Thể thơ ca vốn thiên trọng về loại văn trữ tình. Sự phân định như thế: người sáng tác cổ đại chưa dễ chấp nhận. Vì vậy, nhân loại mới có những thiên trường ca, sử thi bất hủ. Thế nhưng các tác giả truyện thơ Nôm thế kỷ XVIII – XIX không thể sáng tạo những trường ca, sử thi. Họ sử dụng thể thơ để sáng tác loại truyện, khá gần gũi với truyện hiện đại. Họ là người của thời trung và cận đại. Họ buộc phải có cách thế xử lý đặc thù, trong một phương thức tiếp biến văn hóa đặc thù của dân tộc Việt, một dân tộc ngồn ngộn sức sống vươn lên tự chủ, mà cơ tầng văn hóa điểm tựa của họ vốn rất mong manh, so với văn hóa ngoại lai phương Bắc và với văn hóa bản địa cộng đồng già cỗi.

(Nguyễn Khuê, tham luận Hội thảo Nghiên cứu Hán Nôm và nghiên cứu văn hoá Việt Nam,

hội thảo nhân dịp GS. Bửu Cầm 90 tuổi, tháng 3.2009)

Nghiên cứu Hán Nôm có một vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc, điều đó ai cũng thừa nhận. Nhưng đối tượng của nghiên cứu Hán Nôm là gì? Vai trò của việc nghiên cứu Hán Nôm quan trọng như thế nào trong việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá Việt Nam? Nghiên cứu Hán Nôm đối với việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam có gì khác biệt với nghiên cứu văn hoá dân gian, nghiên cứu báo chí và văn học quốc ngữ? Đó là những vấn đề tôi muốn đặt ra và, trong một chừng mực nhất định, cố gắng làm sáng tỏ vấn đề theo cách nhìn và sự hiểu biết của tôi. Những ý kiến của tôi là những gợi ý để mời gọi các nhà nghiên cứu tham dự cuộc hội thảo khoa học này phát biểu thêm nhằm đi tới cái nhìn chung, tiếng nói chung bao quát và đầy đủ hơn về vai trò và ý nghĩa của nghiên cứu Hán Nôm đối với việc nghiên cứu văn hoá Việt Nam.

(VHNN). Sáng ngày 11.3.2013, tại văn phòng Khoa Văn học và Ngôn ngữ (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh), Bộ môn Hán Nôm đã tổ chức buổi toạ đàm khoa học về công trình nghiên cứu Khổng Tử: chân dung, học thuyết và môn sinh của Nhà nghiên cứu Nguyễn Khuê (NXB. Phương Đông - Nhà sách Văn Thành phát hành, 2012).

(Huỳnh Minh Đức, In trong "Những vấn đề ngữ văn" (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa VH&NN)

 

(Nguồn: Google) 

Việt Nam là nước văn hiến. Trong nền giáo dục xưa, ông cha chúng ta đã bằng tấc lòng vàng để lại câu “Tiên học lễ, hậu học văn”.

Câu nói này do ai nói, có từ lúc nào chúng ta không thể biết, chỉ biết rằng hiện nay, thời của thập niên cuối thế kỷ 20, trên báo chí cũng như trên các vách của lớp học Việt Nam đều treo đầy khẩu hiệu trên. Nhưng, tình hình học trò mất đạo đức, học trò đánh thầy, con đánh cha mẹ, luân lý gia đình, xã hội xuống dốc và đang thách thức khẩu hiệu này với thời gian…

Cao Tự Thanh, "Hai mươi bài thơ Nôm lúc đi sứ Trung Quốc của Trịnh Hoài Đức", Tạp chí Hán Nôm, số 1/ 1987 

Trong nhóm Gia Định tam gia, Trịnh Hoài Đức là người mà thơ văn hiện còn lại tương đối đầy đủ nhất. Ngoài Cấn Trai thi tập(1) và một số thơ văn chữ Hán khác(2), ông còn có một số thơ chữ Nôm, mà theo các tài liệu đã công bố, có thể kể ra các bài Từ mẹ đi sứ Tàu - Biệt mẫu như Thanh sứ(3), Qua đèo Hải Vân(4 ) và quan trọng nhất là cụm thơ liên hoàn làm lúc đi sứ Trung Quốc (1802-1804). Tuy nhiên, vì trước nay không được nhiều người quan tâm, nên từ ý nghĩa - nội dung đến thể loại - hình thức, từ văn bản đến hoàn cảnh ra đời..., tác phẩm này của Trịnh Hoài Đức hiện còn một số điểm cần được đi sâu tìm hiểu.

 (Bửu Cầm, In trong "Những vấn đề ngữ văn" (Tuyển tập 40 năm nghiên cứu khoa học của Khoa Văn học và Ngôn ngữ)

I. Nguồn gốc Kinh Thi

Kinh Thi là một bộ sách gồm có những câu ca dao rất cổ của Trung Hoa. Ngày xưa, Thiên tử cứ năm năm đi tuần thú một lần và ra lệnh cho quan Thái sư hiến dâng ca dao để xem phong tục của dân. Thiên Nghệ văn chí trong Hán thư có chép: "Cổ hữu thái thi chi quan, vương giả sở dĩ quan phong tục, tri đắc thất." (nghĩa là: Xưa có chức quan phụ trách việc đi nhặt ca dao; bậc vương giả lấy đó mà xem xét phong tục, biết được sự đắc thất về chính trị).

Cao Tự Thanh, " Thêm một số thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu", Tạp chí Hán Nôm, số 2/ 1988

 

Kể từ khi bản Lục Vân Tiên do G.Janeau phiên âm xuất bản ở Sài Gòn năm 1867 tới nay, hầu hết những bài thơ văn quan trọng của Nguyễn Đình Chiểu đều đã được sưu tầm và công bố trên sách báo bằng chữ quốc ngữ la-tinh. Tuy nhiên, rải rác đây đó vẫn còn có những thơ văn khác của ông, hoặc được lưu truyền qua lời truyền khẩu trong dân gian, hoặc đươc sao chép trong các tập Hán Nôm chép tay mà vì nhiều lý do, chưa được sưu tầm, phát hiện và công bố. Dưới đây là một số thơ văn loại đó của Nguyễn Đình Chiểu tìm thấy ở hai tỉnh Bến Tre và Long An từ tháng 03.1982 tới nay.

 

(Nguyễn Văn Hoài,  Chuyên san Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4 - 2015)

1. Về việc phân loại truyện thơ Nôm

Kho tàng truyện thơ Nôm Việt Nam hết sức phong phú về số lượng tác phẩm và cũng khá phồn tạp về mặt chủng loại. Trong chuyên luận Truyện Nôm - lịch sử phát triển và thi pháp thể loại, nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch thống kê được 120 tác phẩm truyện thơ Nôm(1). Đây chỉ là con số tương đối, bởi một số tác phẩm vẫn còn lưu giữ trong dân gian hoặc lưu trữ trong các thư viện trong nước, ngoài nước mà tác giả chưa tiếp cận được, và trong đó vẫn còn lẫn vào một số tác phẩm là diễn ca hoặc tuồng(2).

Cao Tự Thanh, "Đọc một cuốn sách về Phan Văn Trị", tạp chí Hán Nôm  Số 1 (12)1992, Tr.55-59

Nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị 

Sau Hội thảo khoa học về Phan Văn Trị tổ chức ở Hậu Giang (Tháng 11, 1985), Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh trong năm 1986 đã xuất bản cuốn Phan Văn Trị, cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Khắc Thuần và Nguyễn Quảng Tuân. Trước tiên, cần ghi nhận sự cố gắng của hai tác giả và cơ quan xuất bản trong việc góp phần tổng kết, nâng cao và phổ biến rộng rãi những kết quả của Hội thảo khoa học nói trên. Riêng về các tác giả, còn phải kể tới công sức trong việc sưu tầm, điều tra, xác minh một số tư liệu về Phan Văn Trị - cả tư liệu thành văn lẫn tư liệu truyền khẩu, cả ở Hậu Giang lẫn Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyễn Cư Trinh 阮居貞 (1716-1767) tự là Nghi, hiệu là Đạm Am, danh tướng và cũng là danh sĩ thời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) và Định vương Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777). Với tài năng về chính trị, quân sự, Nguyễn Cư Trinh đã lập công lớn trong việc: ổn định nội chính, củng cố quốc phòng, trừ nội loạn, dẹp ngoại xâm, khai cương mở cõi. Sau khi mất, Nguyễn Cư Trinh được truy tặng Tá lý công thần, Vinh Lộc Đại phu, thụy Văn Định. Đến đời Minh Mạng, ông lại được truy tặng Khai quốc công thần, Hiệp biện Đại học sĩ, truy phong tước Tân Minh hầu, đổi tên thụy là Văn Khác, được tòng tự ở Thái miếu(1).

Cao Tự Thanh: "Thêm bốn bài thơ "Lư Khê nhàn điếu" của Mạc Thiên Tích", Tạp chí Hán Nôm, số 3/ 1996

Là người sáng lập đồng thời là người đứng đầu Tao đàn Chiêu Anh Các ở trấn Hà Tiên, Mạc Thiên Tích cũng là một nhà thơ nổi tiếng ở Đàng Trong thế kỷ XVIII. Ngoài các tác phẩm như Hà Tiên thập vịnh, Hà Tiên quốc âm thập vịnh, Thụ đức hiên tứ cảnh..., ông còn có ba mươi bài thơ và một bài phú cùng mang nhan đề Lư Khê nhàn điếu (Rạch Vược câu nhàn) in chung trong một tập lấy tên là Minh bột di ngư. Bản in đầu tiên của tập thơ này trước 1771 đã mất; còn bản in thứ hai có tên Minh bột di ngư trùng bản do Trịnh Hoài Đức cho khắc in năm 1821, từng được tác giả Ngạc Xuyên giới thiệu năm 1943 hiện cũng khó tìm lại được (1). Đây là một điều đáng tiếc đã gây nhiều khó khăn cho việc tìm hiểu thơ văn Chiêu Anh Các nói chung và thơ văn Mạc Thiên Tích nói riêng trong nhiều năm qua. Bởi vì nếu những Hà Tiên tập vịnh, Thụ đức hiên tứ cảnh... là tiếng nói chung của cộng đồng Việt Nam ở trấn Hà Tiên thế kỷ XVIII, thì Minh bột di ngư lại là tiếng lòng riêng tư của bộ phận người Hoa phản Thanh phục Minh ở Hà Tiên và cả Đàng Trong buổi ấy, những người yêu nước phải đào vong tị nạn và trong quá trình đấu tranh để hoà nhập vào một không gian sống mới cũng chủ động và vĩnh viễn vùi chôn tâm sự di thần... Khía cạnh ấy sẽ ít nhiều được Nguyễn Trọng Hợp (1834-1902) sau này khái quát qua bài Đề bột di ngư tập hậu (Đề sau tập Minh bột di ngư) với niềm hoài cổ của một ông quan thời vong quốc trong thân phận Kim Giang tướng công:

Việc tổng kết trong đó có phân kỳ văn học Hán Nôm Việt Nam không phải là chuyện gì mới, nhưng đến nay công việc này vẫn chưa được tiến hành một cách triệt để nên kết quả vẫn chưa đạt tới mức độ chính xác và hợp lý cần có. Chẳng hạn một số công trình, giáo trình văn học sử vẫn gọi chung văn học viết Việt Nam thời gian 1778 – 1802 là văn học thời Tây Sơn hay văn học Tây Sơn, nhưng ở Đàng Trong cũ nói chung hay Nam Bộ nói riêng thì lại có chính quyền Nguyễn Ánh ra sức phản kích và một dòng văn học chống Tây Sơn khá thuần nhất. Hay trước nay văn học Hán Nôm Việt Nam từ 1858 trở đi chủ yếu chỉ được tìm hiểu trên cơ sở các tác giả và tác phẩm yêu nước chống Pháp và chỉ đến khoảng đầu thế kỷ XX, nên sau khi triều đình nhà Nguyễn chấm dứt nền khoa cử Hán học từ 1919 thì gần như mặc nhiên được coi là đã chấm dứt, mặc dù thực tế cho thấy nó vẫn kéo dài đến Cách mạng Tháng Tám 1945. Hạn chế về quan niệm và phương pháp nghiên cứu trước tháng 4. 1975 đã đưa tới tình hình nói trên, nhưng việc tổng kết trong đó có phân kỳ văn học không toàn diện và chính xác như vậy tới lượt nó lại hạn chế việc nghiên cứu văn học Hán Nôm Việt Nam trên nhiều phương diện. Việc phân kỳ văn học Hán Nôm Việt Nam mà đặc biệt là từ thế kỷ XVIII trở đi do đó là vấn đề cần được đặt ra.

Tạp chí Xưa - Nay số 208 tháng 3 năm 2004 có đăng bài Về những bài thơ của Trần Thiện Chánh của Quang Hùng. Trong bài viết, tác giả có giới thiệu nguyên văn ba bài thơ của Tuần phủ Ninh Bình Trần Thiện Chánh gửi cho ba bà vợ: một ở Gia Định, một ở Nha Trang và một ở Huế. Theo tác giả, bài thơ Gởi bà ở Nha Trang : “Vì không có bài nào khác để đối chiếu, lại không có cả chữ Hán nguyên bản để dò lại cách phát âm và tự dạng nên đành tạm chấp nhận… Cho nên, chúng tôi đành phải “đoán mò” để dịch nghĩa bài thơ trên (anh Vũ Đức Sao Biển, đoán và dịch nghĩa)…”. Tôi đã đọc khá kỹ bài Gởi bà ở Nha Trang của Trần Thiện Chánh mà Vũ Đức Sao Biển đã đoán định và dịch nghĩa, thì quả thật thấy nhiều chỗ bất ổn, không thông nghĩa. Tôi đang có ý định thử đính chính lại những chữ bất ổn trong bài thơ trên, với mong muốn giúp mình hiểu đúng một tác phẩm của tiền nhân, nhưng rồi công việc bề bộn, chưa thực hiện được. Do vậy, khi được đọc bài Về bài thơ gởi vợ thứ ba của Trần Thiện Chánh của tác giả Cao Tự Thanh đăng trên Tạp chí Xưa - Nay số 210, tháng 4-2004, trong đó có “Giới thiệu bản phục hồi bước đầu và bản dịch bài thơ nói trên”, tôi thật sự thích thú.

039
Bành Hàng là cháu nội Bình sự Nghi Dương Bành Huy Quân, lên kinh ứng thí không đậu, ở lại học tiếp chờ khoa sau, gởi cho vợ là nàng họ Trương một bài thơ rằng:

Mạc nhạ Tương Như hiến phú trì,
Cẩm thư thùy đạo lệ triêm y.
Bất tu hóa tác sơn đầu thạch,
Đãi ngã Đông đường chiết quế chi.

Được lưu truyền qua ViệtNam từ thế kỷ trước, Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng Linh đã có một đời sống khá phong phú. Nó được phổ biến rộng rãi tới mức đã hội nhập vào nhiều truyện kể dân gian Việt Nam từ Bắc tới Nam, đồng thời một số truyện khi được sao chép, phổ biến riêng rẽ còn đã hòa lẫn vào hệ thống các truyện kể Việt Nam viết bằng chữ Hán (chẳng hạn tập Thư mục Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (Catalogue des livres en Hán Nôm) của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Học viện Viễn Đông Bác cổ Pháp, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tập II, tr. 99 đã kể cả truyện La Tổ trong bản La Tổ truyện ký hiệu A.2560 vào thư mục sách Hán Nôm Việt Nam, trong khi đó là truyện La Tổ trong Liêu Trai chí dị, quyển IX(1): có lẽ người soạn mục từ này đã lầm tưởng địa danh “Tức Mặc” thuộc tỉnh Sơn Đông ở Trung Quốc trong truyện là Tức Mặc thuộc tỉnh Nam Định ở Việt Nam). Việc phổ biến Liêu Trai chí dị như vậy tất yếu dẫn tới sự hình thành một quá trình phiên dịch tác phẩm này ở Việt Nam.

Xuân nhật tức sự là một bài thơ hay, được các thi tuyển xưa chép vào phần thơ của Huyền Quang (1), do đó được nhiều người dẫn và bình luận (2). Có điều trong thơ văn chữ Hán của nước ta, đặc biệt trong thơ văn chữ Hán của các nhà sư Việt Nam có lẫn rất nhiều bài thơ của Trung Quốc. Chẳng hạn, trong số 40 bài thơ do Lê Quý Đôn chép lại trong Kiến Văn Tiểu Lục và nói là của Thiền sư Hương Hải, thì có đến 32 bài là của tác giả Trung Quốc đời Tống (3) mà ta có thể tìm lại trong các sách Trung Quốc hiện còn. Trường hợp Chân Nguyên cũng thế (4). Thậm chí những tác giả sống gần thời với ta như Viên Thành (1879-1928) cũng có những bài thơ chữ Hán của Trung Quốc chép trong thi tập của mình, mà những người sau do thiếu cẩn thận đã cho là của chính Viên Thành (5). Vậy Xuân nhật tức sự có ở trong trường hợp nhầm lẫn, gán ghép đó không?

Giống như mọi nền văn học, thơ văn chữ Hán ở bốn nước Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên cũng có những lối chơi chữ trên cơ sở sự đồng âm và cận âm, đồng nghĩa và đa nghĩa.... của từ vựng. Song sử dụng một thứ chữ viết tượng hình, mảng văn chương thuộc hệ thống “văn hóa chữ Hán” này còn có riêng một lối chơi chữ bằng tự hình rất độc đáo. Khởi đi từ một phong cách ngôn ngữ đặc biệt được gọi là Phong cách học Văn tự (Stylistique Graphique) mà thủ pháp phổ biến là chiết tự từ các hình thức đơn giản kiểu đố chữ tới các dạng thức kết hợp tự hình - ý nghĩa - âm thanh phức tạp hơn, lối chơi chữ này đã được nhiều tác giả trước nay vận dụng trong thực tiễn sáng tác mà kết quả là làm hình thành những tác phẩm độc đáo, những giai thoại bất ngờ.

Nguyễn Kim Sơn[1]

Từ then chốt: Phật tính; tam giáo; bất nhị; hòa quang đồng trần; lạc đạo, nhập thế. ( 佛性; 三 教; 不二; 和光 同 尘; 乐道; 入 世)

Tư tưởng Thiền của Trần Nhân Tông là tư tưởng Thiền nhập thế. Đây cũng là đặc điểm chung của tư tưởng các vị tiền bối của ông  như Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung.  Điều này đã được học giới cơ bản thống nhất công nhận. Tinh thần nhập thế đó thể hiện rõ ràng trong cả hành trạng, ứng xử, các lời thuyết giảng, thảo luận và trong thơ văn của Trần Nhân Tông. Điều này cũng  từng được nhiều người nói tới và đề cập trong các công trình nghiên cứu. Người  viết bài này tán thành với các nhận định về khuynh hướng nhập thế trong tư tưởng Thiền Trần Nhân Tông. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là, hầu như chưa có công trình nào tập trung lý giải một cách tường tận về nguồn gốc tư tưởng, những lý do thực tiễn, những căn nguyên hay nói theo cách của Phật học là những duyên khởi của tinh thần nhập thế  trong tư tưởng Trần Nhân Tông. Cũng có một vài ý kiến động chạm tới vấn đề này, thì  lại quá nhấn mạnh tới yếu tố tinh thần thời đại, khí thế dân tộc và cho đó là căn nguyên của tinh thần nhập thế. Vấn đề hầu còn bỏ ngỏ đó là đối tượng và hứng thú cho người viết thực hiện sự thảo luận nhỏ này.

 

Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh

 

 

 

Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh cho rằng, ở bài viết về cuốn “Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên”, do ông dịch và giới thiệu, đăng trên Tia Sáng mới đây, ngoài những điểm chính xác và rất đáng suy nghĩ, còn có một số chỗ ông thấy cần trao đổi lại với tác giả bài viết Nguyễn Bá Dũng.

Nhà nghiên cứu, nhà giáo Nguyễn Khuê những năm gần đây đã soạn và công bố nhiều công trình học thuật có giá trị cao, trong đó có công trình vốn là thành quả biên soạn từ lâu, được chỉnh sửa, bổ sung và xuất bản, có công trình soạn mới hoàn toàn. Quyển sách Khổng Tử, chân dung, học thuyết và môn sinh của thầy là công trình được biên soạn công phu, xuất bản vào giữa năm 2012. Quyển sách dày 744 trang, bìa cứng, được in rõ ràng và chính xác từng chi tiết, trình bày đúng quy cách một công trình khoa học. Những lỗi thường thấy về chữ Hán hay ngoại ngữ khác trong các sách có trích dẫn tiếng nước ngoài đều không tìm thấy ở đây. Được như vậy là nhờ bản thảo vi tính do chính tay thầy thực hiện. Danh mục tài liệu tham khảo được xếp thứ tự, gồm các thứ tiếng Việt, Hán, Pháp, Anh, gồm thâu nhiều nguồn tài liệu phong phú, đa dạng, đặc biệt là có nhiều tài liệu quý hiếm xuất bản trong nước và ngoài nước những năm gần đây, nhờ đó cập nhật được thông tin khoa học mới mẻ về các vấn đề quan tâm. Cuối sách còn có 2 bảng Sách dẫn rất công phu, nhờ đó người đọc dễ dàng tra cứu các trích đoạn từ Luận ngữ và tên các nhân vật được đề cập trong sách. Việc trình bày sách là một mẫu mực về hình thức một công trình khoa học.

 

Ai là tác giả mở đầu cho văn học Hán Nôm Gia Định? Bài “Hiếu trung hoài cô vịnh” của Võ Trường Toản có gì đặc biệt? Văn chương Thiên chúa giáo trong văn chương Hán Nôm Gia Định có gì lạ? “Tự hình” Hán Nôm là gì? Vì sao Lục Vân Tiên được nhân dân Nam Bộ ưa thích? Đó là những câu hỏi mà những người quan tâm đến văn học Hán Nôm Gia Định đặt ra và có thể tìm thấy lời giải đáp trong Văn học Hán Nôm ở Gia Định – Sài Gòn của hai tác giả Nguyễn Khuê và Cao Tự Thanh (NXB Văn hóa Văn nghệ, TP.HCM, 2011). Tập sách nằm trong bộ sách 100 câu hỏi đáp về Gia Định – Sài Gòn – TP.Hồ Chí Minh (NXB Văn hóa Văn nghệ, Cao Tự Thanh, Hoàng Mai chủ biên). Ông Nguyễn Khuê là giáo sư Hán Nôm của Đại học Văn Khoa Sài Gòn, nay là Trường ĐH KHXH& NV – ĐHQG TP.HCM, đã nghỉ hưu. Ông Cao Tự Thanh là nhà nghiên cứu tự do. Hai ông là những nhà nghiên cứu chuyên sâu về văn học Hán Nôm Nam Bộ - một lĩnh vực rất cần thiết, rất thú vị nhưng cũng rất hiếm chuyên gia. Đọc Văn học Hán Nôm ở Gia Định – Sài Gòn người đọc cảm nhận đằng sau những câu hỏi đáp có vẻ rất dễ đọc kia là cả một quá trình nghiên cứu công phu, nghiêm cẩn từ những tư liệu gốc. Có thể nói tập sách như một cẩm nang hay một “tiểu giáo trình” về văn học cổ điển Nam Bộ, có giá trị không chỉ cho độc giả rộng rãi mà còn cho cả những nhà nghiên cứu.

 

 

 

Thông tin truy cập

71397303
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
12345
31316
71397303

Đang có 292 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website