ông: tuyết (trong Xứ tuyết), hồ (trong Hồ), biển (trong Những người đẹp say ngủ)... Nhưng dù xuất hiện dưới dạng thức nào, biểu tượng nước trong văn chương Kawabata Yasunari cũng luôn chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa.

Phần hai, người viết nói tới vấn đề nước biểu tượng cho cái đẹp, sự thuần khiết, đặc biệt của người phụ nữ. Đó là những người phụ nữ gắn liền với những vùng đất bao quanh bởi nước. Như hai cô gái Komako và Yoko nơi miền xứ tuyết hay những người đẹp say ngủ, hằng đêm nằm bên khách, trong tiếng sóng biển vỗ ì oạp. Nước như gột sạch tạp niệm và khiến cái đẹp của người phụ nữ trên trang văn Kawabata Yasunari trở nên đầy thanh khiết. Nhưng, nước yên bình mà cũng dữ dội, và đó cũng là hai mặt cá tính trong nội tâm người phụ nữ trên trang viết của Kawabata Yasunari.

Phần ba, bài tham luận hướng tới khía cạnh nước biểu tượng cho quá khứ, ẩn ức sâu kín, đau thương, vụn vỡ của con người. Là Gimpei với vùng hồ trong ký ức và là ông lão Eguchi, những đêm ngủ cạnh những người đẹp say ngủ đều nhớ về một phần ký ức xưa cũ trong tiếng sóng nước từ xa mỗi lúc dội lại gần hơn. Đau thương, mất mát, đam mê lụi tàn, sầu đau thân thể... chìm vào dòng nước ký ức kéo dài tới hiện tại.

Phần bốn, bài tham luận đề cập đến vấn đề nước trong tiểu thuyết của Kawabata Yasunari biểu tượng cho cái chết. Cái chết luôn hiện diện trong văn chương Kawabata và không ít lần, cái chết đó gắn liền với “nước”. Yoko chết vì lửa nhưng giữa ngọn lửa cháy, là dòng nước “hình cánh cung” phun vào “đám lửa cũ”, là “dải ngân hà” trong tâm trí Shimamura và cả nền tuyết vùng sơn cước xứ tuyết. Cái chết của cha Gimpei vẫn luôn ghim trong tiềm thức hắn, gắn liền với mặt hồ ký ức. Những người đẹp say ngủ, nếu có chết trong khi ngủ say, thân xác các cô được đưa tới những vùng hồ nước nóng xa ngái... Gắn liền với biểu tượng nước, cái chết trong văn chương Kawabata, vừa là sự “về cội”, vừa là sự “tái sinh, chuyển kiếp”, nhưng cũng vừa là sự “cực đoan” của những con người, mang nặng nỗi đau nhân thể và nỗi sầu nhân thế.

Từ khóa: Biểu tượng, nước, Xứ tuyết, Hồ, Những người đẹp say ngủ

Nikolai Ivanovich Nikulin (1931 – 2005) có lẽ là nhà Việt Nam học người Nga được biết đến nhiều nhất ở Việt Nam. Xuất thân từ một gia đình công nhân ở Moskva, năm 1949, ông vào học ở Ban Trung Hoa của Học viện Đông phương học Moskva, nghiên cứu chuyên sâu về ngôn ngữ và văn hóa vùng Tân Cương Duy Ngô Nhĩ. Tuy nhiên, vào năm cuối bậc đại học ở đây, ông chuyển sang học tiếng Việt và dự các giờ giảng của giáo sư viện sĩ A.A. Guber (1902 – 1971), chuyên gia hàng đầu của Liên Xô về lịch sử Đông Nam Á tại Đại học Tổng hợp Moskva (MGU). Khi quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Liên bang Xô viết được thiết lập, biết được nhu cầu cần có người biết tiếng Việt ở Đại sứ quán Liên Xô tại Việt Nam, năm 1954, chàng trai trẻ mới ra trường Nikulin đã xin được phục vụ trong Bộ Ngoại giao Liên Xô và được cử sang Việt Nam với tư cách là thực tập sinh tu nghiệp, rồi trở thành phó lãnh sự. Kể từ đó, toàn bộ cuộc đời của ông gắn bó với Việt Nam. Từ Việt Nam trở về Tổ quốc, cùng với các đồng nghiệp Nga và Việt, ông tham gia biên soạn bộ Từ điển Việt – Nga đầu tiên được xuất bản ở Moskva vào năm 1961. Cũng trong năm này, ông bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ với đề tài Sáng tác của Nguyễn Du (1765 – 1820) sau được xuất bản thành sách với nhan đề Nhà thơ vĩ đại Nguyễn Du (Moskva, 1965). Ông làm nghiên cứu viên tại Viện Đông phương học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau đó chuyển sang Viện Văn học thế giới mang tên A.M. Gorky, làm Trưởng Ban Văn học Á – Phi từ năm 1975 của Viện cho đến khi qua đời vào tháng 12/2005


Giáo sư N.I. Nikulin.

Hơn nửa thế kỷ gắn bó với Việt Nam, Nikulin đã để lại một di sản đồ sộ hơn 200 nghiên cứu về văn hóa, lịch sử và văn học Việt Nam, trong đó có những công trình quan trọng như: Văn học Việt Nam sơ thảo (1971) là công trình đầu tiên ở Liên Xô nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam một cách hoàn chỉnh; Những truyền thống nghệ thuật dân tộc và những mối quan hệ liên dân tộc trong sự phát triển văn học Việt Nam vốn là luận án tiến sĩ khoa học được Nikulin bảo vệ năm 1974 và được hoàn thiện thành chuyên khảo Văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại. Thế kỷ X – XIX (1977), trong đó trình bày những quy luật hình thành và phát triển của văn học kiểu trung đại của Việt Nam và sự chuyển biến của nó sang thời hiện đại, cũng như chỉ ra vai trò của những mối quan hệ văn học giữa Việt Nam với phương Đông và phương Tây ở những thời đại khác nhau như thế nào. Nikulin cũng là một dịch giả, từng dịch thơ văn Hồ Chí Minh và nhiều tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ hiện đại Việt Nam như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Chế Lan Viên, Nguyễn Minh Châu, v.v… Những năm cuối đời, ông làm chủ biên và đồng chủ biên những công trình quan trọng của Viện Văn học thế giới như Phật giáo và văn học (2003), Phương Đông trong văn học Nga thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XX (2004).

*
Là một chuyên gia vừa được đào tạo bài bản về Hán văn, vừa hết sức thông thạo tiếng Việt, Nikulin đặc biệt quan tâm đến mảng văn học cổ điển Việt Nam. Trong số các tác gia cổ điển của Việt Nam, ngoài Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến… thì Nguyễn Đình Chiểu cũng được nhà Việt Nam học người Nga này đặc biệt chú ý. Những bài viết về Nguyễn Đình Chiểu của Nikulin chủ yếu xuất bản trong thập niên 1970 – 1980, bắt đầu từ công trình Văn học Việt Nam sơ thảo (Вьетнамская литература. Краткий очерк) do nhà xuất bản Nauka ấn hành năm 1971, đã được Lê Sơn dịch và đưa vào trong bộ tuyển tập về lịch sử văn học Việt Nam N.I. Nikulin do nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Nghiên cứu quốc học tổ chức xuất bản vào năm 2007 (Nikulin, Lịch sử văn học Việt Nam, 2007, tr.553-878). Là một chuyên gia văn học làm việc tại Viện Văn học thế giới Gorky, Nikulin tham gia vào dự án đồ sộ Lịch sử văn học thế giới gồm 9 tập của Viện được tổ chức thực hiện và xuất bản trong gần 3 thập niên dưới sự điều hành của các học giả hàng đầu về lý luận và lịch sử văn học của Liên Xô cũng như của Nga về sau, như các viện sĩ A.S. Bushmin, B. Vipper, D.S. Likhachev, M.B. Khrapchenko, E.M. Meletinsky, B.L. Riftin… Ông phụ trách phần về văn học Việt Nam và chia sẻ những tư tưởng về loại hình lịch sử của trường phái văn học so sánh Xô viết được thể hiện trong bộ sách này, trong đó có vấn đề phân kỳ lịch sử văn học. Đặt văn học Việt Nam trong tư thế tương đồng về mặt loại hình lịch sử với các nền văn học khác trên thế giới, cả phương Tây lẫn phương Đông, ông xem giai đoạn thế kỷ XVIII và XIX của văn học Việt Nam thuộc thời kỳ cận đại, và xem Nguyễn Đình Chiểu như đại diện cho nửa sau thế kỷ XIX – một thời kỳ thể hiện “sự đa dạng những khuynh hướng tư tưởng mà những thời kỳ trước chưa hề biết tới, phản ánh những đặc điểm làm nó gần gũi với văn học hiện đại” (Nikulin, 2007, tr.680). Trong bối cảnh vừa đấu tranh chống lại cuộc xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp, vừa tiếp nhận chọn lọc những giá trị văn hóa, tinh thần Khải mông đến từ châu Âu, Nguyễn Đình Chiểu cũng như những sĩ phu ở Nam bộ cùng thời đã thể hiện tinh thần ái quốc, tinh thần nhân dân trong cuộc đấu tranh chống xâm lược. Khi nhắc đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Nikulin cho rằng “Nguyễn Đình Chiểu đã kêu gọi đồng bào đứng lên đánh giặc”, “thể hiện niềm tin của nhân dân vào tương lai tươi sáng”, đồng thời xem nhà thơ Việt Nam là tác gia đầu tiên của văn học Việt Nam “xây dựng hình tượng mang tính tổng hợp về người dân binh khởi nghĩa… vừa rời tay cày để cầm vũ khí” (Nikulin, 2007, tr.683). Ông xem sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu giống như thơ văn của giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, “về cơ bản vẫn phát triển trong khuôn khổ những hình thức truyền thống”, nhưng đồng thời cũng cho thấy những biến chuyển, đổi mới nội dung bên trong hình thức cũ đó, như “xu hướng dân chủ hóa văn học, ngôn ngữ văn học đã gần gũi hơn với ngôn ngữ hội thoại” (Nikulin, 2007, tr.682), hay phản ánh cuộc đụng độ giữa những tư tưởng, tín ngưỡng truyền thống với Cơ đốc giáo của châu Âu. Nikulin cho rằng nếu như trong Dương Từ – Hà Mậu các cuộc tranh luận giữa một tín đồ Phật giáo với một tín đồ Cơ đốc giáo đã đi tới kết luận là Nho giáo là học thuyết chân chính nhất, nhưng “Nho giáo của Việt Nam thời bấy giờ đã không còn là bất di bất dịch” (Nikulin, 1977, tr.287). Nguyễn Đình Chiểu trong Ngư tiều y thuật vấn đáp “lại đứng trên lập trường của đạo Nho mà phê phán những trật tự của nước Việt Nam phong kiến và nói lên niềm mơ ước của ông về một thế giới công bằng xã hội dựa trên cơ sở gia trưởng không tưởng” (Nikulin, 2007, tr.685).


Văn học Việt Nam sơ thảo – Nikulin Nikolay Ivanovich.

Đánh giá cao vai trò của Nguyễn Đình Chiểu đối với sự hình thành nền văn học yêu nước, đấu tranh giải phóng của Việt Nam, Nikulin gọi Nguyễn Đình Chiểu là “nhà thơ thân yêu của miền Nam Việt Nam” (любимый поэт вьетнамского Юга) như tên một bài báo ông viết nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh của nhà thơ, đăng trên tạp chí Văn học nước ngoài (Иностранная литература) số tháng 6 năm 1972 tại Moskva. Bản dịch tiếng Việt bài viết này, cũng của dịch giả Lê Sơn, đã được đưa vào trong cuốn Nguyễn Đình Chiểu – Tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật (Viện Văn học, 1973, tr.390-396).

Ở đoạn đầu bài viết, sau khi dẫn câu nói nổi tiếng của Phạm Văn Đồng về Nguyễn Đình Chiểu như “ngôi sao sáng trong bầu trời văn nghệ” Việt Nam, với một thái độ đầy ngưỡng mộ, Nikulin miêu tả về cụ Đồ Chiểu – một “ông già mù và điếc”, nhưng “có cái dáng oai nghiêm của vị gia trưởng” đã khiến viên quan đại diện cho chính quyền thực dân Pháp ở Bến Tre phải e ngại và đích thân tìm đến tận nhà để dụ dỗ cụ theo Pháp mà không thành. “Uy tín lớn lao về đạo đức của Đồ Chiểu (mà ông đúng là một nhà giáo có nhiều học trò), thái độ bất hợp tác của ông đối với bọn thực dân đã khiến cho nhà thơ trở thành một sức mạnh lớn lao, mặc dầu ông không có binh tướng trong tay. Về thực chất, Nguyễn Đình Chiểu là linh hồn của phong trào giải phóng, là người cổ vũ phong trào đó. Và văn thơ của ông đã tìm được con đường đi thẳng vào trái tim của nhân dân” (Viện Văn học, 1973, tr.391).


Nguyễn Đình Chiểu – Tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật (Viện Văn học phát hành).

Là chuyên gia về văn học, dĩ nhiên Nikulin quan tâm hơn cả đến những giá trị văn học – nghệ thuật trong di sản của Nguyễn Đình Chiểu, mà trước hết là truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên, “tác phẩm lớn đầu tiên của Việt Nam được dịch ở châu Âu” từ năm 1864 (tr.391). Theo Nikulin, đây là một nghịch lý của lịch sử, rằng việc lựa chọn một tác phẩm văn học kinh điển của Việt Nam để dịch sang tiếng Pháp (cũng như được in đi in lại với các bản dịch hay phiên âm khác nhau), phục vụ cho ý đồ tô điểm chính sách khai hóa của thực dân, lại rơi đúng vào tác phẩm của nhà thơ tiên phong trong phong trào chống thực dân, trong khi những tác phẩm khác có nội dung ái quốc của nhà thơ lại bị chính quyền thực dân truy quét, cấm đoán. Điều này đã phương hại đến việc bảo tồn di sản văn học của Nguyễn Đình Chiểu (tr.392).

Trong bài viết Nhà thơ thân yêu của miền Nam Việt Nam, cũng như trong các công trình khác bàn về lịch sử văn học Việt Nam như Văn học Việt Nam sơ thảo, Văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại (thế kỷ X – XIX), hay trong phần viết về Nguyễn Đình Chiểu trong bộ Lịch sử văn học thế giới (tập 7, 1991, tr.651-652), khi đặt Nguyễn Đình Chiểu cũng như thể loại truyện thơ Nôm ở nửa sau thế kỷ XIX vào giai đoạn chuyển giao từ cổ điển sang hiện đại, Nikulin xem Lục Vân Tiên là tác phẩm vừa kế thừa truyền thống truyện thơ cổ điển, vừa thể hiện sự phá vỡ chuẩn mực bằng việc đưa vào những yếu tố tự truyện. Lục Vân Tiên mang nhiều yếu tố tiểu sử của nhà thơ (bị mù khi chịu tang mẹ, bị gia đình người vị hôn thê khước từ), và hơn thế nữa, “hình tượng Lục Vân Tiên còn là nơi tập trung những nguyện vọng chủ quan của nhà thơ”, “thể hiện những quan điểm và chính kiến của tác giả mà Đồ Chiểu suốt đời đã trung thành” (Viện Văn học, 1973, tr.393). “Việc đưa những sự kiện có thật trong cuộc đời nhà thơ vào thiên trường ca nói lên rằng nhà thơ đã coi những sự kiện đó là đáng kể, đáng chú ý tới” (Nikulin, 2007, tr.677). Tuy nhiên, Lục Vân Tiên không phải “cái tôi thứ hai” của tác giả mà là hình tượng nghệ thuật do trí tưởng tượng của nhà thơ dựng lên. “Đó là một vị văn nhân uyên bác, một nhà thơ, đổng thời là một trang tráng sĩ đã cứu nàng Kiều Nguyệt Nga xinh đẹp khỏi tay bọn lục lâm” (Viện Văn học, 1973, tr.393). Nikulin đặc biệt chú ý đến ý nghĩa của tình tiết Lục Vân Tiên đột ngột bị mù. Nó tác động cả đối với bản thân chàng lẫn những người xung quanh. Đó là biểu hiện thi pháp truyện dân gian, và cả những truyện thơ Nôm cổ điển như Truyện Kiều, thực hiện chức năng thử thách đạo đức của các nhân vật. Việc Lục Vân Tiên sáng mắt cũng vậy, “có thể hiểu điều đó theo nghĩa bóng vì bây giờ chàng đã hiểu thấu những cái mà trước kia được giấu kín trong lòng người”. Cái kết có hậu (Lục Vân Tiên lập công đánh tan giặc ngoại xâm, kết hôn với Kiều Nguyệt Nga) là theo mô hình truyền thống, điều khiến cho người dịch đầu tiên Lục Vân Tiên sang tiếng Pháp là Gabriel Aubaret nhầm lẫn đó là một truyện dân gian (*). Việc sử dụng ngôn ngữ bình dân, thông tục gần gũi với phương ngữ Nam bộ, hay việc đưa bức tranh sinh hoạt thường nhật với những yếu tố trào phúng, châm biếm (như chi tiết thầy pháp chữa bệnh cho Lục Vân Tiên) vào tác phẩm theo Nikulin cũng là dấu hiệu tiệm cận quá trình hiện đại hóa. Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, theo Nikulin, là “sự kết thúc chặng đường lịch sử của trường ca tự sự” (Nikulin, 2007, tr.677).

*
Có thể nói, những trang viết của Nikulin về Nguyễn Đình Chiểu và thơ văn của ông không nhiều trong tương quan với những công trình về Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Hồ Chí Minh và các tác gia hiện đại Việt Nam, hay những công trình nghiên cứu về văn hóa dân gian và văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (Mường, Bana, Êđê…) của nhà Việt Nam học này. Tuy nhiên, với những gì mà chúng tôi có được trong tư liệu về Nguyễn Đình Chiểu của Nikulin, có thể thấy sự quan tâm sâu sắc, niềm yêu mến và cảm phục mà ông đã dành cho nhà thơ của Việt Nam như một con người tài năng và bản lĩnh, một nhân cách lớn. Những quan điểm của Nikulin đối với cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu có thể phần nào đem lại cho chúng ta những gợi ý cho nghiên cứu lịch sử và lý thuyết văn học cổ điển Việt Nam. Ngoài ra, là một dịch giả văn học Việt Nam, tuy không công bố ấn phẩm dịch thơ văn Nguyễn Đình Chiểu sang tiếng Nga, nhưng trong các bài viết về nhà thơ, Nikulin đã trích dịch nhiều câu thơ, chủ yếu là từ Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc… truyền đến cho người đọc Nga vẻ đẹp của nội dung và hình thức nghệ thuật thơ văn Nguyễn Đình Chiểu. Ông đặc biệt yêu thích hai câu thơ nổi tiếng:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

bởi sự độc đáo của nghệ thuật thơ ca cả trên phương diện hình thức lẫn nội dung, và luôn dẫn chúng như những tuyên ngôn nghệ thuật của nhà thơ Việt Nam Nguyễn Đình Chiểu trong các bài viết của mình.

Trần Thị Phương Phương
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 32-33

Nguồn: http://tuanbaovannghetphcm.vn/nha-viet-nam-hoc-nguoi-nga-n-i-nikulin-viet-ve-nha-tho-nguyen-dinh-chieu-tap-chi-32-33/

—————
(*) Trên trang Gallica của Thư viện Quốc gia Pháp có bản dịch này, in ở Paris năm 1864, ở trang bìa có ghi thông tin về dịch giả Gabriel Aubaret khi đó đang làm lãnh sự tại Bangkok, Thái Lan. Xem: https://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5844254h.texteImage.

Tài liệu tham khảo:
Nikulin N. I. (1971), Văn học Việt Nam sơ thảo [Вьетнамская литература. Краткий очерк], Nxb. Nauka, Moskva.
Nikulin N.I. (1972), “Nhà thơ thân yêu của miền Nam Việt Nam” [“Любимый поэт вьетнамского Юга»], Tạp chí Văn học nước ngoài, Moskva.
Nikulin N.I. (1977), Văn học Việt Nam từ trung đại đến hiện đại. Thế kỷ X – XIX [Вьетнамская литература. От средних веков к новому времени. X-XIX вв], Nxb. Nauka, Moskva.
Nikulin N. I. (2007), Lịch sử văn học Việt Nam. Nhiều người dịch. Nxb. Văn học và Trung tâm Nghiên cứu quốc học, TP. Hồ
Chí Minh.
Viện Văn học (1973), Nguyễn Đình Chiểu – Tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
Viện Văn học thế giới mang tên M.A. Gorky (1991), Lịch sử văn học thế giới gồm 9 tập [История всемирной литературы: В 8 томах], tập 7, Nxb. Nauka, Moskva.

 

Sức sống của truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) không chỉ được nhìn nhận và định lượng bằng khả năng ảnh hưởng và lan truyền trong cộng đồng, nhất là cộng đồng Nam bộ, suốt một thời kỳ dài; bằng những giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật đã được khẳng định mà còn bởi năng lực tiếp tục sự sống, tiếp tục chuyển biến theo thời cuộc. Nghĩa là, khi độc giả thế hệ sau lần giở những câu thơ được sinh ra cách đây gần hai thế kỷ vẫn có thể ngẫm nghiệm ra những vấn đề mới mẻ, gắn liền với thời đại mình và có ý nghĩa cho đời sống trong hiện tại cũng như trong tương lai, có thể đặt tác phẩm dưới những góc nhìn mới, những lý thuyết và quan niệm mới để phân tích, lý giải.

Đó mới thực sự là sức sống được nối dài bằng khả năng vĩnh cửu hóa của văn chương. Tác phẩm cho thấy chân dung của một thời đại nhưng lại có thể chạm đến những vấn đề của mọi thời đại, tái hiện những con người cụ thể nhưng lại khơi gợi những suy tư về nhân loại một cách khái quát. Nhà văn sống đắm đuối trong lòng thời đại mình nhưng không bị thời đại đóng khung mà có thể tự do vượt thoát lên, hướng đến những câu chuyện của muôn đời. Vấn đề giới tính và những khả thể của đối thoại giới tính trong Lục Vân Tiên là một trong những cánh cửa mở rộng đi xuyên qua các thời đại như vậy. Đọc lại những câu thơ, quan sát các nhân vật biểu đạt quan niệm và những cách thức ứng xử giới tính, độc giả sẽ thấy được sự đa dạng, sinh động của đời sống giới được phản ánh và tái hiện trong văn chương. Lối tiếp cận này có thể khiến chúng ta nghĩ khác đi, cảm khác đi về nhân vật, đối thoại với những diễn ngôn phê bình, hay rộng hơn, diễn ngôn tiếp nhận trước đây.

“Vọng cổ Bạc Liêu: Nguyệt Nga – Bùi Kiệm vấn đáp”,
tác giả: Nguyễn Thành Long, Cần Thơ, Phạm Văn Cường (Chợ Lớn) xuất bản, in lần thứ nhất, 1933.

Thêm Vào Trái Tim Của Kiều Nguyệt Nga: Sự Chủ Động “Duy Tình” Và Si Tình

Diễn ngôn giới tính trong Lục Vân Tiên phổ biến, được cộng đồng tiếp nhận nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Khoan khoan ngồi đó chớ ra / Nàng là phận gái, ta là phận trai” là một trong những điển phạm giới tính đại diện cho tư tưởng và nề nếp Nho giáo. Sự phân định ranh giới, không gian tiếp xúc giữa “khuê môn phận gái” và “đấng anh hùng” đến việc xác định và biểu hiện thái độ, hành động, cách ứng xử về phương diện giới tính của Lục Vân Tiên đều in đậm quan niệm truyền thống của Nho gia: “Nam nữ thọ thọ bất tương thân”. Trong khi đó, đọc lại những lời thoại của Kiều Nguyệt Nga, chúng ta thấy người con gái này vừa đứng trên những diễn ngôn mang tâm thức cộng đồng, nhưng đồng thời, lại nhuốm đầy màu sắc “duy tình”, si tình của con người cá nhân. Trong mối quan hệ giữa Vân Tiên và Nguyệt Nga, gần như đối nghịch với diễn ngôn mang tính ẩn dụ của dân gian: “trâu đi tìm cọc chứ cọc nào tìm trâu” vốn phân định thế chủ động của nam giới và bị động của nữ giới, Nguyệt Nga lại là người giữ thế chủ động, là “cái cọc” đi tìm “trâu”, như tâm thế của Thúy Kiều khi băng vườn đi tìm Kim Trọng. Trạng thái và sự lựa chọn hành động của Nguyệt Nga thực ra không chỉ bị chi phối bởi tư tưởng đạo đức nhân nghĩa (hàm ơn người đã cứu mình), quan niệm về trinh tiết (tiết liệt đoan trinh, một mực chung thủy với tình lang) mà còn vì sự lựa chọn tự do của một cá nhân, của một người nữ biết yêu, hơn nữa, yêu đắm đuối, yêu si mê. Chính vì lẽ đó, Kiều Nguyệt Nga thực ra lại hiện lên sinh động, mang gam màu cá nhân khá đậm, vừa có yếu tố của loại hình nhân vật tư tưởng, nhưng lại vừa có sức hấp dẫn, lôi cuốn với tính cá thể của loại hình nhân vật cá tính.

Đi vào cụ thể, lúc được Vân Tiên ứng cứu khỏi tay lũ hung đồ, Nguyệt Nga chủ động gọi chàng là “tri âm” với nghĩa “đá vàng”, chủ động xin gá nghĩa trăm năm cùng Vân Tiên và tặng cây trâm để làm tin. Khi thấy Vân Tiên “lòng chê”, “ngơ mặt chẳng nhìn”, nàng biểu lộ thái độ bộc trực, thẳng thắn, giãi bày trực tiếp nỗi lòng của mình với tính cách đặc trưng của người Nam bộ: “Vật chi một chút gọi là / Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ / Của này là của vất vơ / Lòng chê cũng phải, mặt ngơ sao đành”. Khi Vân Tiên một mực chối từ, nàng vẫn tiếp chủ động bày tỏ và trao dâng tình cảm: “Riêng than: Trâm hỡi là trâm, / Vô duyên chi bấy ai cầm mà mơ? Đưa trâm chàng đã làm ngơ / Thiếp xin đưa lại bài thơ giã từ”. Cùng với hành động làm thơ của Nguyệt Nga, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc họa, tham gia vào việc kiến tạo mô thức hình tượng người nữ tài sắc vẹn toàn giai đoạn hậu kỳ trung đại, nhấn mạnh sự tài trí, thông minh của nữ giới, cộng hưởng với cái nhìn của Nguyễn Du và các nhà Nho tài tử về phụ nữ. Tài năng của Nguyệt Nga được khẳng định thông qua cái nhìn của Vân Tiên: “Vân Tiên xem thấy ngạt ngào / Ai dè sức gái tài cao bực này (…) Thơ ngâm dũ xuất dũ kỳ, / Cho hay tài gái kém gì tài trai” (trang 101). Cái nhìn này là một trong những chuyển động đáng chú ý trong quan niệm về giới ở Việt Nam. Bên cạnh chuẩn mực về nhan sắc, phụ nữ đã dần được đề cao, được công nhận về mặt tài năng, trí tuệ, sánh ngang với nam giới – mặc dù chỉ mới dừng lại ở vài hiện tượng nổi bật chứ chưa phải là sự phổ quát. Thế nhưng, có thể thấy, đây là những tiền đề nội tại để đến đầu thế kỷ XX, trong công cuộc tiếp xúc với tư tưởng nữ quyền phương Tây, quan niệm tân tiến, mới mẻ, mang tính cách mạng về giới phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam, nhất là khu vực Nam bộ.

Sự chủ động của Nguyệt Nga trong mối duyên tình càng được tô đậm bằng những lời độc thoại và đối thoại với cha mình. Ở đây, chúng ta thấy một người nữ giãi bày, một người nữ biểu lộ. Tiếng nói nữ trong Lục Vân Tiên là một hiện tượng rất đáng chú ý. Nguyễn Đình Chiểu, cũng như Nguyễn Du, không khắc họa nhân vật người nữ với cái nhìn bên ngoài tuyệt đối mà tái hiện nhân vật bằng cái nhìn bên trong, để cho nhân vật tự nói, tự thể hiện thế giới bên trong với tư thế chủ thể. Những lời tâm tình của Kiều Nguyệt Nga cho thấy tình cảm nàng dành cho Vân Tiên không chỉ có ơn nghĩa, mà còn nặng yêu đương. Chữ “tình” xuất hiện lặp đi lặp lại, nhấn mạnh xúc cảm yêu đương, nỗi tương tư mang tính cá nhân của Nguyệt Nga. Từ trước đến nay, người tiếp nhận thường phân tích sự chung thủy của Nguyệt Nga là do tấm lòng tri ân của nàng với người đã cứu mình giữa đàng. Thế nhưng, khi đọc lại văn bản tác phẩm, chúng ta có thể thấy, bên cạnh cảm giác về ơn nghĩa nảy sinh từ quy chuẩn đạo đức trong tâm thức cộng đồng, xúc cảm lứa đôi của Nguyệt Nga là một xúc cảm rất tự nhiên, rất con người. Chính xúc cảm này đã nuôi nấng sự sống của nhân vật Nguyệt Nga trong lòng công chúng độc giả, gieo mối rung cảm, khiến nàng không hiện ra như một hình mẫu xơ cứng của quan niệm nhân nghĩa mà bằng hình hài, tâm hồn của người con gái khi yêu. Nàng cũng tự ý thức về chính xúc cảm của mình trong hai trạng thái: “nỗi ân” và “nỗi tình”.

“Vân Tiên từ giã phản hồi
Nguyệt Nga than thở: Tình ôi là tình!
Nghĩ mình mà ngán cho mình,
Nỗi ân chưa trả, nỗi tình lại vương.

(…)

Chữ tình càng tưởng càng thâm
Muốn pha khó lợt, muốn dầm khôn phai”.

Sự thôi thúc của tình yêu, nỗi tương tư đắm đuối đã khiến Nguyệt Nga họa bức tượng Vân Tiên và vác bức tượng người tình đi dọc dặm đường lưu lạc của mình. Đây là một hình tượng đẹp đẽ, độc đáo và thú vị, tạo nên điểm nhấn trong cách thức biểu lộ tình yêu của nữ giới. Thông thường, theo lễ giáo phong kiến mang đậm tư tưởng Nho giáo, người nữ phải giữ mình trong sự kín đáo, thầm lặng. Thế nhưng, Nguyệt Nga họa tượng Vân Tiên, biểu lộ rõ tình yêu của mình với thế giới bên ngoài. Nàng công khai khẳng định Vân Tiên là chồng mình, xem bức tượng như hình hài thế thân cho Vân Tiên sau khi nghe tin chàng gặp nạn qua đời và nguyện “thân con còn đứng giữa trời, / Xin thờ bức tượng trọn đời thời thôi”. Nguyệt Nga chủ động đến nhà Lục ông, làm lễ cúng Vân Tiên, chủ động lựa chọn cái chết để giữ trọn khí tiết và tấm lòng chung thủy với tình lang. Khác với nàng Chimène trong vở kịch Le Cid nổi tiếng của Pierre Corneille hành động theo lí trí, lựa chọn hành động theo phận vị và hi sinh tình yêu thì Nguyệt Nga dù ý thức rõ rệt phận vị của mình với quốc gia, triều đình (“tình phu phụ nghĩa quần thần”) nhưng nàng vẫn lựa chọn cách thế sống theo cảm xúc, ôm tượng Vân Tiên mà trẫm mình xuống sông. Hành động của nàng không chỉ thuần túy nảy sinh trên nhận thức đạo đức về lòng chung thủy, mà phần lớn là vì chữ tình, vì thế giới xúc cảm tràn đầy, đắm đuối mà nàng đã trao cho Vân Tiên. Nội tâm có nhu cầu bộc phát ra ngoại giới. Đoạn thơ dài bộc lộ nỗi đau đớn, tiếc thương giằng xé tâm can của Nguyệt Nga khi nghe Vân Tiên qua đời không có một câu thơ nào nhắc đến ơn nghĩa, mà chỉ tràn đầy tình yêu. Chữ “thương” lặp đi lặp lại, đẩy xúc cảm yêu đương và đau khổ của nàng lên đến cao trào (“Thương người quân tử biết đời nào phai?”; “Thương vì đôi lứa chưa thành / Vùa hương bát nước ai dành ngày sau”). Chọn thờ bức tượng, yêu người cõi âm, Nguyệt Nga gần như chỉ sống bằng nỗi si tình mê đắm. Lúc lao mình xuống sông tự vẫn, nàng cũng chỉ nghĩ đến Vân Tiên và nguyện “trăm năm xin gửi chút tình lại đây”. “Thương” và “Tình” là thế giới của Nguyệt Nga.

Từ đó, “đa tình”, “tài tình hào hoa” là một nét đặc trưng nổi trội trong nhân vật Nguyệt Nga vốn ít được người tiếp nhận chú ý, làm nên sự đầy đặn của nhân vật, khiến cho người con gái này trở nên sinh động, chứa đựng nhiều màu sắc, nhiều xúc cảm đan xen chứ không phải là một cái bóng “lép kẹp” mang tính minh họa cho ý niệm trinh tiết và lòng chung thủy của văn hóa Nho giáo. Như vậy, những lời đối thoại của Nguyệt Nga với Vân Tiên, với Kiều công và Bùi Kiệm cũng như lời độc thoại với chính mình mang lại cái nhìn sâu hơn, toàn vẹn hơn về xúc cảm giới tính của Nguyệt Nga, khiến nàng thực sự là một chủ thể trong thế giới tình: chủ thể giãi bày, chủ thể tự nhận thức và chủ thể tự do lựa chọn phương cách ứng xử giới tính theo xu hướng của kẻ “duy tình”, si tình.

Lục Vân Tiên (bản của nxb Tân Việt)

Võ Thể Loan Và Bùi Kiệm: Những Kẻ Phản Diện Hay Là Những Người Tiên Phong khai Phóng Về Giới?

Nếu như, với Kiều Nguyệt Nga, chúng ta có thể bổ sung để làm đầy đặn thế giới bên trong của nàng trên phương diện giới thì với Võ Thể Loan và Bùi Kiệm, độc giả ngày nay có thể xoay chuyển cái nhìn tiếp nhận có tính diễn ngôn truyền thống thành cái nhìn tự do, dân chủ hiện đại. Cuộc đối thoại giữa Võ công, Võ Thể Loan với Vương Tử Trực cũng như cuộc đối thoại của Bùi Kiệm với Kiều Nguyệt Nga gợi ra nhiều suy ngẫm về vấn đề giới tính, đặc biệt là quan niệm về giới trên những phông nền thời đại nhất định. Thái độ của Vương Tử Trực là biểu hiện của tinh thần trung nghĩa dựa vào nền tảng đạo đức truyền thống, một mực giữ trọn vẹn ân tình với người đã khuất. Trong khi đó, phản ứng của cha con Võ Thể Loan có thể được nhìn nhận theo nhiều chiều hướng khác nhau: trong khuôn khổ của đạo đức truyền thống, động thái vội vàng bộc lộ niềm mong muốn xe duyên Thể Loan với Tử Trực là sự bội ước; còn trong cái nhìn có tính khai phóng về giới, đó lại là một khát khao, một mưu cầu hạnh phúc lứa đôi trong tình thế cụ thể của thực tại. Võ công “dứt tình họ Lục mến tình họ Vương” vì “tủi duyên con trẻ sắt cầm dở dang”, vì thương con gái và lo toan cho hạnh phúc của gia đình mình còn Võ Thể Loan vì thương thân mình, vì một mưu cầu cho sự sống cá nhân. Động thái của Võ ông, về thực chất, cũng chẳng khác gì nỗi băn khoăn đau đớn mà Kiều công hỏi Nguyệt Nga khi nghe con gái mình nguyện cả đời thờ Vân Tiên, thờ một bóng ma: “Con đành giữ tiết trọn đời hay sao?”. Có thể, quyết định gả con cho giặc Ô qua của Kiều ông không chỉ xuất phát từ lòng trung quân ái quốc, mà còn đan xen một niềm riêng thầm kín gắn với tình phụ tử, để Nguyệt Nga không sống cuộc đời cô lẻ. Hai người cha có cùng một tâm trạng, một cách thế lựa chọn. Thế nhưng, cách ứng xử vì cái tôi cá nhân của cha con Võ Thể Loan, trong bối cảnh hậu kỳ trung đại, chưa được chấp nhận và thậm chí, còn bị lên án. Còn trong bối cảnh hiện đại, đây là vấn đề khiến chúng ta suy ngẫm về giá trị của con người cá nhân. Vương Tử Trực lấy tha nhân làm tâm điểm giá trị còn cha con Võ Thể Loan lấy cái tôi cá thể của mình làm trung tâm. Trong khi Võ công hổ thẹn, im lặng trước lời trách mắng của Tử Trực thì Thể Loan lại cất tiếng nói đầy tính phản biện:

“Thiếp đà chẳng trọn lời thề,
Lỡ bề sửa trắp, lỡ bề nưng khăn.
Tiếc thay dạ thỏ nằng nằng,
Đêm thu chờ đợi bóng trăng bấy chầy.
Chẳng ưng thời cũng làm khuây,
Nỡ buông lời nói chẳng vì, chẳng kiêng”

So với thông niệm về giới đương thời, suy nghĩ và ý hướng của Thể Loan có phần táo bạo, phá cách và lệch chuẩn. Nàng tự nhận thức được hoàn cảnh lỡ làng của mình và không chấp nhận cách thức ứng xử theo khuôn phép thông thường. Điều khiến Thể Loan day dứt, băn khoăn chính là nỗi tiếc nuối vì những ngày tháng chờ đợi vò võ, đằng đẵng. Nghĩa là nàng biết tiếc nuối tuổi xuân, tiếc nuối thời con gái, tiếc nuối chính sự hiện hữu trong thực tại của mình. Tinh thần ấy, nỗi tiếc ấy của Thể Loan, xét đến cùng, là một tinh thần nhân văn, nhân bản, là một phát hiện về giá trị hiện tồn của người nữ nói riêng, của con người nói chung. Nỗi niềm đó của nàng cũng như nỗi niềm của người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm khúc (Đặng Trần Côn, do Đoàn Thị Điểm diễn Nôm), trăn trở, giày vò vì sự vong bản của chính mình trong cảnh đợi chờ.

Lựa chọn của Thể Loan là lựa chọn phản kháng lại khuôn khổ lễ giáo ràng buộc người nữ vào thế bị động, chịu đựng, đè nén những khao khát hạnh phúc cá nhân. Nàng sẵn sàng đối thoại và chấp nhận những quan niệm, những cách hành xử khác nhau về vấn đề này. Vì vậy, khi nghe Tử Trực viện dẫn một loạt điển tích, điển cố như những diễn ngôn kinh điển về người phụ nữ bội bạc, Thể Loan đã trách móc rằng chàng có thể không đồng tình và từ chối, nhưng đừng phê phán, lên án cha con mình. Thái độ ấy, phải chăng, không chỉ đơn thuần là sự biện bạch cho tội lỗi cá nhân, mà là tinh thần biết lắng nghe và chấp nhận sự khác biệt, chấp nhận cái nhìn đa quan điểm, đa thanh sắc trong xã hội. Cùng với tiếng nói bộc bạch của Nguyệt Nga, tiếng nói của Võ Thể Loan tô đậm âm thanh của người nữ, sự cất tiếng của người nữ trong Lục Vân Tiên.

Cùng với Võ Thể Loan, những lời đối thoại của Bùi Kiệm với Kiều Nguyệt Nga tiếp tục khơi gợi những ý niệm về sự giải phóng con người thoát khỏi những ràng buộc trong quan niệm về giới một cách thú vị, vừa cận nhân tình, vừa thấm đẫm triết lý hiện sinh dù thuở ấy, tư tưởng hiện sinh chưa xuất hiện ở Việt Nam. Trong khi Nguyệt Nga một mực khẳng định quan niệm về trinh tiết và lòng chung thủy truyền thống thì Bùi Kiệm bộc lộ sự phủ định với tinh thần phản biện quả quyết, mạnh mẽ.

“Kiệm rằng: Nàng nói sai rồi
Ai từng bán đắt mà ngồi chợ trưa,
Làm người trong cõi gió mưa,
Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào
Chúa xuân còn ở vườn đào,
Ong qua bướm lại biết bao nhiêu lần
Chúa đông ra khỏi vườn xuân,
Hoa tàn nhụy rữa như rừng bỏ hoang”

Cảm quan của Bùi Kiệm gặp gỡ với cái nhìn lên án quyền thống trị và sở hữu thân thể người nữ một cách tuyệt đối của chế độ nam trị trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều. Họ có thể được lựa chọn hoặc bị phó mặc, được ân sủng hoặc bị ruồng rẫy và hoàn toàn lệ thuộc vào ý muốn bất khả đoán định của nam giới. Phân tích tình trạng bị đối đãi một cách nghiệt ngã của phụ nữ, Bùi Kiệm cho thấy sự bất bình đẳng giới trong quan niệm của cộng đồng và thôi thúc Nguyệt Nga vượt qua cái nhìn đòi hỏi sự trung thành, chung thủy, kiên trinh của nữ giới nhưng lại dung túng và cung cấp cho nam giới cái quyền được “năm thê bảy thiếp”. Những hình ảnh ẩn dụ quen thuộc “chúa xuân, chúa đông”, “ong qua bướm lại”, “hoa tàn nhụy rữa” nhấn mạnh sự bất công và trạng thái đối lập giữa hai giới.

 

Điểm thú vị trong cái nhìn của Bùi Kiệm là ý thức về thực tại, về thời khắc hiện hữu trong hiện tại của con người. Hai câu thơ: “Làm người trong cõi gió mưa / Bảy mươi mấy mặt người xưa thấy nào” vừa phác họa lên tình thế “làm người” giữa cuộc đời nhiều bất trắc, vừa nhấn mạnh trạng thái vô thường, ngắn ngủi, dễ phai nhạt của kiếp người. Chính từ xuất phát điểm này, các nhà hiện sinh chủ nghĩa đã thúc đẩy tinh thần dấn thân, ý thức và hành động nhập thế, tận hưởng đời sống trong phút giây hiện tại. Tâm điểm thứ nhất trong lập luận phản biện Kiều Nguyệt Nga của Bùi Kiệm chính là sự hoang phí và chôn vùi thanh xuân của người nữ vì những tín điều ràng buộc bởi lẽ thời gian đời người chỉ dịch chuyển theo con đường một chiều và vô cùng hữu hạn:

“Ba xuân mòn hết ngàn vàng khôn mua
Hay chi như vãi ở chùa,
Một căn cửa khép bốn mùa lạnh tanh.
Linh đinh một chiếc thuyền tình,
Mười hai bến nước biết mình vào đâu?”

Bùi Kiệm không chấp nhận trạng thái “ngồi không”, “giữ ôm bức tượng trước sau thiệt mình”, khước từ những niềm lạc thú bình thường của nhân gian và ví tình trạng của Nguyệt Nga như “vãi ở chùa”. Đó là phản ứng phủ định xu hướng bị động, xuất thế để hướng đến cái động, đến sự nhập thế. Một loạt hình ảnh ẩn dụ được nhân vật gợi ra để nói lên tính phi lý, vô nghĩa của hành động trung trinh, thu mình vào sự cô độc, thiếu hụt mà người phụ nữ tự đẩy mình vào trong cảnh lẻ loi, đơn chiếc:

“Ai từng mặc áo không bâu
Ăn cơm không đũa, ăn trầu không cau”

Cái nhìn giải kiến tạo của Bùi Kiệm đã lý giải hình tượng người phụ nữ đa tình theo cách thức phi truyền thống. Những chuẩn mực đạo đức giới tính thông thường bị vượt qua, bị xóa bỏ còn các biểu hiện lệch chuẩn thì thành cái có giá trị chứ không còn là cái bị phủ định, phê phán, gạt bỏ ra vùng ngoại vi của xã hội. Nhân vật không nhìn nhận giá trị mẫu mực, đẹp đẽ hình ảnh vọng phu trong truyền thống, mà thậm chí, còn phản biện lại biểu tượng này bởi sự chờ đợi mỏi mòn trong tuyệt vọng đó đã “phi nhân hóa” hiện tồn của người nữ, làm phôi pha và hủy hoại sự sống đích thực của nữ giới: “Làm chi thiệt phận hồng nhan/ Năm canh gối phụng màn loan lạnh lùng/ Vọng phu xưa cũng trông chồng/ Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha”. Như một đối trọng, những nhân vật nữ như Hồ Dương, Hạ Cơ, Lữ hậu, Võ Tắc Thiên vốn bị lên án trong lịch sử vì niềm khát khao tính dục lại hiện lên như những hình ảnh đại diện cho tinh thần nhân bản, khẳng định giá trị của sự lựa chọn sống vì ý muốn của bản thể, sống tận hưởng hạnh phúc đời người:

“Hồ Dương xưa mới góa chồng,
Còn mơ nhan sắc Tống công cũng vừa.
Hạ Cơ lớn nhỏ đều ưa,
Sớm đưa Doãn Phủ, tối ngừa Trần quân.
Hớn xưa Lữ hậu thanh xuân
Còn vừa Cao tổ mấy đành Dị Ky
Đường xưa Võ hậu thiệt gì,
Di Tôn khi trẻ, Tam Tư lúc già,
Cứ trong sách vở nói ra
Một đời sung sướng cũng qua một đời”

Với quan niệm ấy, Bùi Kiệm thể hiện tâm điểm thứ hai trong lập luận của mình: sự đồng tình cùng tinh thần “nổi loạn” của dân gian, phản ứng chống lại giá trị chuẩn mực, trung tâm và lập nên thế cân bằng cho những hiện tồn bị phủ định, bị xóa bỏ, phê phán. Câu ca dao “Lẳng lơ chết cũng ra ma/ chính chuyên chết cũng khiêng ra ngoài đồng” vốn mang đậm tinh thần khai phóng giới tính trong cái nhìn mạnh mẽ, phóng khoáng, vượt thoát những định kiến có tính giáo điều và ràng buộc của lễ giáo phong kiến, cho thấy tinh thần hiện sinh hồn nhiên của nhân dân được tái hiện trọn vẹn trong lời thoại của Bùi Kiệm:

“Ai ai cũng ở trong trời,
Chính chuyên trắc nết chết thời cũng ma
Người ta chẳng lấy người ta
Người ta đâu lấy những là tượng nhân”

Hai từ “người ta” lặp lại khẳng định giá trị của hiện tồn, của sinh thể sống động, của giá trị “làm người” và đối lập với hình ảnh “tượng nhân”, một vật thể, một sự trừu tượng xơ cứng, không có sự sống. Trong cái nhìn truyền thống, bức tượng mà Nguyệt Nga vác trên vai là một biểu tượng cho tình yêu, lòng chung thủy, sự kiên trinh nhưng trong cái nhìn khai phóng mang tính hiện sinh, bức tượng ấy là hóa thân trĩu nặng của những ý niệm đạo đức, lễ giáo ràng buộc, đè nén con người. Đó chỉ là thế giới ảo của các phạm trù, nguyên tắc do con người đặt định và tuân thủ theo tâm thức cộng đồng, để rồi, đánh mất sự hiện hữu và những giá trị cá nhân. Đề cao hiện tồn trong không gian, trong thời gian của thực tại, trong chính hiện hữu của từng cá thể, Bùi Kiệm và Bùi ông đều thôi thúc tinh thần hành động dấn thân, tận hưởng trần thế:

“Tới đây duyên đã bén duyên,
Trăng thanh gió mát cắm thuyền đợi ai?
Nhớ câu xuân bất tái lai,
Ngày nay hoa nở e mai hoa tàn”

Những từ “tới đây”, “ngày nay” đều khẳng định tính hiện tại của không gian và thời gian. Theo đó, sự tương tác, gặp gỡ giữa con người và con người đều do “duyên”. Đây là một khái niệm mang đậm văn hóa phương Đông, lý giải mối liên hệ giữa con người với nhau và với vạn vật, vạn sự kiện xảy ra một cách ngẫu nhiên theo một nguyên lý bí ẩn nhưng tất yếu của vũ trụ. Võ công cũng khuyên Tử Trực: “Tới đây thời ở lại đây/ Cùng con gái lão sum vầy thất gia”. Ba yếu tố thời gian, không gian, con người tương hợp, tại thành chỉnh thể của cái đang xảy ra, cái hiện thời. Ý hướng tính vươn đến sự hành động của con người trong bối cảnh của cái đang xảy ra trong lời thoại của Bùi Kiệm và Bùi ông gần như tương đồng với xung năng và triết lý hoạt động, cộng hưởng với các yếu tố đời sống trong câu ca dao:

“Ra đi gặp vịt thì lùa
Gặp duyên thì kết, gặp chùa thì tu”

Như vậy, với cái nhìn thoát khỏi những diễn ngôn đạo đức về giới, độc giả ngày nay có thể thấy Võ Thể Loan và Bùi Kiệm, Bùi ông không phải là nhân vật phản diện như những diễn ngôn tiếp nhận, diễn ngôn phê bình từ trước đến nay vẫn khẳng định. Họ là những nhân vật tìm kiếm hạnh phúc và phát ngôn để biểu lộ niềm mong cầu hạnh phúc của mình. Võ Thể Loan có thể hơi vội vàng, Bùi Kiệm có thể có thói xấu thường tình của những chàng trai trẻ (hay ganh ghét bạn đồng lứa), nhưng các nhân vật này không gây hại đến nhân vật chính diện để trở thành nhân vật phản diện theo cấu trúc phân chia nhân vật dựa vào tuyến tư tưởng có tính nhị phân. Thể Loan, Bùi Kiệm và Bùi ông là những nhân vật đi ngược, đi theo lối khác so với trục quan niệm chính thống, trung tâm về giới tính, về quan hệ hôn nhân mang tính truyền thống của xã hội đương thời. Sự khác biệt đó không được cộng đồng chấp nhận, thậm chí bị lên án, phê phán và vì vậy, đẩy các nhân vật này qua tuyến đối lập với những chuẩn mực, những khuôn mẫu xã hội, quy kết vào sự bội bạc nhân nghĩa và u mê sắc dục.

Về phương diện trần thuật, nhân vật người kể chuyện trong Lục Vân Tiên đã để cho các nhân vật tự do đối thoại trong thời khắc xảy ra tình huống. Sự tương tác bằng diễn ngôn của các nhân vật đã thúc đẩy nhân vật đi đến cách thức phản ứng, hành động. Vì vậy, gần như xuyên suốt tác phẩm, nhân vật được xây dựng một cách tự nhiên theo mạch truyện và theo tính cách, ý muốn, động thái của nhân vật. Ở đoạn Võ công, Võ Thể Loan đối thoại với Tử Trực, người trần thuật đã để cho Tử Trực tạo ra diễn ngôn mang tính tác động mạnh mẽ theo quan niệm nhân nghĩa chính thống, khiến “Võ công hổ thẹn trong mình” rồi lâm bệnh nặng mà qua đời, còn mẹ con Võ Thể Loan thì “đóng cửa cư tang trong nhà”. Trong khi đó, ở đoạn Bùi Kiệm, Bùi ông đối thoại với Kiều Nguyệt Nga, người kể chuyện bỏ lửng, không bộc lộ cái nhìn có tính phán xét một cách trực tiếp mà thông qua cái nhìn của Nguyệt Nga.

Đến kết truyện, cái nhìn của người trần thuật thể hiện sự can thiệp, xâm lấn sâu sắc vào tư tưởng đạo lý chính yếu và bao trùm khắp tác phẩm. Mẹ con Võ Thể Loan vì mưu toan lừa dối, định đổ tội cho Võ ông mà bị trừng phạt. Bùi Kiệm thì xấu hổ với hành vi của mình, “ngồi chai bề mặt như sề thịt trâu” vì “máu dê”. Sự tự vấn lương tâm của Bùi Kiệm, Võ công, sự trừng phạt mẹ con Võ Thể Loan là sự thắng thế của chuẩn mực đạo đức truyền thống. Phần kết của tác phẩm tựa như một phiên tòa tự nhiên của đời sống, để cho các nhân vật gặp gỡ và giải quyết những mâu thuẫn, vướng mắc, tháo gỡ nút thắt còn bỏ lửng của đường dây cốt truyện. Sự trừng phạt do các yếu tố tự nhiên thực hiện, khẳng định đạo lý là thiên đạo, nhân nghĩa của con người là lẽ trời đất, là quy luật tự nhiên. Trao quyền trừng phạt cho tự nhiên, sự hành đạo cho trời đất, vũ trụ, truyện thơ Lục Vân Tiên thể hiện tư tưởng nhân nghĩa tuyệt đối, đồng thời, thêm một lần nữa nhấn mạnh hành vi ứng xử của các nhân vật phản diện/ bị xem là phản diện là hành vi trái với lẽ thường, trái với đạo lý của xã hội và của cả vũ trụ. Theo đó, diễn ngôn của chuẩn mực Nho giáo và đạo đức nhân nghĩa càng được đề cao, tô đậm và củng cố để khẳng định vị trí diễn ngôn trung tâm trong đời sống xã hội giai đoạn hậu kỳ trung đại.

Tuy nhiên, trở lại với những đối thoại về giới trong Lục Vân Tiên mà bài viết đã phân tích, sự hiện diện của những đoạn đối thoại đó đã là một điều thú vị. Thứ nhất, những tiếng nói đa thanh, đa chiều tái hiện sự đa dạng, khác biệt của con người trong xã hội, khiến cho những trang truyện thơ trở nên uyển chuyển, tự nhiên, sống động, mang tính hiện thực. Có lẽ, đây cũng là nguyên do khiến cho truyện thơ Nôm này có sức hút lớn với nhân dân. Thứ hai, tiếng nói biểu lộ xúc cảm riêng tư bên trong của Nguyệt Nga, tiếng nói đi ngược chuẩn tắc thông thường của Thể Loan, Bùi Kiệm là những dấu hiệu cho thấy sự hình thành dần rõ nét của ý thức cá nhân, con người cá nhân trong thời kỳ này, để rồi, đến đầu thế kỷ XX, bừng nở thành một hiện tượng rực rỡ tính nhân bản. Mặc dù ở phần kết truyện, tiếng nói của Thể Loan và Bùi Kiệm bị xoay chuyển theo khuôn mẫu đạo đức của cộng đồng, nhưng ít ra, sự hiện diện khá tự do và tự nhiên của những tiếng nói ấy đã biểu lộ thanh âm, xúc cảm và suy nghĩ của cá nhân.

Đây có thể là một hiện tượng đời sống lúc bấy giờ, khi sự va đập giữa văn hóa phương Đông và phương Tây bắt đầu diễn ra, những ý thức hệ mới được hình thành, trong đó có ý thức hệ về giới. Đồng thời, có thể, không gian văn hóa phóng khoáng, mang tính mở đặc biệt của vùng Nam bộ đã dự phần vào việc hình thành nên tính cách, tâm hồn và cách ứng xử tự nhiên, chân mộc và tự do của các nhân vật. Từ đó, những cuộc đối thoại xuất hiện như những dấu hiệu đến sớm của sự xung đột, nứt vỡ giữa khuynh hướng truyền thống và hiện đại diễn ra sau đó vài thập kỷ. Trong thời đại của Nguyễn Đình Chiểu, cái nhìn của xã hội còn khá đồng thuận trên nền tảng quan niệm đạo đức Nho giáo đã được kiến tạo xuyên suốt ngàn năm phong kiến, vài tiếng nói nghịch chiều lẻ loi của Võ Thể Loan, Bùi Kiệm, Bùi ông dễ dàng bị lấn át bởi âm vang đồng thanh của cộng đồng. Thế nhưng, sự xuất hiện của tiếng nói ấy đã là một điểm sáng thú vị trên văn bản Lục Vân Tiên, để trong thời đại ngày nay, với sự vận động trong quan điểm về giới, độc giả có thể phát hiện, chiêm nghiệm và kiến tạo lại cái nhìn tiếp nhận mới mẻ, khác biệt. Những nhân vật đã từng bị đóng khung trong định kiến sẽ có khả năng được tháo khung khi chúng ta gỡ đi những cái nhìn khép kín có tính mặc định trong tiếp nhận. Giá trị nối dài của một tác phẩm cũng là duyên may của thế giới văn chương và truyện thơ Nôm Lục Vân Tiên, sau gần hai thế kỷ, vẫn đầy sức sống, sức gợi mở cho độc giả đời sau tiếp tục nghĩ suy, tiếp tục rung cảm, vẫn tạo nên những gặp gỡ, những đối thoại cho không gian văn chương lẫn không gian đời sống.

Hồ Khánh Vân
Tạp Chí Văn Nghệ TP.HCM số 32-33

Nguồn: Tuần báo Văn nghệ TP.HCM, ngày 23.07.2022

 

Sách in ở tỉnh Chernigiv phía Bắc Thủ đô Kyiv. Thành phố Chernigiv tuy bị tàn phá hết, nhưng thị trấn nơi có xưởng in thì may mắn không bị bom đạn phá hủy.

20220718

Bản dịch Lục Vân Tiên ra tiếng Ukraina tái bản năm 2022. Ảnh: Lê Giang

Tuy nhiên đây không phải là lần xuất bản đầu tiên bản dịch Lục Vân Tiên tiếng Ukraina, mà chỉ là tái bản. Bản in đầu tiên là năm 1983, do Nhà xuất bản Văn học nghệ thuật “Dnepro”, Kiev xuất bản, nhân dịp kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Ukraina.

Rất nhiều người lầm tưởng tiếng Ukraina chỉ là phương ngữ của tiếng Nga, thực ra không phải, tiếng Ukraina là một trong ba ngôn ngữ của nhóm Đông Slav, cùng với tiếng Nga và tiếng Belarus. Nhóm miền Tây Slav có tiếng Séc, Slovakia, Ba Lan. Nhóm miền Nam có Bulgaria, Serbia, Croatia. Tiếng Ukraina có hơn 30 triệu người dùng và đã có nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng viết văn bằng ngôn ngữ ấy như: Taras Shevchenko, Lesia Ukrainka, Mikhaylo Kotsyubinsky…

Maya Kashel (1930 - 1987)

Maya Kashel (1930 - 1987)

Trong khi Lục Vân Tiên chưa được dịch ra tiếng Nga thì đã được dịch ra tiếng Ukraina. Người dịch là Maya Kashel, một dịch giả văn học (VH) Việt Nam rất nổi tiếng.

Maya Dmitrievna Kashel (Майя Дмитрівна Кашель, 1930-1987) là nhà văn Ukraina Xô viết, dịch giả VH Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Ukraina (từ 1972), hội viên Hội Nhà văn Liên Xô (từ 1973). Maya Kashel sinh ở Kiev, tốt nghiệp phổ thông năm 1947, sau đó không đi học tiếp được do bệnh tật. Năm 1954, bà tốt nghiệp khóa đào tạo 4 năm tiếng Anh. Năm 1966, bà tốt nghiệp trung học. Khi chiến tranh ở Việt Nam bắt đầu nổ ra, bà học tiếng Việt và VH Việt Nam. Sau đó, bà dịch một tập truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam sang tiếng Ukraina, xuất bản ở Hà Nội. Với mục đích hoàn thiện kiến thức của mình, bà xin vào học tiếng Việt ở Viện Các ngôn ngữ phương Đông của Đại học Tổng hợp Moskva (MGU). Từ 1-9-1966 đến tháng 6-1972, trước khi xuất hiện cuốn sách dịch độc lập đầu tiên, bà đã dịch hơn 300 tác phẩm bằng tiếng Việt.

Một số tác phẩm VH Việt Nam đã được dịch sang tiếng Ukraina của Maya Kashel: Mẹ vắng nhà của Nguyễn Thi và những người khác (1972), Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi (1977), Tục ngữ và thành ngữ Việt Nam (1977), Tập truyện ngắn của các nhà văn Việt Nam (1981), Thơ Tố Hữu (1978), Lục Vân Tiên (và thơ Nguyễn Đình Chiểu, 1983), Đôi mắt của Nam Cao...

Kashel đã cho xuất bản tổng cộng 11 tập sách dịch. Các sách ấy thường được N. I. Nikulin, nhà Việt Nam học người Nga viết lời giới thiệu. Bản dịch Mẹ vắng nhà (1972) là cuốn sách dịch đầu tiên của bà khi gia nhập Hội Nhà văn Ukraina 1972. Thông qua sự nghiệp dịch thuật của mình, Kashel mong muốn “tăng cường mối quan hệ VH Ukraina - Việt Nam, làm giàu cho nền VH quê hương mình bằng những tác phẩm tiếng Việt hay nhất”. (Đơn xin vào Hội Nhà văn Ukraina).

Maya Kashel sống trong thời chiến tranh ở Việt Nam hết sức thảm khốc. Với tình yêu với nhân dân Việt Nam, bà đã dành toàn bộ số tiền nhuận bút có từ việc dịch tặng cho Quỹ Hỗ trợ nhân dân Việt Nam của Ukraina.

Ngoài dịch VH Việt Nam, M.Kashel còn viết nhiều bài nghiên cứu về VH Việt Nam trên các báo, tạp chí chuyên ngành, các mục từ về nhà văn Việt Nam trong Bách khoa toàn thư của Ukraina. Trước khi in thành sách, các bản dịch VH Việt Nam của M.Kashel thường được đăng trên các tạp chí lớn của Ukraina, như: Hoàn cầu, Đnepro, VH Ucraina, Tạp chí Ucraina... Nhờ thế, nhiều người Ukraina có dịp thưởng thức và hiểu biết VH Việt Nam.

Kashel chủ yếu dịch VH hiện đại Việt Nam, Lục Vân Tiên là tác phẩm VH cổ điển Việt Nam duy nhất của Việt Nam mà bà dịch. Bản Lục Vân Tiên tái bản lần này có sự gia công sửa chữa của Vũ Tuấn Hoàng, giáo sư người Việt, làm việc tại Viện Ngữ văn của Đại học Quốc gia Kiev. 

Bản dịch Lục Vân Tiên tiếng Ukraina có vị trí danh dự trong các dịch tác phẩm này ra ngoại ngữ. Thống kê cho đến tháng 6-2022, tức là trước Hội thảo Khoa học quốc tế kỷ niệm 200 năm Ngày sinh Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì tác phẩm Lục Vân Tiên được dịch ra 5 thứ tiếng với 11 bản dịch, đó là tiếng Pháp, Nhật, Anh, Hàn và tiếng Thái cổ, là tác phẩm được dịch nhiều thứ ba trong VH cổ điển Việt Nam sau Truyện Kiều của Nguyễn Du (21 thứ tiếng với 86 bản dịch) và thơ Hồ Xuân Hương (12 thứ tiếng với 30 bản dịch).

Tuy nhiên, với bản dịch ra tiếng Ukraina của Maya Kashel thì Lục Vân Tiên đã được dịch ra 6 thứ tiếng với 12 bản dịch:

- Ngôn ngữ dịch đầu tiên là tiếng Pháp, có 7 bản dịch: (1) G.Aubaret 1864, (2) Abel des Michels 1883, (3) Eugène Bajot 1886, (4) Nghiêm Liễn 1927, (5) Dương Quảng Hàm 1944, (6) Phan Văn Thiết 1972, (7) Lê Trọng Bổng 1997.

- Tiếp theo là các bản Lục Vân Tiên tiếng Ukraina của Maya Kashel 1983. Bản tiếng Nhật của Takeuchi Yonosuke 1986. Bản tiếng Anh của Éric Rosencrantz 2016. Bản tiếng Hàn của Jeon Hye Kyeong (Toàn Huệ Khanh) và Lý Xuân Chung 2022.

- Ngoài ra còn có bản dịch ra tiếng Thái cổ (Tây Bắc Việt Nam) vào đầu thế kỷ XX.

Với những thông tin trên, thì bản dịch Lục Vân Tiên của Maya Kashel là bản dịch ra ngoại ngữ sớm thứ hai sau các bản dịch tiếng Pháp, không kể bản tiếng Thái cổ. Bản dịch ấy cũng là bản dịch duy nhất cho đến nay ra nhóm các ngôn ngữ Slav.

Giữa những ngày chiến sự ác liệt ở Ukraina, chúng tôi được tin: Bản dịch Lục Vân Tiên (Лyк Ван Тiен) của Nguyễn Đình Chiểu (Нгуєн Дінь Tьєу) ra tiếng Ukraina được xuất bản ở Ukraina, bao gồm cả sách song ngữ và sách đơn ngữ. Đây là một hoạt động đẹp nhằm kỷ niệm 200 năm Ngày sinh nhà thơ lớn của nhân dân Việt Nam Nguyễn Đình Chiểu, hưởng ứng hoạt động tôn vinh nhà thơ của Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) mà Ukraina cũng là thành viên.

Đoàn Lê Giang - Trần Thị Phương Phương (*)

(*) PGS.TS Đoàn Lê Giang, PGS.TS Trần Thị Phương Phương - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Nguồn: Báo Đồng khởi, ngày 15.7.2022.

Văn bản Lục Vân Tiên khá phong phú và phức tạp. Hiện nay người ta thường dùng bản Trương Vĩnh Ký 2076 câu, cũng có người nói theo bản Lục Vân Tiên ca diễn của Abel des Michels 2088 câu. Có nhà nghiên cứu không dùng các bản đó mà công bố bản Lục Vân Tiên sớm nhất xuất bản năm 1874 (Trần Nghĩa-Vũ Thanh Hằng  phiên âm, khảo thích (1994) Lục Vân Tiên truyện: Bản Nôm mang niên đại cổ nhất mới sưu tầm ở Paris, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội), nhưng có nhà nghiên cứu lại công bố bản Lục Vân Tiên 1865 mới là cổ nhất (Nguyễn Quảng Tuân  phiên âm, khảo thích (2008), Lục Vân Tiên truyện: Bản Nôm và bản quốc ngữ cổ nhất, NXB. Văn học, Trung tâm nghiên cứu quốc học). Vậy bản nào tốt nhất, bản nào cổ nhất, các bản ấy có quan hệ với nhau thế nào, và quan trọng nhất là các truyền bản Lục Vân Tiên như thế nào?

1. Các bản Nôm Lục Vân Tiên khắc in hiện còn

Hiện nay có tất cả 13 bản Nôm Lục Vân Tiên đã được khắc in như danh mục dưới đây (sắp xếp theo trình tự thời gian xuất bản):  

Quyển

số

Nhan đề/ Tên tắt văn bản Người biên tập, Nơi xuất bản Năm xuất bản, số trang, số câu

Lục Vân Tiên truyện,

蓼雲仙傳Gọi tắt là bản “Bảo Hoa Các-Quảng Thạnh Nam 1865”

Gia Định thành, Duy Minh Thị đính chính 嘉定城惟明氏訂正

Quảng Đông nhai, Quảng Thạnh Nam phát thụ 廣東街廣盛南發售. Việt tỉnh, Phật trấn, Phước Lộc đại nhai, Bảo Hoa các tàng bản 粵省佛鎮福祿大街寶華閣藏板 Năm 1865, 92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳

Gọi tắt là bản “Bảo Hoa Các-Thiền Phước Lộc”

Thiền Phước Lộc đại nhai. Bảo Hoa các phát hành 禪福祿大街寶華閣發行

(không ghi năm in),

92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳

Gọi tắt là bản “Bảo Hoa Các-Phật Sơn”

Gia Định thành, Duy Minh Thị đính chính Phật Sơn, Bảo Hoa các tàng bản 佛山寶華閣藏板

(không ghi năm in), 

92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳   

Gọi tắt là bản “Thiên Bửu Lâu”

Gia Định thành, Duy Minh Thị đính chính Việt Đông, Phật trấn, Phước Lộc đại nhai. Thiên Bửu Lâu tàng bản 粵東佛鎮福祿大街天寶樓藏板 (không ghi năm in), 92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳

Gọi tắt là bản “Anh Hoa thư cục”

Gia Định thành, Duy Minh Thị đính chính Trung Quốc Việt Đông, Phật Sơn, Anh Hoa thư cục tàng bản 中國粵東佛山英華書局藏板 (không ghi năm in), 92 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳

Gọi tắt là bản “Kim Ngọc Lâu 1874”

Duy Minh Thị đính chính Việt Đông, Phật Trấn, Phước Lộc đại nhai, Kim Ngọc Lâu tàng bản 粵東佛鎮福祿大街金玉樓藏板 Giáp Tuất niên (1874) san khắc, 110 trang, 2174 câu

Lục Vân Tiên ca diễn 陸雲僊歌演

Gọi tắt là bản “Abel 1883”

Abel des Michels, Giáo sư Trường Sinh ngữ phương Đông, Paris Ernest Leroux xuất bản. Trần Ngươn Hanh viết bằng bút sắt từ bản quốc ngữ của Janneau 1873 Năm 1883, 2088 câu, 4 đoạn phụ lục 170 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là bản “Lăng Vân Đường 1886”

Lăng Vân Đường (Huế) tàng bản 凌雲堂藏板 Đồng Khánh nguyên niên xuân tân san (1886), 2055 câu, 106 trang đơn (53 tờ), mỗi trang 10 hàng

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là bản “Tụ Văn Đường 1897”

Tụ Văn Đường聚文堂, Hà Nội Thành Thái thứ 9 (1897), chép theo hàng ngang, 2036 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là “Bản Liễu Văn Đường 1916”   

Liễu Văn Đường tàng bản 柳文堂藏板 Khải Định nguyên niên (1916) thu  tân san, 53 tờ, khoảng 2050 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là bản “Liễu Văn Đường 1921”

Liễu Văn Đường tàng bản 柳文堂藏板, Hà Nội Khải Định thứ 6 (1921), 53 tờ, khoảng 2050 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là bản “Tụ Văn Đường 1924”

Tụ Văn Đường tàng bản 聚文堂藏板, Hà Nội Khải Định thứ 9 (1924), 53 tờ, khoảng 2050 câu

Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳

Gọi tắt là “Bản Bảo Đại 1927”

(Không ghi) Bảo Đại nhị niên (1927) xuân tân san, 53 tờ, khoảng 2050 câu

Danh mục trên là từ sưu tầm và tổng hợp theo Thư mục về Nguyễn Đình Chiểu do Ban Văn học (Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM) biên soạn, Ty Văn hoá và Thông tin Long An xuất bản, 1981;  Trần Nghĩa-Vũ Thanh Hằng phiên âm, khảo thích Lục Vân Tiên truyện: Bản Nôm mang niên đại cổ nhất mới sưu tầm ở Paris, NXB.Khoa học xã hội, Hà Nội,  năm 1994; Nguyễn Quảng Tuân phiên âm, khảo thích Lục Vân Tiên truyện: Bản Nôm và bản quốc ngữ cổ nhất, NXB. Văn học, Trung tâm nghiên cứu quốc học, 2008.

Có thể có vài bản in nữa ở Quảng Đông do Bảo Hoa Các tàng bản hiện chưa sưu tầm được, nhưng không thật quan trọng vì lý do chúng tôi phân tích dưới đây. 

2. Các bản Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙Duy Minh thị đính chính, in ở Quảng Đông thực chất chỉ là một bản

Nguyễn Đình Chiểu thi đậu tú tài năm Quý mão (1843) ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi. Sau đó ông ra Huế học chờ kỳ thi lần sau. Năm Kỷ dậu (1849) Nguyễn Đình Chiểu đi thi thì nghe tin mẹ mất, ông vào Gia Định chịu tang. Trên đường đi đến Quảng Nam ông bị ốm nặng, phải nghỉ lại chữa bệnh, sau đó bị mù cả hai mắt. Năm Canh tuất (1850) mãn tang, ông mở trường ở Bình Vi (Gia Định). Từ gian nan của cuộc đời mình, từ những ước mơ, lý tưởng của mình mà cũng là của đông đảo người dân, Nguyễn Đình Chiểu đã sáng tác nên truyện Lục Vân Tiên. Truyện được hoàn thành vào khoảng những năm từ 1851 đến 1854, lúc Nguyễn Đình Chiểu ngoài 30 tuổi. Tác phẩm được dân chúng ưa thích, truyền tay nhau chép và học thuộc lòng, trong khoảng 10 năm. Cho đến khi G.Aubaret dịch tác phẩm này sang tiếng Pháp và in ở Kỷ yếu châu Á (Journal asiatique) thì Lục Vân Tiên chưa từng được khắc in: “Truyện thơ này, hay nói đúng hơn, truyện truyền thuyết này đã được sáng tác bằng tiếng nói của người bình dân, chưa bao giờ được in thành bản; tác phẩm lưu truyền đến ngày nay với những đoạn chép tay bằng thứ chữ riêng, kiểu chữ Trung Hoa mà dân tộc An Nam dùng” (Vũ Đình Liên dịch, in trong Nguyễn Đình Chiểu, 1976, tr.319). Bản in đầu tiên là bản do Duy Minh Thị đính chính, in ở Quảng Đông năm 1865. Điều này đã được Khuông Việt ghi nhận từ năm năm 1943 trên Nam Kỳ tuần báo số 41 (26/6/1943) số chuyên đề về Nguyễn Đình Chiểu: Lục Vân Tiên, bản in chữ Nôm do Duy Minh Thị sao lục, Tôn Thọ Tường trông nom in, Chợ Lớn, Hiệu sách Quảng Thạnh Nam,1865”. Bản này đã được Nguyễn Quảng Tuân sưu tầm và phiên âm vào năm 2008. Thực ra Quảng Thạnh Nam không in, trên bìa ghi rõ: “Quảng Đông nhai Quảng Thnh Nam phát thụ tức Nhà sách Quảng Thạnh Nam ở phố Quảng Đông (Chợ Lớn) chỉ là nơi phát hành, bán sách, (thụ: bán, trong từ Tiêu thụ), mà nơi khắc in là “Việt tỉnh, Phật trấn, Phước Lộc đại nhai, Bảo Hoa Các tàng bản: Nơi in sách, giữ mộc bản là Bảo Hoa Các, địa chỉ ở phố Phước Lộc, Phật trấn, tỉnh Việt Đông, tức Quảng Đông.  

So sánh các bản Lục Vân Tiên truyện Duy Minh Thị đính chính (từ quyển số 1 đến  quyển số 5), đều giống nhau, giống nhau hoàn toàn từ nhan đề (chữ Nôm) “Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳” cho đến phần ruột, dù là “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ” (quyển số 1), hay “Bảo Hoa Các tàng bản - Thiền Phước Lộc đại nhai” (quyển số 2), “Phật Sơn - Bảo Hoa Các tàng bản” (quyển số 3), “Thiên Bửu Lâu tàng bản” (quyển số 4), “Anh Hoa thư cục tàng bản” (quyển số 5). Giống hoàn toàn cả cái đúng, cái sai, các vết mẻ trên bản khắc. Cụ thể, cả 5 bản đều:  92 trang in không kể bìa; Mỗi trang 12 cột, trên 6 chữ dưới 8 chữ, tổng cộng 2174 câu (lục-bát kể là 2 câu). Những chữ khác biệt với các bản khác và các lỗi sai y như nhau. Ví dụ trang 1: Câu 1: Tây minh 西明 , đúng ra phải: 西銘; Câu 6-7: “Có người ở quận Đông Kinh/ Lục ông chữ đặt phỉ tình yến anh/ Vợ chồng ăn ở hiền lành/ Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền.” . Đa số các bản khác: “Có người ở quận Đông Thành/ Tu nhân tích đức sớm sinh con hiền”. So sánh thử trang 1 của 3 bản để thấy thực chất nó chỉ là một bản, chỉ khác nhau cái bìa:

20220716 4

Có thể kết luận: Các bản Bảo Hoa Các đều là bản in đầu tiên, do cùng một ván khắc với bản “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ” (quyển số 1), in 1865. Do nhu cầu của độc giả Việt Nam mà sách được nối bản liên tục hàng chục năm, và chỉ thay cái bìa. Nếu như ngày nay thì đây là vụ gian lận thương mại và vi phạm bản quyền nghiêm trọng của Bảo Hoa Các.

Phải đến quyển Lục Vân Tiên truyện “Kim Ngọc Lâu 1874” (quyển số 6) thì mới thực sự là bản khắc mới: Bản Kim Ngọc Lâu có 110 trang in không kể bìa, mỗi trang 10 cột, trên 6 dưới 8 chữ, vẫn giữ tổng cộng 2174 câu. Bản này không phải là “nối bản” mà là tái bản có sửa chữa, tức là khắc ván mới, sửa tất cả các chữ Nôm sai, các chữ Nôm giả tá khó đọc thành chữ Nôm hình thanh dễ hiểu, sửa cả bài thơ Nguyệt Nga thất niêm luật ở câu 222 cho đúng niêm luật hơn. Bản Kim Ngọc Lâu cũng in ở Quảng Đông.

20220716 53. Lục Vân Tiên - phồn bản, giản bản, bản Kinh

Lục Vân Tiên có bản dài trên 2100 câu và có loại ngắn dưới 2100 câu, chênh nhau gần 100 câu. Có thể gọi bản dài là Phồn bản và bản ngắn là Giản bản.

3.1. Lục Vân Tiên phồn bản có 5 dấu hiệu sau:

- Trên 2100 câu, cụ thể là 2174 câu

- Có thơ Nguyệt Nga tặng Vân Tiên (ở câu 222)

- Thầy của Vân Tiên tính giả làm ông Quán để giúp Vân Tiên: 14 câu (câu 439-452)

- Nguyệt Nga gặp lại Vân Tiên, từ giã lão bà về thăm cha: 34 câu (câu 1977-2010)

- Vân Tiên đi thăm thầy, Sở vương gọi về truyền ngôi cho: 82 câu (câu 2093-2174)

Các khác biệt trên chính là đặc điểm của các bản Lục Vân Tiên truyện Duy Minh Thị đính chính: “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ”, “Bảo Hoa Các tàng bản - Thiền Phước Lộc đại nhai”, “Phật Sơn - Bảo Hoa Các tàng bản”, “Thiên Bửu Lâu tàng bản”, “Anh Hoa thư cục tàng bản”, “Kim Ngọc Lâu 1874” (quyển số 1 đến quyển số 6).

3.2. Lục Vân Tiên giản bản

            Điều khác biệt đáng chú nhất giữa phồn bản và giản bản là ở đoạn kết: Phồn bản có đoạn gần 100 câu kể về Lục Vân Tiên khi thắng giặc Ô Qua được vua Sở nhường ngôi. Giản bản thì chỉ đến chỗ Vân Tiên, Nguyệt Nga gặp nhau, Vân Tiên được phong thưởng, hai người lấy nhau “Sanh con sau nối gót lân đời đời” là hết.

            Giản bản có 2 loại:

     - Giản bản Nam Kỳ. Trước nay nói đến bản Nam Kỳ đều nói bản Lục Vân Tiên truyện của Trương Vĩnh Ký 1889, nhưng xem xét kỹ thì bản Trương Vĩnh Ký lại chịu ảnh hưởng chủ yếu từ bản Lục Vân Tiên ca diễn 陸雲僊歌演 của Abel des Michels. So sánh bản Trương Vĩnh Ký 1889 với bản Abel des Michel thì thấy vai trò của Trương Vĩnh Ký không nhiều, sự giản lược cho gọn gàng Lục Vân Tiên không phải sáng tạo của riêng ông mà là tiếp thu từ Abel des Michels. Và Abel lại tiếp thu từ bản Janneau 1873, còn Janneau lại tiếp thu từ bản G.Aubaret 1864. Đến lượt G.Aubaret, có thể ông tiếp thu từ một bản kể nào đó của Đồ Chiểu hay những dị bản trong dân gian. Giản bản Nam từ bản Abel des Michels đã chi phối bản Trương Vĩnh Ký 1889, từ đó chi phối đa số các bản quốc ngữ xuất bản ở Nam Kỳ trước 1945, và cả các bản Bắc từ 1954 đến nay (Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Thạch Giang…).

            - Giản bản Bắc Kỳ. Trước nay nói đến bản Bắc Kỳ đều nói bản Tụ Văn Đường 1897, tuy nhiên mọi người không ngờ là hệ bản Bắc Kỳ lại chỉ là phiên bản của giản bản Huế Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳 - Lăng Vân Đường tàng bản, có thể gọi đó là “bản Kinh”.

3.3. Bản Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳- Lăng Vân Đường: Bản Kinh và là  giản bản Bắc (Huế-Hà Nội)

Như đã nói nhiều tài liệu cho rằng các bản Lục Vân Tiên ở Bắc Kỳ chịu ảnh hưởng bản Tụ Văn Đường 1897 như Nguyễn Thạch Giang viết: “Bản sớm nhất hiện nay chúng ta có là bản Vân Tiên cổ tích tân truyện của hiệu khắc ván Tụ Văn Đường ở phố Hàng Gai, in năm Thành Thái thứ 9 (1897) (…) Bản Vân Tiên cổ tích tân truyện của hiệu khắc ván Liễu Văn Đường in năm Khải Định thứ sáu (1821) đã dựa vào bản của Tụ Văn Đường mà khắc lại, cho nên cả hai bản hầu như không có dị đồng nào đáng kể, hai mà như một vậy”(Nguyễn Đình Chiểu, 1980, tr.77). Tuy nhiên mọi người không ngờ là hệ bản Bắc Kỳ lại chỉ là phiên bản của giản bản Huế, có thể gọi là “bản Kinh” mà khởi đầu là bản Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳- Lăng Vân Đường tàng bản, khắc in năm Đồng Khánh thứ nhất (1886).

20220716 6

Việc phát hiện ra bản Kinh chính là từ sự phát hiện ra bản truyện tranh Lục Vân Tiên nằm im lìm 112 năm ở Thư viện Viện Pháp (Institute de France) ở Paris. Năm 2016 với sự dày công nghiên cứu của tập thể các nhà nghiên cứu, NXB. Văn hoá Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, NXB.École française d'Extrême-Orient Paris đã cho ra mắt công trình Lục Vân Tiên cổ tích truyện/ Histoire de Lục Vân Tiên/ The story of Lục Vân Tiên, 2 tập với 4 thứ chữ: Nôm, Quốc ngữ, Pháp (bản dịch của Abel des Michel) và Anh.  Trong  bản này có truyện tranh Lục Vân Tiên do một người hoạ sĩ cung đình tên là Lê Đức Trạch vẽ, văn bản Nôm mà ông sử dụng để chép lại là bản Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳- Lăng Vân Đường tàng bản, khắc in năm Đồng Khánh thứ nhất (1886).

Bản Lục Vân Tiên, Lăng Vân Đường 1886 có lẽ đã ra Bắc, được các phường khắc chữ ở Hàng Gai khắc lại thành các bản: Tụ Văn Đường 1897 (lưu ở Thư viện ĐH Yale), Tụ Văn Đường 1924; Liễu Văn Đường 1916, 1921. Còn bản Bảo Đại 1927 chữ Nôm khắc in rất, gần giống với chữ bản Lăng Vân Đường 1886, cho thấy nguồn gốc của nó chắc vẫn là tiếp tục dòng bản Kinh Lục Vân Tiên ở Huế.

Kết luận

Hiện nay đã tìm được 13 bản Nôm Lục Vân Tiên được khắc in, so với lần kỷ niệm 160 năm ngày sinh Nguyễn Đình Chiểu vào năm 1982 mới tìm được 9 bản thì nay có thêm 4 bản nữa, trong đó có nhiều bản quan trọng. Trong đó bản “Lục Vân Tiên truyện Duy Minh thị đính chính, Quảng Thạnh Nam phát thụ, Bảo Hoa Các tàng bản” tương truyền Tôn Thọ Tường trông nom, in năm 1865 là bản in sớm nhất, cho đến 1874 không có một bản Lục Vân Tiên chữ Nôm nào được khắc in ở trong nước. Bản Nôm này mở đầu cho truyền bản “Duy Minh thị”, in ở Quảng Đông, với nhiều bản: “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ”, hay “Bảo Hoa Các tàng bản - Thiền Phước Lộc đại nhai”, “Phật Sơn - Bảo Hoa Các tàng bản”, “Thiên Bửu Lâu tàng bản”, “Anh Hoa thư cục tàng bản” giống nhau hoàn toàn phần ruột, thực chất là một bản, chỉ khác nhau cái bìa.

Bản Lục Vân Tiên truyện “Kim Ngọc Lâu 1874” là thuộc truyền bản Duy Minh Thị nói trên được khắc mới, sửa tất cả các lỗi sai, các chữ Nôm giả tá khó đọc thành chữ Nôm hình thanh dễ hiểu. Đây là bản Lục Vân Tiên truyện tốt nhất của truyền bản Duy Minh Thị. 

Lục Vân Tiên có thể chia ra thành phồn bản (2174 câu), giản bản (dưới 2100). Giản bản lại chia thành: Giản bản Nam (Abel des Michels, Trương Vĩnh Ký), Giản bản Bắc (Lăng Vân Đường). Như vậy có thể thấy: các bản Nôm Lục Vân Tiên dù đa dạng, phức tạp đến mấy cũng chỉ có 3 truyền bản:

- Lục Vân Tiên truyện 蓼雲仙傳-Duy Minh Thị (Phồn bản ): Truyền bản này bao gồm:  “Bảo Hoa Các tàng bản - Quảng Thạnh Nam phát thụ”, “Bảo Hoa Các tàng bản - Thiền Phước Lộc đại nhai”, “Phật Sơn - Bảo Hoa Các tàng bản”, “Thiên Bửu Lâu tàng bản”, “Anh Hoa thư cục tàng bản”, “Kim Ngọc Lâu 1874”.

- Lục Vân Tiên ca diễn 陸雲僊歌演- Abel 1883 (Giản bản Nam): Truyền bản này bao gồm: Lục Vân Tiên của Trương Vĩnh Ký 1889 và liên hệ với các bản Pháp-Việt trước đó: Janneau 1873 và Aubaret 1864

- Vân Tiên cổ tích tân truyện 雲僊古跡新傳- Lăng Vân Đường 1886 (Giản bản Bắc): Truyền bản này bao gồm: Tụ Văn Đường 1897, 1924; Liễu Văn Đường 1916, 1921, Bảo Đại 1927.

Đoàn Lê Giang

PGS.TS, Trường Đại học KHXH và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM/ University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM; Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay, số 540 tháng 6/2022.

Tài liệu tham khảo

  1. Khuông Việt (1943), “Những bổn Lục Vân Tiên đã xuất bản”, Nam Kỳ tuần báo số 41 (26/6/1943), Sài Gòn
  2. Nguyễn Đình Chiểu (1976), Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Thạch Giang khảo đính và chú thích, NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội.
  3. Nguyễn Đình Chiểu (1980), Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sỹ Lâm, Nguyễn Thạch Giang biên khảo và chú giải, tập I, NXB.Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội
  4. Nguyễn Đình Chiểu (2008), Lục Vân Tiên truyện: Bản nôm và bản quốc ngữ cổ nhất, Nguyễn Quảng Tuân phiên âm và chú thích, H.: Văn học, Trung tâm nghiên cứu quốc học
  5. Pascal Bourdeaux & Olivier Tessier (2016), Lục Vân Tiên cổ tích truyện/ Histoire de Lục Vân Tiên/ The story of Lục Vân Tiên, NXB. Văn hoá Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, NXB.École française d'Extrême-Orient Paris, tập 2

Ngày 23-11-2021, tại Paris (Pháp), trong phiên họp toàn thể Kỳ họp lần thứ 41 Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua danh sách “Danh nhân văn hóa và sự kiện lịch sử thế giới niên khóa 2022-2023”.

Trong đó, hồ sơ kỷ niệm 200 năm Ngày sinh nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu (sinh ngày 13-5 âm lịch năm Nhâm Ngọ 1822, tức ngày 1-7) của Việt Nam do 4 nước khác cùng đề xuất: Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan nhận được sự đồng thuận tuyệt đối của tất cả các quốc gia. Ông được UNESCO đánh giá là nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với tư tưởng yêu nước, thương dân, nhân đạo và yêu hòa bình.

Một cuộc đời gian truân và vượt qua nghịch cảnh  

Nguyễn Đình Chiểu tự Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ, sau khi bị mù lấy hiệu Hối Trai, sinh tại quê mẹ là làng Tân Thới, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định (nay thuộc quận 1, TP Hồ Chí Minh). Tổ tiên xa của ông người Kinh Bắc vào sống ở Đàng Trong đã lâu. Cha là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, tỉnh Thừa Thiên, vào Gia Định làm thư lại dưới quyền Tả quân Lê Văn Duyệt. Mẹ là Trương Thị Thiệt, vợ thứ của ông Nguyễn Đình Huy.

20220705Tiết mục biểu diễn tôn vinh danh nhân Nguyễn Đình Chiểu trong Hội diễn “Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông năm 2022”. Ảnh: HẠNH LINH.

Mặc dù bị mù từ khi trẻ tuổi nhưng Nguyễn Đình Chiểu không chịu đầu hàng số phận. Ông đã cố gắng học tập, vượt qua nghịch cảnh để trở thành thầy giáo dạy chữ cho dân, thầy thuốc chữa bệnh cho dân. Học trò ông trải khắp Sài Gòn, Cần Giuộc, Bến Tre, đông đến hàng mấy nghìn người. Người dân gọi ông bằng tên gọi vừa kính trọng vừa thân thương: Cụ Đồ hay Đồ Chiểu. Triết lý chữa bệnh của ông là chữa bệnh cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu-nghèo. Với ai ông cũng tận tình cứu chữa. Với bệnh nhân quá nghèo, ông chữa miễn phí. Trong “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”, ông viết: “Ăn mày cũng đứa trời sinh/ Bệnh còn cứu đặng, thuốc đành cho không”.

Nguyễn Đình Chiểu nêu tấm gương sáng về y đức, về đạo đức người thầy và tấm gương một con người vượt qua nghịch cảnh để sống có ích cho đời.

Nhà thơ lớn của nhân dân Việt Nam

Nói đến tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, trước hết phải nói đến truyện thơ Nôm “Lục Vân Tiên”. Tác phẩm viết theo thể lục bát, dài trên dưới 2.100 câu, hoàn thành vào những năm 1851-1853 tại quê mẹ. Đây là một bản trường ca ngợi ca chính nghĩa và những giá trị đạo đức ở đời. Nhân vật chính Lục Vân Tiên phản ánh cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu với những bất hạnh mà ông trải qua: Chuẩn bị vào trường thi thì phải bỏ dở về quê chịu tang mẹ rồi bị bệnh, mù cả hai mắt, bị vị hôn thê từ hôn. Các diễn biến khác của câu chuyện vừa là những cuộc đời, những cảnh đời, vừa là những ước mơ của cá nhân ông và của đông đảo người dân. Có thể thấy, “Lục Vân Tiên” có 4 giá trị nổi bật sau đây:

Thứ nhất, "Lục Vân Tiên" đề cao tình nghĩa ở đời: Tình cha con, tình vợ chồng, tình bạn bè, tình thầy trò... Tình nghĩa chính là căn cốt của tâm hồn Việt Nam, của tính cách Việt Nam, của văn hóa Việt Nam. Đã hiếu nghĩa thì phải như Vân Tiên với cha mẹ, Nguyệt Nga với Kiều công, với Lục ông. Đã yêu thì thủy chung son sắt như Nguyệt Nga với Vân Tiên. Tình bạn bè thì phải hết lòng như Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh... 

Thứ hai, "Lục Vân Tiên" đề cao tinh thần nghĩa hiệp, trọng nghĩa khinh tài (tiền). "Lục Vân Tiên" có vẻ như truyện tài tử giai nhân, nhưng người tài tử ở đây không chỉ học giỏi, đậu cao, đàn hay, vẽ giỏi, si tình ngây ngất mà còn phải có tinh thần nghĩa hiệp, biết quên mình giúp dân, giúp nước. Người dân Việt Nam, nhất là người dân Nam Bộ không ai là không thuộc nằm lòng mấy câu thơ: “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi/ Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”.

Thứ ba, "Lục Vân Tiên" thể hiện ước mơ của người bình dân về công lý trong cuộc sống: Ở hiền gặp lành, kẻ ác phải bị trừng trị. Vân Tiên bị mù mắt, bị từ hôn, nhưng kết thúc truyện chàng thi đậu, lập công lớn, mắt chàng sáng ra và chàng được đền bù bằng tình yêu một đời của người con gái đẹp người, đẹp nết Nguyệt Nga. Vị hôn thê trắc nết, tham phú phụ bần Võ Thể Loan; Trịnh Hâm-kẻ một thời là bạn nhưng ác tâm đố kỵ-dù được chàng tha nhưng trời đất không dung tha, kẻ thì bị cọp tha, kẻ thì bị cá nuốt.  

Thứ tư, "Lục Vân Tiên" là truyện thơ viết bằng chữ Nôm, tức là bằng tiếng mẹ đẻ, thể hiện được tâm tình dân tộc. Dù là người "tắm gội" trong văn chương Hán văn, văn chương cử tử nhưng Nguyễn Đình Chiểu lại không sáng tác bằng chữ Hán, ông chọn chữ Nôm-tiếng Việt-tiếng mẹ đẻ của ông, tiếng nói của “đàn bà con trẻ” để sáng tác. Ông kể chuyện một cách bình dân, dễ hiểu nên được dân chúng dễ dàng đón nhận. Do vậy, truyện "Lục Vân Tiên" có sức ảnh hưởng rất lớn trong nước qua nhiều thế hệ.

Ở Việt Nam, đặc biệt là miền Nam, tác phẩm “Lục Vân Tiên” đã đi vào ca dao, dân ca và trở thành một loại hình diễn xướng đặc biệt là “Nói thơ Vân Tiên”. Nó không giống như đọc thơ, cũng không giống như ngâm thơ mà nằm giữa đọc và ngâm, khi hùng hồn, khi êm dịu, lắng đọng tùy theo ý nghĩa của từng đoạn thơ. Tác phẩm “Lục Vân Tiên” còn đi vào đời sống người dân Việt Nam qua nhiều loại hình nghệ thuật khác hết sức phong phú. "Lục Vân Tiên" được chuyển thể thành tuồng, cải lương, thành kịch nói, nhạc kịch, phim truyện, phim truyền hình...  Trên bình diện thế giới, “Lục Vân Tiên” là tác phẩm văn học Việt Nam được dịch ra ngoại ngữ đầu tiên (1864) và là tác phẩm được dịch nhiều thứ ba trong các tác phẩm văn học cổ điển Việt Nam sau "Truyện Kiều" và thơ Hồ Xuân Hương. Cho đến nay, tác phẩm này được dịch ra 5 thứ tiếng với 11 bản dịch.

Nhà thơ yêu nước, thương dân, yêu hòa bình

Tình cảm nhân đạo, thân dân, yêu hòa bình thể hiện chủ yếu ở văn tế, thơ của Nguyễn Đình Chiểu sáng tác sau khi thực dân Pháp xâm lược. Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là nhà thơ hàng đầu trong dòng văn chương yêu nước Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19 và trong phong trào chống thực dân của các dân tộc Á-Phi - một phong trào được sự ủng hộ rộng rãi của dư luận tiến bộ trên thế giới, phù hợp với hiến chương Liên hợp quốc, trong đó có tổ chức UNESCO. 

Không trực tiếp đánh giặc bằng súng, gươm, Đồ Chiểu chọn lấy cây bút. Nhà thơ đã ghi lại cả một thời kỳ đau thương và vĩ đại của dân tộc với một thái độ yêu-ghét rõ ràng, đúng đắn để cổ vũ cho cuộc kháng chiến và giữ lấy ngọn lửa yêu nước trong nhân dân.

Cuộc kháng chiến ở Nam Bộ là một hiện thực rất mới mẻ. Đó là cuộc chiến tranh nhân dân: Cuộc chiến tranh của những người nông dân tự mình đứng lên chống giặc, dưới sự chỉ huy của những lãnh tụ nghĩa binh từ nhân dân mà ra. Thời đại đã đưa người nông dân lên sân khấu chính trị, trở thành nhân vật chính, người nghệ sĩ chỉ có nhiệm vụ nhìn nhận ra hiện thực mới này và phản ánh nó. Nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu tạo ra hình tượng bất hủ về người nông dân đứng lên chống thực dân Pháp vì nền độc lập trong bài văn bi hùng “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”. Chưa bao giờ trong văn học nước nhà, người nông dân lại được thể hiện với sức mạnh và vẻ đẹp như thế.

Khi ra trận, người nghĩa dân tự trang bị cho mình bằng những vật dụng quen thuộc hằng ngày: Cái nùi rơm để hút thuốc, con dao phay để làm bếp... Những vật dụng như thế bỗng chốc trở thành vũ khí để chống chọi với “đạn nhỏ, đạn to”, “tàu thiếc, tàu đồng”. Cái gì đã tạo nên những phép thần kỳ ấy? Đó chính là sức mạnh của ý chí con người, của lòng yêu thiết tha quyền tự chủ của dân tộc mình. Chấp nhận đối đầu với vũ khí tối tân, đó là sự lựa chọn tự giác của những người nông dân-một sự lựa chọn quả cảm. Chính tinh thần ấy đã tạo nên sức mạnh phi thường của họ. Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ nên bức tranh công đồn sinh động và hào hùng: “Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không/ Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có/ Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh...”.

Tư tưởng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với chủ nghĩa nhân đạo, thân dân, với tinh thần yêu hòa bình truyền thống của dân tộc Việt Nam. Trong các tác phẩm của mình, Nguyễn Đình Chiểu luôn phản ánh số phận của nhân dân: Nhân dân là nạn nhân đầu tiên của chiến tranh, trong đó Nguyễn Đình Chiểu đặc biệt chú ý đến phụ nữ, trẻ em-những nhóm người yếu thế nhất trong xã hội. Những câu văn sau đây thể hiện một tình cảm nhân đạo-nhân văn sâu thẳm: “Phạt cho đến kẻ hèn người khó thâu của quay treo/ Tội chẳng tha con nít đàn bà đốt nhà bắt vật” (Văn tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh).

Yêu nước, thương dân, Nguyễn Đình Chiểu không mơ ước gì hơn là đất nước được hòa bình, dân sống yên ổn. Lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với tinh thần nhân đạo, thương dân, yêu chuộng hòa bình-một truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam sẽ sống mãi trong trái tim con người. 

 Nhận định về Nguyễn Đình Chiểu, UNESCO cho rằng: “Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) là nhà thơ Việt Nam nổi tiếng với tư tưởng yêu nước, thương dân, nhân đạo và yêu hòa bình. Ông cũng là một nhà văn hóa lỗi lạc, người đã phổ biến các quan niệm đạođức của Nho giáo về trung thành, hiếu thảo, thủy chung theo triết lý sống của người Việt Nam. Truyện thơ "Lục Vân Tiên" miêu tả đạo đức và lòng khoan dung của con người là một trong những truyện thơ hay nhất trong các tác phẩm nổi tiếng của văn học Việt Nam. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng như: Tiếng Pháp, tiếng Nhật, tiếng Anh... Mặc dù bị mù lòa, Nguyễn Đình Chiểu vẫn cố gắng trở thành một người thầy giáo đáng ngưỡng mộ và một thầy thuốc có y đức lớn. Dạy chữ và chữa bệnh cho mọi người dân là triết lý sống mà ông theo đuổi suốt đời. Nguyễn Đình Chiểu đã nêu tấm gương về khả năng học tập suốt đời của người khuyết tật mà mọi người trên thế giới có thể noi theo”.

PGS. TS. Đoàn Lê Giang

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh     

Nguồn: Quân đội nhân dân, ngày 01.7.2022.

Thông tin truy cập

55390644
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
5800
11312
55390644

Thành viên trực tuyến

Đang có 436 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website