Ngọc lang quy玉郎歸(còn có quan điểm cho rằng nên đọc là Vương lang quy王郎歸, hoặc Nguyễn lang quy阮郎歸) của thiền sư Khuông Việt cho đến nay vẫn được coi là một trong những điểm nóng gây tranh luận trong giới nghiên cứu văn học tại Việt Nam và trên thế giới.

Dien co          Trong văn học, một trong những biện pháp tu từ được sử dụng phổ biến nhất là hình thức so sánh. So sánh là lấy phẩm chất của một cái này để làm nổi rõ đặc điểm của một cái khác. Tiến lên một bước, người ta không dùng hình thức so sánh, mà dùng hình thức ẩn dụ, hoán dụ. Thông thường, trong so sánh hay ẩn dụ, hoán dụ, người ta thường lấy những hiện tượng thiên nhiên để làm rõ những hiện tượng xã hội, hay phẩm chất của con người. Về mặt nào đó, điển cố cũng có phần giống với những hình thức ẩn dụ, hoán dụ. Nhưng có điều khác biệt là, điển cố như chất liệu dùng trong những hình thức ẩn dụ, hoán dụ không phải lấy trong thiên nhiên, mà lấy từ tác phẩm của các thời đại quá khứ xa xưa.

Điển cố đóng vai trò khá quan trọng trong văn học Việt Nam và Trung Hoa thời kỳ trung đại. Dùng điển cố, người sáng tác xưa không chỉ vận dụng nó như một phương tiện diễn đạt mà còn thể hiện vốn kiến thức dồi dào về lịch sử, văn học, xã hội, văn hóa, kinh nghiệm sống của người xưa. Tuy không còn đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tác như xưa, nhưng nhìn lại nền văn học quá khứ, điển cố thực sự chiếm lĩnh một vai trò và thể hiện một chức năng mạnh mẽ trong sáng tác. Có giai đoạn, điển cố là phương tiện hàng đầu và hữu hiệu cho người cầm viết, từ tác giả của những bài thơ, bài văn, đến nhà ngoại giao, chính khách, thậm chí kẻ đi học cũng tự trang bị cho mình vốn kiến thức trong mười năm đèn sách và thể hiện điển cố trong bài thi.

Từ buổi đầu cuộc chiếm đóng Nam Kỳ của Pháp, chữ Quốc ngữ bị xem như một toan tính của chính quyền thuộc địa hòng Âu hóa nền quốc học Việt Nam và như một thứ chữ rẻ tiền dưới con mắt của các sĩ phu thì đến Phong trào Duy Tân và Ðông Kinh Nghĩa Thục chữ Quốc ngữ được đón tiếp như một công cụ chuyển tải hữu hiệu những tư tưởng yêu nước, những tri thức mới.

20200212

Học sinh trường La San Taberd – được thành lập sau khi trường Adran đóng cửa. Tên trường đặt theo tên của giám mục Jean-Louis Taberd. Nguồn ảnh: flickr

Việc ghi tiếng Việt bằng mẫu tự Latin không phải là một hiện tượng đơn lẻ, chữ Quốc ngữ mà ta dùng hiện nay cũng chỉ là một trường hợp trong số hàng trăm ngôn ngữ đã được ghi lại dựa trên bảng chữ cái Latin. Công cuộc này được thực hiện ở tất cả các nước có dấu chân của các Thừa sai đến truyền giáo kể từ Phục Hưng (chỉ riêng Dòng Tên, từ năm 1540 đến 1773 đã soạn 164 cuốn từ điển, 165 cuốn ngữ pháp và 430 văn bản của 134 ngôn ngữ và 6 thổ ngữ” (Kloter 2007), chưa kể các Dòng khác tham gia vào quá trình truyền giáo như Đa Minh, Phan Sinh). Nhưng điều đặc biệt là, nếu không có những biến cố chính trị, lối viết theo mẫu tự Latin ở Việt Nam mãi vẫn chỉ là sản phẩm của ngữ học truyền giáo và chỉ được sử dụng trong khuôn khổ Giáo hội.

Khởi đầu từ những quyết định chính trị của chính quyền thuộc địa

Bước đầu vào nhà trường Nam Kỳ

Chúng ta đều biết, việc người người Pháp đổ bộ vào Cửa Hàn năm 1858 rồi đến khi họ đổ bộ vào Sài Gòn năm 1859 đã làm thay đổi tình hình chính trị của Việt Nam. Nền giáo dục và sự lựa chọn chữ viết của chúng ta cũng thay đổi theo.

Tới năm 1861, trường Adran Sài Gòn được thành lập. Người Pháp bắt đầu mở trường học và họ buộc phải lựa chọn tiếng Pháp hay tiếng Việt. Nếu dạy bằng tiếng Việt thì chọn chữ Nho hay chữ Quốc ngữ. Đại đa số người Pháp lựa chọn chữ Quốc ngữ vì theo họ chữ Nho quá khó. Theo Lucien de Grammont, trí thông minh của người Annam và Trung Quốc dồn vào việc học chữ thành ra khoa học các nước này không phát triển nổi. Hơn nữa việc học chữ Quốc ngữ còn cho phép trẻ con Annam học nhanh hơn, chỉ cần vài tháng là biết đọc, biết viết, trong khi cần phải mất mười năm mới giỏi được chữ Nho. Hơn nữa, chữ Quốc ngữ là trung gian để người Annam học chữ Pháp.

Một dòng quan điểm khác là của đô đốc Bonard, đến Sài Gòn năm 1861, ông chủ trương tôn trọng văn hóa và phong tục bản địa. Ông tổ chức dạy chữ Nho cho trẻ con bản xứ, còn người Pháp thì nên học chữ Quốc ngữ. Nhưng Bonard chỉ ở Nam Kỳ 2 năm, sau đó về Pháp vì lý do sức khỏe. Đô đốc Grandière lên thay, chủ trương mở trường học và dạy chữ Quốc ngữ.

Chính vì vậy, ngay từ năm 1864, chữ Pháp và chữ Quốc ngữ được dạy song song ở trường học. Ở thời kỳ này chữ Quốc ngữ cũng đã bắt đầu được dạy trong nhà trường tuy thời lượng còn ít. Đến năm 1871, Dupré ra quyết định theo đó các học trò phải viết các bài khóa bằng chữ Quốc ngữ ở kỳ thi đọc và viết bằng tiếng Việt. Ngày 17.11.1874, đô đốc Dupré ra quyết định tổ chức lại hoàn toàn nền giáo dục quốc dân. Nền giáo dục này được tuyên bố là miễn phí và tự do, tuân theo qui định chung của giáo dục quốc dân ở Pháp.

Đến năm 1882, thống đốc Lafont quyết định tất cả các văn bản tiếng Việt cần được viết bằng chữ Quốc ngữ và kể từ năm 1886, tất cả nhân viên hành chính đều phải biết chữ Quốc ngữ mới được tuyển. Trong chương trình học năm 1889, các thành viên của Hội đồng giáo dục quốc gia thống nhất chương trình dạy, trong đó có nhấn mạnh đến việc học sinh phải biết đọc, viết chữ Quốc ngữ và chữ Pháp, làm các phép tính bằng chữ Quốc ngữ.



Ngày 17.11.1874, đô đốc Dupré ra quyết định tổ chức lại hoàn toàn nền giáo dục quốc dân

 

Lan rộng ra Bắc và Trung Kỳ

Sau hiệp ước Protectorat năm 1884-1885, chữ Quốc ngữ lan rộng ra cả Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Rất nhanh chóng, số lượng các trường dạy chữ Quốc ngữ lên đến 117 trường năm 1887 (theo Pascale Bezançon, 2002). Các trường do chính quyền bảo hộ thay thế dần dần trường làng, hệ quả là trường do Pháp mở tăng lên nhanh chóng và số học sinh theo học chữ Hán giảm đáng kể. Trường Quốc học được thành lập năm 1896 để dạy tiếng Pháp cho những người sẽ là quan lại. Trường Hậu Bổ thành lập năm 1897 dạy cả tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ.

Rút kinh nghiệm từ hệ quả của việc xóa bỏ chữ Nho ở Nam Kỳ “dẫn đến sự bất ổn trong xã hội bản địa đồng thời làm giảm giá trị đạo đức của người dân ở Nam Kỳ...Việc học chữ Nho sẽ luôn cần thiết cho người dân An Nam. [Điều đó] cho phép họ không mất đi sự tiếp xúc với văn học cổ điển và với nền văn minh Trung Hoa mà họ gắn bó” như toàn quyền Simoni đã nhận xét năm 1910, ông đề nghị cần dạy chữ Quốc ngữ song song với chữ Hán. Chính vì vậy ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, mỗi tuần vẫn có vài giờ chữ Hán trong chương trình học.

Quyết định của thống đốc Lafont ban hành năm 1878.

Giao điểm của các luồng tranh luận đối nghịch

Tuy được đưa vào nhà trường và đời sống bằng quyết tâm chính trị nhưng có thể nói việc áp dụng chữ Quốc ngữ vào nền giáo dục không hề đơn giản và vấp phải rất nhiều khó khăn. Vì dẫu sao chính quyền Pháp khởi xướng cũng là kẻ đi chinh phục và không dễ thuyết phục người dân chấp nhận một lối viết khác thay thế chữ viết đã gắn bó suốt 19 thế kỷ.

Chữ Quốc ngữ đứng vào lằn ranh giữa hai làn sóng ủng hộ và phản đối quyết liệt, mà bên ủng hộ với đại diện là Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của, những người theo học trường Dòng phải đương đầu với nhóm các nhà Nho truyền thống như Nguyễn Ðình Chiểu, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, v.v. Cuộc đối địch không thuần xảy ra giữa hai hệ chữ viết của một ngôn ngữ mà còn giữa hai thái độ chính trị, những niềm tin tôn giáo khác nhau: Thiên chúa giáo với Khổng giáo và các tôn giáo khác trước đó đã ăn sâu vào tư tưởng của người dân.

Những sĩ phu ủng hộ chữ Quốc ngữ cho đó là vũ khí sắc bén trong công cuộc phổ biến tân học, khai dân trí, truyền bá tư tưởng yêu nước tiến tới giải phóng dân tộc, đem lại độc lập cho nước nhà. Theo Trương Vĩnh Ký: “Chữ Quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà. Cần phải nắm vững nó cho điều tốt đẹp và cho sự tiến bộ. Vì thế, chúng ta phải tìm mọi cách để phổ biến chữ viết này”. Ông cho rằng loại chữ viết đơn giản, dễ học này sẽ là phương tiện hiệu quả để tiếp thu những kiến thức mới vì ba lý do: “Thứ nhất, do nạn mù chữ đại trà trong dân, tiếp theo là chữ Hán sẽ không còn có ích một khi người Pháp cai trị Nam Kỳ và cuối cùng, chỉ cần ba tháng là có thể biết đọc và viết chữ Quốc ngữ”.

Đại diện cho bên phản đối áp dụng chữ Quốc ngữ là cụ đồ Nguyễn Đình Chiểu, theo cụ đó là thứ chữ của kẻ "xâm lược Tôn giáo và xâm lược lãnh thổ".  Sau này Phạm Quỳnh có tổng hợp lại ý kiến của bên phản đối chữ Quốc ngữ trên Nam Phong Tạp Chí (1927): “[họ cho rằng] Phàm văn tự, có khó khăn mới thâm thúy. Nay chữ Quốc ngữ dễ quá, đứa bé lên năm, học trò sơ học mở quyển sách ra cũng đọc lau láu được ngay, thì cái văn chương sản xuất bằng thứ chữ ấy tất là thô thiển bỉ tiện, không xứng đáng là văn chương được”. Theo ý Phạm Quỳnh, chính chữ Quốc ngữ là cái bè để cứu vớt bọn ta trong bể trầm luân vậy.


Báo cáo của Thống sứ Bắc Kỳ về việc đưa chữ Quốc ngữ và chữ Pháp vào kỳ thi Hương ở Nam Định. 


Không chỉ vậy, chữ Quốc ngữ cũng là giao điểm trong chủ trương dạy và học của chính những người Pháp cai trị. Trong việc áp dụng chữ Quốc ngữ sẽ có lợi cho người Pháp học tiếng Việt vì chúng ta hiểu rằng khi người Việt nói tiếng Việt thì chỉ cần học cách viết nhưng đối với người nước ngoài học tiếng Việt, họ sẽ phải học tiếng Việt thông qua con chữ- hiển nhiên chữ Quốc ngữ dễ học hơn với người Pháp vì cùng nằm trong mẫu tự Latin. Nhưng cũng có luồng ý kiến phản đối, như tại hội nghị Thuộc địa được tổ chức tại Paris năm 1889, Aymonier (giám đốc trường Thuộc địa) phản đối việc dạy chữ Quốc ngữ vì chữ viết này ghi lại một tiếng nói, và tiếng nói đó lại quá nghèo nàn1. Theo Aymonier, mục tiêu chủ yếu của nền học chính thuộc địa phải là dạy tiếng Pháp cho người Việt. Biết chữ Quốc ngữ không có lợi ích gì cho việc này. Việc giảng dạy thứ chữ này tại trường học bản xứ như vậy là phí phạm vô ích. Nên dồn tiền cho học chữ Pháp. Nếu chữ Pháp quá khó thì dạy một thứ tiếng Pháp tóm gọn.

Émile Roucoules là hiệu trưởng trường Chasseloup-Laubat ở Sài Gòn, thuộc phe ủng hộ chữ Quốc ngữ, đã lên tiếng phản bác Aymonier qua bài “Tiếng Pháp, Quốc ngữ và nền học chính tại Đông Dương – Trả lời ông Aymonier” ( Le français, le quốc-ngữ et l’Enseignement public en Inchochine – Réponse à M. Aymonier): “Dùng chữ Quốc ngữ theo đường hướng chúng tôi đã đề xướng có lợi điểm tức khắc là không cắt đứt với quá khứ và tạo ra những thói quen tập tục… Thứ chữ này sẽ là một phương tiện dù chậm nhưng chắc chắn và cần thiết… để truyền bá những ý niệm đầu tiên, khơi mào cho mọi việc”.

Bước ngoặt và các phong trào phổ biến chữ Quốc ngữ

Ngày 6.6.1898, Toàn quyền Ðông Dương đặt thêm một kỳ thi phụ cho khoa thi Hương trường thi Nam Ðịnh. Môn thi gồm năm bài tiếng Pháp và có phần dịch sang tiếng Việt (bằng chữ Quốc ngữ). Cuộc cải cách dạy học truyền thống của Việt Nam diễn ra vào năm 1906: các trường làng đặt dưới sự kiểm soát của cả các quan và Ty Giáo dục của Pháp. Cấu trúc chương trình dựa vào mô hình giáo dục của Pháp, chia thành 3 cấp: Ấu học, Thiếu học và Trung học (Trịnh Văn Thảo, 1995). Chữ Hán được dùng để dạy các môn luân lý, còn chữ Quốc ngữ được dùng để dạy Toán, các môn khoa học, lịch sử và địa lý.



Lớp học của trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn: Vietnamnet. 


Cùng với một loạt các cải tổ và đàn áp, nước Việt Nam dưới mắt người Pháp xem như đã được bình định, nhà cầm quyền Pháp bắt đầu đặt để những cơ chế về hành chính, giáo dục để cai trị các xứ thuộc địa và bảo hộ. Các cơ chế chính quyền của Triều đình nhà Nguyễn dần dần hoặc bị thay thế hoặc bị làm suy yếu đi không còn thực quyền. Hán học, nền tảng của công cuộc đào tạo sĩ phu, quan chức nhà Nguyễn, theo đó cũng tàn tạ nhường chỗ cho lớp quan chức mới xuất thân từ các trường Pháp-Việt. Chữ Quốc ngữ từ trong Nam lan ra đất Bắc, xen vào các kỳ thi; biết chữ Quốc ngữ trở thành một yêu cầu để bước vào quan trường.

Năm 1919, vua Khải Định ra chiếu rằng: “Kỳ thi năm nay là khoa thi cuối cùng, đường khoa cử từ đây dứt hẳn”2. Sự kiện đánh dấu sự chấm dứt của khoa bảng phong kiến Việt Nam và đánh dấu sự phổ biến rộng hơn của chữ Quốc ngữ trong các văn bản hành chính và trong giáo dục.

Bước ngoặt quyết định dẫn đến sự lan rộng mạnh mẽ của chữ Quốc ngữ là do chính các sĩ phu người Việt trong hàng ngũ Phong trào Duy Tân và Ðông Kinh Nghĩa Thục. Phong trào Duy Tân phát động từ năm 1905 ở Quảng Nam với ba lãnh tụ: Trần Quý Cáp, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. Phong trào chủ trương dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và đặc biệt dạy văn hóa, phổ biến kiến thức.

Ðông Kinh Nghĩa Thục khai giảng tháng 3 năm 1907 tại phố Hàng Ðào, Hà Nội, chương trình noi theo đường lối tân học của Trung Quốc và Nhật Bản. Trong các sĩ phu sáng lập có cụ cử Lương Văn Can, thục trưởng của Trường; cụ huấn Nguyễn Quyền, giám học; cụ án Nghiêm Xuân Quảng… và một số nhà tân học như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, v.v.  Mục đích của phong trào là: “khai trímở những lớp dạy học không lấy tiền (để đúng với cái tên là nghĩa thục). Dùng chữ quốc ngữ để dạy là lợi khí để khai dân trí, nhưng hợp với chiêu bài “khai hoá” mà người Pháp không có lý do gì cấm”.

Từ buổi đầu cuộc chiếm đóng Nam Kỳ của Pháp, chữ Quốc ngữ bị xem như một toan tính của chính quyền thuộc địa hòng Âu hóa nền quốc học Việt Nam, và như một thứ chữ rẻ tiền dưới con mắt của các sĩ phu thì đến Phong trào Duy Tân và Ðông Kinh Nghĩa Thục chữ Quốc ngữ được đón tiếp như một công cụ chuyển tải hữu hiệu những tư tưởng yêu nước, những tri thức mới.□

------------

Chú thích :

1 Thực ra quan điểm của Aymonier cho rằng tiếng Việt nghèo nàn và không diễn đạt được các tư tưởng siêu hình cũng giống như quan điểm của các Giáo sư Đại học Sorbonne vào thế kỷ 16 với tiếng Pháp. Vào thời đó, ngôn ngữ và chữ viết Latin được dạy trong trường Đại học ở Pháp và tiếng Pháp chỉ là ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày.

2 Việt Nam là nước cuối cùng xóa bỏ nền khoa cử Nho học. Nhật Bản đã bỏ các kỳ thi này năm 1868, Hàn Quốc năm 1894 và Trung Quốc năm 1904.

3 Ở trường bản xứ, trường địa hạt điều hành do quỹ thuộc địa tài trợ, các trường tổng điều hành dựa vào ngân sách các tỉnh, các trường khác sống do trợ cấp của các làng hay các tư nhân.

Tài liệu tham khảo

Aymonier, Etienne François & Roucoules, Emile. 2018. Chính sách giáo dục tại Nam Kỳ cuối thế kỷ 19. Lại Như Bằng dịch và chú giải.  Hà Nội: Nhà xuất bản Thế Giới.

Bezançon, Pascale. 2002. Une colonisation éducatrice ? L’expérience indochinoise (1860-1945), Paris : l’Harmattan.

Brocheux, Pierre & Hémery, Daniel. 1994. Indochine, la colonisation ambiguë, 1858-1954, Paris : Éditions La Découverte.

Cao, Huy Thuần. 2017.  Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa ở Việt Nam, Thành Phố Hồ Chí Minh : Nhà xuất bản Hồng Đức.

DeFrancis, John. 1977. Colonialism and Language Policy in Vietnam, Paris-New York : Mouton Publishers-The Hague.

Grammont, Lucien de . 1863. Onze mois de sous-préfecture en Basse-Cochinchine, Paris : Imprimeur de la préfecture et de la mairie.

Kelley, Liam C.. 2012. « Imagining the Nation in Twentieth Century Vietnam » Presented at the 4th Engaging With Vietnam: An Interdisciplinary Dialogue Conference .

Pascale Bezançon. 2002. Une colonisation éducatrice ? L’expérience indochinoise (1860-1945), Paris : l’Harmattan.

Roucoules, Emile. 1889. « Étude sur l’instruction publique en Cochinchine », Bulletin de la Société des Études Indo-chinoises de Saigon, 2e semestre, séance du 23 octobre 1889, p. 31.

Trinh, Van Thao. 1995. L’école française en Indochine, Paris : Karthala.

Lettre du Résident supérieur P.I au Tonkin, à Messieurs les Résidents chefs de province du Tonkin, administrateurs maires de Hanoi et de Haiphong et commandants de territoires militaires, Hanoi, le 1er juin 1910, Bulletin administratif du Tonkin, année 1910.

Bulletin Officiel de la Cochinchine française. 1878. Arrêté relatif à l’emploi légal de la langue annamite en caractères latins du 6 avril 1878, p. 110-111.

Khai dân trí
Chữ Quốc ngữ góp phần rất lớn vào công cuộc khai dân trí đặc biệt vào đầu thế kỷ 20. Trong tình cảnh đa phần dân Việt mù chữ, khai dân trí tức là làm cho dân trước tiên biết đọc, biết viết. Biết đọc rồi thì cần đọc gì ? Ngay từ năm 1865, ở Nam Kỳ đã xuất hiện tờ Gia Định báo với các mục lớn là công vụ, tạp vụ để phổ biến cho dân các thông tin cũng như các kiến thức thường thức. Sau đó là các tạp chí như Thông loại khóa trình (1888), Nhựt trình Nam Kỳ (1897), Phan Yên báo (1898), Nông cổ mín đàm (1901), Lục tỉnh tân văn (1907)… Ở Bắc Kỳ, xuất hiện Đăng cổ tùng báo (1907), Đông Dương tạp chí (1913)… Ngoài ra, rất nhiều sách khoa học, văn chương, nghệ thuật, triết học của Pháp được dịch sang tiếng Việt. Rất nhiều các tác phẩm văn học của Việt Nam được xuất bản bằng chữ Quốc ngữ như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên… Trong cuốn Chính sách giáo dục tại Nam Kỳ cuối thể kỷ 19, tác giả Lại Như Bằng (2018) trích theo Annulaire de Cochinchine française 1887, có đưa ra số liệu về tỷ lệ học sinh theo học tại các trường Pháp và trường bản xứ3. Số lượng trẻ con Nam Kỳ theo học tổng cộng là 27.256 em, trong khi dân số của Nam Kỳ năm 1887 là 1.765.135 (theo số liệu do Lại Như Bằng sưu tầm). Như vậy tỷ lệ trẻ con đi học trên tổng số dân ở Nam Kỳ thời kỳ này là 1,54%. Sau năm 1919, nền giáo dục thuộc địa gánh trên vai sức nặng lớn hơn, vì các học trò theo học trường làng với thầy đồ đến trường bản xứ học. Số lượng học sinh tăng hơn hẳn. Theo số liệu trong cuốn L’école française en Indochine của Trịnh Văn Thảo (1995), năm 1931-1932, tỷ lệ trẻ con đi học trên tổng số dân là 18% tính bình quân trên cả nước. Đây mới chỉ là số lượng trẻ con đi học tính trên phần trăm tổng số dân. Như vậy nếu chúng ta tính cả những người đã học xong và biết chữ, thì tỷ lệ biết chữ ở Việt Nam thời điểm này phải lên đến trên 20%. Theo Liam C. Kelly (2012), sự phổ biến kiến thức mới thông qua lối viết mới (chữ Quốc ngữ) ở đầu thế kỷ 20 gây ra một sự ngắt quãng về thế hệ giữa các trí thức người Việt. Theo Kelly, những người “Việt mới” này không còn nghĩ như các thế hệ trước đó. Bởi những khái niệm như dân tộc, tổ quốc, quốc dân, văn minh, khai hóa, tiến hóa, ái quốc tâm, cạnh tranh, chủng tộc được đưa vào chương trình dạy học. Chính những khái niệm mới mà người học trò được học dưới mái trường đã thúc đẩy sự ra đời của chủ nghĩa dân tộc với những câu hỏi về quyền con người, về Tổ Quốc, về độc lập, về tự do.

Phạm Thị Kiều Ly

Nguồn: Tạp chí Tia sáng, ngày 10.02.2020.

 

I. Gs. Bửu Cầm là một trong những nhà giáo, nhà nghiên cứu Hán Nôm có uy tín của giới nghiên cứu ở miền Nam những năm trước 1975. Ông sinh năm 1920 tại Huế. Là người trí thức có vốn Hán học, ông còn giỏi Pháp ngữ. Ông đã học và làm việc với cac nhà Hán học nổi tiếng đương thời. Ông đã từng là Trưởng ban Hán văn trường Quốc học Huế và trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn, chuyên nghiên cứu lịch sử và ngữ văn cổ trung đại Việt Nam, văn hóa, triết học cổ Trung Hoa. Quá trình làm việc của ông là quá trình đóng góp nhiều công trình giá trị về lịch sử, văn học, ngữ âm, văn hóa... cho nước nhà. Các công trình nghiên cứu khoa học của ông còn để lại bao gồm cả sách, bài báo dịch thuật, biên khảo, sáng tác trên các tạp chí uy tín khoa học bấy giờ , cung cấp cho người đọc nhiều kiến thức có giá trị khoa học và thực tiễn. Bên cạnh những giá trị đó, chúng tôi, những kẻ hậu sinh còn thấy một giá trị lớn ở ông: một tấm gương về phong cách nghiên cứu khoa học. Trong cuộc hội thảo hôm nay, chúng tôi xin trân trọng trình bày những đóng góp vô giá này của ông.

 

Chữ viết là một thành tựu vĩ đại của loài người. Từ khi có loại ngôn ngữ thị giác này, xã hội tiến sang kỷ nguyên xã hội văn minh ; trước đấy là xã hội tiền sử, chẳng để lại ghi chép gì, hậu thế chỉ biết về xã hội đó qua phỏng đoán của giới khảo cổ và các truyền thuyết miệng rất dễ « tam sao thất bản ». Các loại chữ viết đều phát triển theo quy luật chung là ngày càng đơn giản hóa, dễ học, đồng thời tăng thêm chữ mới.

Hầu như chữ viết của tất cả các dân tộc đều bắt đầu từ chữ tượng hình, sau đó tiến lên chữ biểu ý (chữ ghi ý), cuối cùng đến chữ biểu âm (chữ ghi âm). Riêng chữ Hán của Trung Quốc (TQ) khi tiến đến bước thứ hai thì dừng lại. Suốt 5000 năm sau đó, chữ Hán phát triển theo hướng tạo thêm chữ mới bằng 5 cách : chỉ sự, hội ý, hình thanh, giả tá, chuyển chú (nếu kể cả cách tượng hình là 6, tức Lục thư), chủ yếu tăng số chữ và số nét chữ, khiến chữ Hán trở nên phức tạp hơn — nghĩa là không theo quy luật chung của thế giới.

Đơn cử một trong những chữ Hán có quá nhiều nét, làm khổ người học khi phải nhồi vào óc mình những "tri thức" vô dụng như vậy. Chữ này có 54 nét, âm đọc [piang], là tên gọi 1 loại mỳ sợi đặc sản của tỉnh Phúc Kiến. Vẫn chưa bằng 1 chữ khác có tới 64 nét, gồm 4 chữ "Long" (rồng) xếp chồng lên nhau... Qua đây có thể thấy tư duy logic gàn dở trong việc tạo chữ Hán.

Vì chữ Hán là chữ biểu ý, nên người TQ ở các vùng khác nhau có thể đọc chữ Hán theo âm khác nhau, ta gọi là phương ngữ (TQ gọi là phương ngôn ; Hán ngữ hiện có 7 phương ngữ chính và nhiều phương ngữ nhỏ), người khác vùng nghe không hiểu nhau. Người TQ cho rằng đây lại là ưu điểm lớn vì đem lại khả năng làm cho dân chúng một quốc gia đất rộng người đông, phát triển không đồng đều như TQ có thể hiểu nhau qua chữ viết chung, qua đó thống nhất được đất nước. Cũng nhờ thế mà chữ Hán từng được Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản mượn dùng, theo cách chỉ mượn chữ mà không mượn tiếng — tức không đọc theo âm Hán ngữ, chỉ đọc theo âm bản ngữ (ở Việt Nam là âm Hán-Việt) — do đó người Việt, Nhật, Triều, TQ có thể giao lưu với nhau bằng bút đàm chữ Hán.

Sau dăm nghìn năm đóng cửa tự nhận là « trung tâm tinh hoa của thiên hạ », khi tiếp xúc với văn hóa phương Tây, người TQ mới thấy chữ viết của người ta đều là chữ biểu âm, có ưu điểm là chỉ dùng vài chục chữ cái đơn giản mà tạo ra cả một hệ thống từ ngữ hoàn hảo, nói thế nào viết thế ấy, dễ đọc dễ viết dễ nhớ, tiện truyền điện báo, đánh máy chữ, sắp bản in bằng con chữ rời ; nhờ thế ở phương Tây tỷ lệ dân biết chữ cao, khoa học kỹ thuật (KHKT) phát triển, nước mạnh dân giàu. Ngược lại chữ Hán rất phức tạp, khó viết, khó đọc, khó nhớ, tạo chữ tùy tiện, thiếu tính khoa học, khi dùng dễ nhầm lẫn [1], lại có quá nhiều chữ.

Khi nhận định nguồn gốc sự nghèo khổ lạc hậu của nước mình, đa số trí thức TQ hồi ấy chưa chú ý đầy đủ tới chế độ chính trị độc tài chuyên chế mà đổ tất cả tội lỗi lên chữ Hán. Họ đơn giản cho rằng do chữ Hán khó học nên hầu hết dân mù chữ, trình độ giáo dục quá thấp, khiến cho KHKT không phát triển được, TQ vì vậy nghèo khổ lạc hậu.

Và thế là giới trí thức TQ hăng hái yêu cầu cải cách chữ viết. Nhưng việc này đụng chạm tới nền văn hóa 5000 năm của họ, vì chữ Hán là vật mang và biểu trưng của văn hóa truyền thống nước này. « Chữ Hán là xương sống của nền văn hóa TQ » — nhà ngôn ngữ học người Anh L. R. Palmen nhận xét. Động chạm tới cái xương sống ấy ắt sẽ xảy ra lắm rắc rối.

Đúng vậy, quá trình cải cách chữ Hán cực kỳ rắc rối. Nhìn chung công cuộc cải cách chữ Hán thời kỳ đầu thiếu tính hệ thống, thiếu xem xét toàn diện, có lúc vội chạy theo xu hướng thay chữ Hán bằng chữ biểu âm mà chưa biết rằng do để cho chữ biểu ý tồn tại quá lâu nên đã tạo ra nhiều trở ngại khiến chữ Hán không còn khả năng tiến hóa thành chữ biểu âm nữa. Hậu quả là quá trình cải cách diễn ra gay go lâu dài, chữ Hán từng có nguy cơ bị bãi bỏ, và cho tới nay vẫn còn chưa thể khẳng định tương lai. Nếu không xuất hiện công nghệ máy tính thì chữ Hán khó có thể tồn tại tiếp.

Một số nhược điểm của chữ Hán

1) Có quá nhiều chữ, người bình thường không thể nhớ hết. Thời nhà Thương có khoảng 2000 chữ ; thời Tần-Hán — 9.353 chữ ; thời nhà Thanh — khoảng 60.000. Thời nay chưa có số liệu chính xác, thường nói khoảng 100 nghìn chữ. Sách Thuyết văn giải tự của Hứa Thận (đời Hán) lần đầu thống kê lượng chữ Hán, thu thập được 9.353 chữ. Sách Ngọc thiên của Cố Dã Vương (thời Nam Triều) — 16.917 chữ; Tập Vận (đời Tống) — 53.525 ; Khang Hy Tự điển (đời Thanh) — 47.035 ; Trung Hoa Tự hải (thế kỷ XX) — 85.568 ; Tiêu chuẩn Nhà nước TQ GB18030 (2005) — 70.217 chữ.

Việc tạo chữ rất vô lý, có chữ chỉ là tên một địa phương, một con sông, ngọn núi, một dòng họ, thường chẳng dùng đến mà cũng phải học. Riêng bộ thủ đã có khoảng 200 (tùy cách chia, có thể là 189 bộ, 214 bộ ; TQ hiện quy định có 201 bộ chính và 99 bộ phụ).

Thực ra số chữ thường dùng không quá nhiều. Một tài liệu cho biết 1000 chữ thường dùng có thể đủ khả năng để viết 92% các tư liệu ; 2000 chữ thường dùng — hơn 98% ; 3000 chữ thường dùng — 99%. Nghĩa là các chữ còn lại đều rất ít dùng.

2) Chữ viết tách rời âm đọc, học chữ nào biết chữ ấy, chữ chưa học thì nhìn chữ không đọc được âm, nghe đọc không viết được chữ. Có quá nhiều chữ đồng âm, tức cùng âm nhưng khác mặt chữ và khác nghĩa, bởi thế khi nghe đọc rất dễ hiểu nhầm ý và viết nhầm chữ. Như hai chữ 越, 粤 đọc cùng âm [yuè], nếu không nhìn mặt chữ sẽ nhầm lẫn giữa Việt (trong Việt Nam) với Quảng Đông.

Sở dĩ có nhiều chữ đồng âm là do Hán ngữ quá nghèo âm tiết, do đó để thể hiện lời nói và tư duy, người ta phải đặt ra cực nhiều chữ khác tự dạng mà âm như nhau ; tổng số chữ Hán gấp hàng trăm lần tổng số âm tiết. Chúng tôi thử thống kê chữ trong Tân Hoa Tự điển bản in 2006, toàn bộ chỉ có 415 âm tiết (cả 4 thanh điệu) ; nhưng âm [yuan] có 41 chữ 元, 原, 嫄, 沅, 源, 羱, 芫, 螈,黿 .... ; âm [yi] có tới 147 chữ ; cả bộ tự điển chỉ có 21 chữ không có chữ đồng âm, như 给 [gei], 能 [neng], 日 [ri], 誰 [shéi] ..., còn lại đều có chữ đồng âm (Tự điển khác nhau thì số chữ này có thể khác nhau). Khi dùng chữ vuông thì các chữ đồng âm này phân biệt được với nhau bằng mặt chữ, nhưng khi chuyển sang dùng chữ cái ghi âm thì do tự dạng và âm đọc như nhau nên không thể phân biệt được. Nhược điểm này làm thất bại mọi ý định thay chữ vuông bằng chữ cái ghi âm và do đó chữ Hán mãi mãi khó học.

3) Có nhiều chữ đa âm, vì thế nhìn mặt chữ không biết đọc thế nào, nhất là với chữ đơn độc. Như 說 có 3 âm [shui], [shuo], [yue] ; 和 có 5 âm [hé], [hè], [huó], [hùo], [hú]. Một tài liệu nói trong 3.500 chữ Hán thường dùng có 250 chữ đa âm. Một thống kê nói chữ đa âm chiếm 16,7% kho chữ Hán. Nhiều chữ vừa đa âm vừa đa nghĩa, mỗi âm một nghĩa khác nhau, gọi là chữ Phá âm (Phá âm tự). Như 給, khi dùng với nghĩa « cho » thì đọc [gẻi], nhưng khi dùng với nghĩa « cung ứng » lại phải đọc [jỉ]. Chữ 數 có 3 âm đọc là [shù], [shǔ], [shùo], mỗi âm có một nghĩa khác nhau, rất dễ đọc nhầm dùng nhầm. Cá biệt có chữ đa âm nhưng cùng nghĩa, đọc thế nào cũng được. Như chữ 誰 đọc [shéi] hoặc [shúi] ; chữ 血 đọc [xiẻ] hoặc [xuè] đều được. Nghĩa là không có quy luật.

4) Phần lớn chữ có nhiều nét, mặt chữ phức tạp, khó nhớ khó viết. Trong bảng 2000 chữ thường dùng (Bộ Giáo dục TQ công bố năm 1952, nhằm đưa ra quy định về số lượng tối thiểu chữ Hán mà một người biết chữ cần biết đọc và viết), bình quân mỗi chữ có 11-12 nét, 221 chữ hơn 17 nét. Ngoài ra tổ hợp nét không theo quy luật. Chữ nhiều nét khó viết nhanh, nhỏ, vì các nét quá gần nhau, nhất là thời xưa in bằng bản khắc gỗ, dễ gây nhầm lẫn. Đọc chữ nhiều nét rất hại mắt. Có chữ do dân tự sáng tác theo hướng càng nhiều nét càng tốt, không thể in được, chỉ có thể viết tay. Như một chữ 58 nét, đọc [biang], chỉ là tên một loại mỳ sợi đặc sản ở tỉnh Thiểm Tây. Chữ nhiều nét nhất ghép bởi 4 chữ Long phồn thể (2 trên 2 dưới), 64 nét, đọc [zhe].

5) Chữ Hán khó xử lý bằng cơ khí và bằng công nghệ thông tin (CNTT), cụ thể là khó đưa vào máy chữ hoặc máy tính. Kho chữ Hán trữ trong máy tính chiếm một không gian lớn bằng 284 không gian tồn trữ chữ cái tiếng Anh. Cũng vì thế phông (font) chữ Hán rất khó biến đổi, chỉ có vài chục loại, vì mỗi lần thay phông (thí dụ Tống thể, Khải thể) thì phải thay ít nhất 3500 chữ (tối đa cả trăm nghìn chữ), còn tiếng Anh chỉ cần thay vài chục chữ cái. Một tài liệu nói giá thành phần mềm Hán ngữ bằng 4427 lần Anh ngữ, phần cứng bằng 8,53 lần. Tuy vậy, do CNTT ngày càng phát triển nên nhược điểm này sẽ ngày càng dễ giải quyết.

6) Chữ Hán không viết hoa được, cho nên khi ghi các danh từ riêng dễ gây nhầm lẫn, và khó viết tắt, ít nhất phải dùng 2 chữ để tạo một từ viết tắt. Tiếng Anh có thể dùng một từ thay cho từ nhiều chữ. Như Tổ chức Thương mại Thế giới tiếng Anh viết tắt WTO, chữ Hán là Thế Mạo 世貿 ; song bù lại chữ Hán viết tắt vẫn thể hiện được nghĩa chữ.

Ngày nay, do sử dụng máy tính nên việc đánh máy chữ Hán trở nên cực kỳ thuận tiện, giảm bớt khó khăn cho người học chữ Hán, đỡ phải nhớ kho chữ khổng lồ và lắm nét, về cơ bản chỉ cần nhớ mặt chữ và nghĩa là được.

Ngoài ra văn chữ Hán thời xưa đều viết theo lối văn Văn ngôn hay Cổ văn, khác với lối nói trong đời sống (văn Bạch thoại). Văn ngôn chỉ dùng để viết, dùng cực ít chữ, cả cuốn sách viết liên tục, không ngắt câu, không xuống dòng, danh từ riêng không viết hoa v.v...cho nên cực kỳ khó hiểu và dễ nhầm lẫn, người TQ thường phải đọc bản dịch ra Bạch thoại. Nhưng cho tới nay có người vẫn viết theo lối cổ văn, vì cho rằng loại văn này có ý nghĩa thâm thúy.

Do chữ Hán khó học nên hầu hết dân TQ thời xưa đều mù chữ, mãi mãi ngu dốt, cam chịu làm nô lệ. Lỗ Tấn nói chữ vuông « là khối u trên con người tầng lớp đại chúng lao khổ TQ », « là lợi khí của chính sách ngu dân ». Vì đa số dân ngu dốt nên nền văn minh TQ nói chung tuy phát triển sớm nhưng sau đó nhanh chóng bị các nước phương Tây vượt qua và bỏ xa. Cũng do khó học nên Hán ngữ không thể trở thành ngôn ngữ có tính quốc tế, làm cho sức mạnh mềm của TQ bị giảm đáng kể, tuy rằng số người dùng Hán ngữ nhiều nhất thế giới.

Các nhược điểm của chữ Hán còn ảnh hưởng tới các mặt khác. W. C. Hannas nhận xét: Việc học thuộc lòng chữ Hán tạo ra ở người TQ thái độ tuân theo quy củ và thói quen trọng phương pháp mà không trọng kết quả, mất rất nhiều thời gian vào việc viết chữ, thiếu thời gian suy nghĩ. Học Hán ngữ sẽ thúc đẩy tư duy thực tiễn chứ không phải tư duy trừu tượng, do đó làm yếu sức sáng tạo ở tầng sâu. Hệ chữ cái của phương Tây có thể sớm trau dồi năng lực phân tích và suy nghĩ trừu tượng [2].
Các nhược điểm của chữ Hán cũng có ảnh hưởng tới chữ Nôm Việt Nam.

Tuy vậy, cho tới nay một số người vẫn cho rằng vì mang tính biểu ý nên chữ Hán có ưu điểm hơn chữ Quốc ngữ. Năm 1989 nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo viết : Có người tiên đoán chỉ vài ba mươi năm nữa, cả thế giới sẽ nhất loạt dùng chữ Hán để viết tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc [3]. Thực tế cho thấy 26 năm đã qua, chưa nước nào dùng chữ Hán; ngược lại toàn thế giới, nhất là TQ, lao vào học tiếng Anh. Chính phủ TQ bỏ cả tỷ USD lập hàng trăm Viện Khổng Tử trên toàn cầu nhằm phổ cập Hán ngữ, nhưng hiệu quả rất kém và đang bị tẩy chay vì lồng động cơ chính trị vào văn hóa.

Tình hình cải cách Hán ngữ

Người TQ sớm nhận ra phần nào mặt hạn chế của chữ Hán, vì thế ngay từ thời xưa, khi viết các chữ nhiều nét thì họ tự ý bỏ bớt nét chữ. Từ cuối thế kỷ XIX do gắn liền việc cải cách Hán ngữ với vận mệnh dân tộc, họ mới bắt đầu cải cách toàn diện và nhanh hơn.

Nhìn chung họ đã tiến hành cải cách Hán ngữ theo mấy hướng : - Đơn giản hóa chữ viết, trước hết là chữ nhiều nét, nhằm để chữ Hán trở nên dễ học, dễ phổ cập. - Ghi âm chữ Hán, nhằm thống nhất trong cả nước cách đọc chữ Hán. - Trên cơ sở ghi âm được chữ Hán, nghiên cứu khả năng bỏ hẳn chữ vuông, chuyển sang chữ biểu âm dưới dạng văn tự dùng chữ cái (như chữ Latin hoặc Slav), nhằm triệt để sửa các nhược điểm vốn có của chữ Hán.

Thời phong trào Duy Tân, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng chủ trương ghi âm hóa (拼音化) chữ Hán, nhưng chủ trương đó chết yểu vì phong trào ấy chỉ tồn tại có 100 ngày.

Phong trào cải cách chữ Hán lên cao nhất vào thời Ngũ Tứ. Năm 1918, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Tiền Huyền Đồng [4] từng nói chữ Hán dứt khoát không thể dùng cho thế kỷ XX ; ông nêu khẩu hiệu “Muốn phế bỏ Khổng học [tức Nho giáo], không thể không trước tiên phế bỏ chữ Hán ». Trần Độc Tú và Hồ Thích chủ trương trước hết bỏ chữ Hán, chuyển sang dùng chữ cái La Mã. Hồ Thích nói phải dùng văn tự bạch thoại thay cho văn tự văn ngôn, sau đó biến văn tự bạch thoại thành văn tự ghi âm.

Trong Phong trào Tân Văn Hóa, báo Tân Thanh Niên mở cuộc thảo luận về cải cách chữ viết. Rất nhiều học giả TQ đều cho rằng chữ viết trên thế giới đều trải qua 3 giai đoạn : tượng hình → biểu ý → biểu âm ; chữ Hán không phải là chữ biểu âm cho nên là loại chữ « dã man, lạc hậu ». Chữ Hán khó học, khó viết, khó nhận mặt chữ, là trở ngại cho phổ cập giáo dục. Lỗ Tấn nói « Không diệt chữ Hán thì TQ ắt mất nước » (Hán tự bất diệt, TQ tất vong), ông muốn bỏ loại văn tự chữ vuông biểu ý mà dùng văn tự chữ cái biểu âm. Hồ Thích, Sái Nguyên Bồi, Tiền Huyền Đồng ... tán thành đơn giản hóa chữ Hán hoặc bỏ hẳn chữ Hán, dùng chữ ghi âm mới (新拼音文字) và đưa ra phương án cụ thể.

Họ đã phát động phong trào Văn Bạch thoại và phong trào Văn tự giản hóa, coi là một phần của cuộc vận động Tân Văn hóa. Từ sau năm 1919, văn Bạch thoại dần dần thay cho văn văn ngôn.

Sau khi nước CHNDTH ra đời, công cuộc cải cách được đẩy mạnh với quyết tâm cao và theo một kế hoạch bài bản. Năm 1955, Ngô Ngọc Chương [5] phát biểu : Chữ Hán có rất nhiều khuyết điểm nghiêm trọng, không thể thích ứng với đời sống hiện đại.

1) Cải cách theo hướng đơn giản hóa chữ Hán

Ngay từ thời còn viết chữ trên mai rùa, người TQ đã có hai cách viết chữ Hán : viết chữ giản thể (Tục thể tự, tức chữ bớt nét) và viết chữ phồn thể (Chính thể tự, tức chữ đủ nét). Các văn bản chính thức đều dùng phồn thể, còn dân chúng viết tay thường dùng giản thể.

Riêng thời Thái bình Thiên quốc (TBTQ, 1851-1864), chữ trên con dấu và các văn bản nhà nước đều dùng chữ giản thể, tổng cộng dùng hơn 100 chữ giản thể ; sau này nước CHNDTH đã sử dụng khá nhiều chữ đó. Thí dụ TBTQ đã sửa chữ 國thành国, tức thay或 bằng玉, bớt được 3 nét. Nhưng khi TBTQ bị tiêu diệt thì phong trào giản hóa chữ viết cũng dừng lại.

Năm 1922, Tiền Huyền Đồng và Lê Cẩm Hy đưa ra Phương án giảm số nét của chữ Hán hiện dùng, Tưởng Giới Thạch tán thành. Phương án này gồm 1.000 chữ giản thể được nộp lên Bộ Giáo dục, nhưng vì thận trọng, Bộ này không chọn hết. Tháng 8/1935, Chính phủ Quốc Dân Đảng (QDĐ) công bố 324 chữ giản thể dựa trên các nguyên tắc : - Thuật nhi bất tác, tức dùng lại các chữ giản thể có từ thời xưa ; - Ưu tiên dùng các chữ giản thể xã hội đang sử dụng rộng rãi ; - Không giản hóa các chữ đã được giản hóa. Thế nhưng phương án giản hóa chữ này bị các nguyên lão QDĐ phản đối kịch liệt, nhất là Đới Quý Đào. Tháng 1/1936 Chính phủ phải tuyên bố hoãn thi hành.

Đầu năm 1935, giới văn hóa Thượng Hải phát động phong trào giản hóa chữ Hán với quy mô lớn, gọi là « Phong trào chữ viết tay », nghĩa là bình thường viết chữ như thế nào thì sách báo cũng phải in chữ như thế, như vậy đại chúng dễ đọc, dễ viết, dễ hiểu chữ. Năm 1934, Tiền Huyền Đồng đưa ra phương án 2.400 chữ giản thể.

Tại vùng do Đảng CSTQ kiểm soát, công tác cải cách chữ Hán vẫn tiến hành mạnh mẽ, đặc biệt việc giản hóa chữ Hán đã thành công lớn, chữ giản thể được gọi là « chữ Giải phóng ».

Mao Trạch Đông thời trẻ đã cho rằng chữ phồn thể là rào cản do giai cấp thống trị phong kiến đặt ra để độc quyền tri thức, ngăn cản đại chúng nhân dân làm chủ tri thức ; muốn xóa nạn mù chữ thì phải đơn giản hóa chữ phồn thể.

Sau giải phóng, trước tình hình 85% dân mù chữ, CT Mao chủ trương tập trung vào việc giản hóa chữ Hán. Tháng 10/1950, Bộ Giáo dục đưa ra dự thảo bảng chữ giản thể gồm 550 chữ. Năm 1952 lại đưa ra phương án 700 chữ giản thể. Nhưng CT Mao cho rằng như vậy còn quá ít, nên vừa bớt nét chữ vừa bỏ bớt một số chữ Hán.

Ngày 31/3/1956, Chính phủ TQ công bố Phương án giản hóa chữ Hán, gồm 515 chữ giản thể (Simplified Chinese Characters) và 54 Thiên bàng (bộ thủ) giản hóa. Nhờ thế đã đẩy nhanh tốc độ xóa mù chữ và công tác giáo dục, thông tin. Tỷ lệ mù chữ năm 1964 chỉ còn 32%. Nhưng cũng có người lợi dụng nguyên lý giản hóa chữ để tự ý giản hóa chữ Hán.

Năm 1973, Thủ tướng Chu Ân Lai yêu cầu tiếp tục công tác giản hóa chữ viết. Năm 1975, Ủy ban Cải cách văn tự trình dự thảo Phương án giản hóa chữ Hán lần thứ hai (Second-round simplified Chinese character) gọi tắt Nhị Giản (SRSC), gồm 2 bảng. Bảng một có 248 chữ giản thể, thi hành ngay; Bảng hai gồm 605 chữ giản thể, đưa ra để mọi người bàn bạc góp ý chứ chưa thi hành.

Ngày 20/12/1977, Nhân dân Nhật báo bắt đầu thử dùng Nhị Giản, sau đó ngành Giáo dục thử dùng cho sách giáo khoa.

Do tác động của tư tưởng tả khuynh, khi làm Nhị Giản người ta không cho các nhà trí thức (bị công nông binh chê là « Thối như cứt ») tham gia, cũng không hỏi ý kiến họ, bởi vậy Nhị Giản có nhiều nhược điểm, chủ yếu là giản hóa quá mức, làm mất đặc điểm mỹ quan của chữ Hán, thoát lý nguyên tắc tạo hình trong lịch sử, vì thế khi sử dụng đã gây ra rối loạn.

Tháng 3/1978, một số nhà trí thức, trong đó có Châu Hữu Quang đề nghị Quốc hội bãi bỏ Nhị Giản. Ngày 24/6/1986 Chính phủ tuyên bố bãi bỏ Nhị Giản. Nhưng do đã lưu hành một thời gian khá lâu nên nhiều người vẫn quen dùng một số chữ Nhị Giản. Từ đó, Chính phủ TQ không đưa ra thêm bất kỳ phương án giản hóa nào, thậm chí các ban ngành liên quan còn xem xét lại tính cần thiết của phương án giản thể lần thứ nhất.

Sau khi dùng thử và mở rộng « Giản hóa tự tổng biểu » ban hành năm 1964, tháng 10/1986 TQ đưa ra « Giản hóa tự tổng biểu » đã sửa đổi, gồm 2.274 chữ giản thể và 14 Thiên bàng giản hóa. Trong đó 68 chữ giản thể có từ thời Tiên Tần, 96 chữ thời Tần Hán, 32 chữ thời Tam Quốc, Lưỡng Tấn, Nam Bắc triều, 29 chữ thời Tùy, Đường, Ngũ đại, 82 chữ thời Tống, Liêu, Kim, Nguyên, 53 chữ thời Minh, Thanh, Thái bình Thiên quốc, 60 chữ thời Dân quốc.

Ngày 31/10/2000, Quốc hội TQ thông qua Luật văn tự ngôn ngữ thông dụng nhà nước của nước CHNDTH, thống nhất tất cả các quy định liên quan tới chữ viết Hán ngữ.

Hiện nay TQ đại lục và Singapore (nơi có nhiều người Hoa) chỉ dùng chữ giản thể.

Riêng Đài Loan vẫn dùng chữ phồn thể (Traditional Chinese Characters). Năm 1952, Tưởng Giới Thạch đề xuất vấn đề giản hóa chữ Hán một cách thích hợp, và thành lập Ủy ban nghiên cứu chữ giản thể. Nhưng đa số học giả và dân biểu quốc hội Đài Loan phản đối. Có người nói « chữ viết là tài sản chung của muôn đời, không cho phép một số người chuyên quyền độc đoán. » Hồ Thu Nguyên, Ủy viên Trung ương QDĐ nói « Giản hóa chữ Hán là phá hoại văn hóa truyền thống, ai làm việc ấy sẽ là tội đồ muôn đời của dân tộc Trung Hoa ». Cuộc tranh cãi sau đó bị chính trị hóa, vì khi ấy đại lục đã thực hiện giản hóa chữ Hán, Đài Loan không thể bắt chước « Cộng phỉ ». Rốt cuộc Tưởng đành im lặng ; ai còn bàn chuyện đó thì bị coi là thông đồng với « giặc ». Năm 1969, Hà Ứng Khâm lại nêu vấn đề nên dùng chữ giản thể, cuối cùng cũng vì lý do chính trị nên bị phản đối. Thực ra tỷ lệ người biết chữ ở Đài Loan rất cao, hơn nữa việc phổ cập máy tính khiến cho viết chữ phồn thể không còn khó khăn như trước, cho nên không còn lý do để giản hóa chữ Hán. Năm 2011, Thủ tướng Đài Loan Ngô Đôn Nghĩa tái khẳng định không thay đổi chính sách dùng chữ phồn thể.

Trên thực tế, cho tới nay người TQ vẫn không ngừng tranh luận về vấn đề giản thể hay phồn thể. Tháng 3/2015, hai đạo diễn Phùng Tiểu Cương và Trương Quốc Lập đưa ra « Lưỡng hội » họp ở Bắc Kinh đề án khôi phục một bộ phận chữ phồn thể có hàm nghĩa văn hóa nhằm kế tục nét đẹp của văn hóa truyền thống (100 200 chữ, như chữ thân ái). Đề án này trái với Luật ngôn ngữ văn tự, nhưng vẫn được nhiều người quan tâm. Cũng có người phản đối, như chuyên gia văn tự Đảng Hoài Hưng nói làm thế sẽ rất tốn kém. Phái tán thành cho rằng trong thời đại máy tính, việc dùng chữ phồn thể không tốn kém hơn chữ giản thể.

2) Cải cách theo hướng ghi âm chữ Hán và thay chữ Hán bằng chữ ghi âm

Do chữ Hán không thể hiện âm đọc nên người ta có thể tùy tiện đọc chữ theo nhiều cách khác nhau, gây rối loạn về ngôn ngữ. Tại nước đất rộng người đông này có rất nhiều tiếng địa phương (phương ngữ, TQ gọi là phương ngôn), mỗi địa phương đọc chữ theo âm khác nhau, vì thế không hiểu tiếng của nhau. Hiện nay có 7 phương ngữ lớn và nhiều phương ngữ nhỏ.

Để thống nhất cách đọc chữ Hán, nhất thiết phải ghi âm được chữ Hán, tức dùng một loại ký hiệu ghi âm để thể hiện âm đọc của mỗi chữ. Thời xưa đã có phương pháp trực âm và phương pháp phiên thiết [6] ; cả hai cách này đều bất tiện, vì đều dùng 1 hoặc 2 chữ Hán khác để ghi âm ; vả lại có những chữ không thể ghi âm theo cách đó.

Người đầu tiên dùng chữ Latin để ghi âm chữ Hán là Matteo Ricci, một giáo sĩ người Ý truyền giáo tại TQ. Năm 1605, ông công bố phương án dùng 26 thanh mẫu, 5 vận mẫu, 5 thanh điệu để ghi âm chữ Hán, được nhiều học giả hoan nghênh. Từ đó trở đi TQ bắt đầu có phong trào tìm cách ghi âm chữ Hán. Trước năm 1946, đã có khoảng 30 phương án, đều dựa trên cơ sở phương án Ricci.

Năm 1867, Thomas Francis Wade thư ký Trung văn ở Sứ quán Anh tại TQ [7] xuất bản sách « Ngữ ngôn tự nhĩ tập », đưa ra quy tắc ghi âm Hán ngữ bằng chữ Latin. Về sau nhà truyền giáo Herbert Allen Giles sửa lại và công bố dưới tên Hệ thống ghi âm Wade-Giles (Wade-Giles system), có in trong Từ điển Anh-Hoa xuất bản năm 1892 ở Thượng Hải. Năm 1906, Hội nghị Bưu điện đế quốc họp tại Thượng Hải quyết định dùng hệ này để phiên âm chữ Hán trong ngành điện báo. Từ đó chữ Hán ghi âm bằng chữ Latin lần đầu tiên được sử dụng trên thế giới và trở thành hệ thống phiên âm chữ Hán phổ biến nhất cho đến thập niên 1980, khi TQ dùng phương án ghi âm chính thức của họ. Tuy vậy nhiều tên Hán ngữ các danh từ riêng theo hệ Wade-Giles do quen dùng nên vẫn tồn tại tới nay, như thuốc lá Chunghwa (Trung Hoa), rượu vang Changyu (Trương Dụ), I-ching (Dịch kinh), Tai-chi (Thái cực), Peking (Bắc Kinh)... Đài Loan nay vẫn dùng hệ này để phiên âm tên đất, tên người, như Taichung (Đài Trung), Kaohsiung (Cao Hùng)... Nhưng cách ghi âm này có một số nhược điểm.

Năm 1892, Lô Tráng Chương đưa ra phương án « Thiết âm văn tự », ghi âm bằng chữ Latin[8], tuy không được sử dụng nhưng đã mở đầu phong trào ghi âm Hán ngữ của người TQ.

Năm 1913, chính quyền TQ họp Hội nghị thống nhất âm đọc chữ Hán, họp liền ba tháng mới thẩm định được âm đọc của 6.500 chữ Hán.

Năm 1918 Bộ Giáo dục Chính phủ Bắc Dương công bố Bảng chữ cái ghi âm (注 音 字 母 Chú âm tự mẫu, từ 1930 gọi là 注 音 符 號 Chú âm phù hiệu) dùng để ghi chú âm đọc của mỗi chữ Hán. Mới đầu gồm 39 chữ cái, sau thêm một, hiện nay dùng 37 chữ cái (21 thanh mẫu và 16 vận mẫu), các chữ cái này có tự dạng lấy từ chữ Hán cổ ít nét nhất dựa theo chữ cái ghi âm của Chương Thái Viêm. Như các chữ cái ㄅ, ㄆ, ㄇ, ㄈ ứng với âm đọc các chữ Hán 玻, 坡, 摸, 佛, đọc theo tiếng Việt là puô, p’uô, muô, phuô. Chú âm phù hiệu có thể ghi được toàn bộ các âm của chữ Hán, đã sử dụng thành công ở đại lục thời gian 1920-1958 và tiếp tục sử dụng ở Đài Loan ; học sinh tiểu học Đài Loan trước khi học viết chữ Hán đều phải học 10 tuần Chú âm phù hiệu ; máy tính chữ Hán cũng dùng 37 chữ cái này. Nhưng vì ký hiệu ghi âm có tự dạng là chữ Hán cổ nên khi phiên âm tên người, tên đất (như Bắc Kinh viết là ㄅㄟㄐㄧㄥ) để giao lưu quốc tế thì người nước ngoài không thể đọc được.

Năm 1922, Tiền Huyền Đồng kiến nghị bỏ hẳn chữ vuông, dùng chữ biểu âm. Năm 1926 ông cùng Lê Cẩm Hy, Lâm Ngữ Đường... đưa ra Phương án « 國 語 羅 馬 字Quốc ngữ La Mã tự », dùng 26 chữ cái Latin ghi âm Hán ngữ, lấy chuẩn là giọng Bắc Kinh. Thí dụ中 國 viết là Jonggwo, Phương án này khá hoàn chỉnh nhưng phần ghi thanh điệu rắc rối. Năm 1928, Quốc ngữ La Mã tự được Đại học viện (Cơ quan tối cao quản lý học thuật và giáo dục toàn quốc) của Chính phủ Nam Kinh công bố là phương án Latin hóa ghi âm Hán ngữ pháp định đầu tiên của TQ. Quốc ngữ La Mã tự tuy ít được xã hội sử dụng, nhưng dần dần đã được dùng để chú âm trong các tự điển, đồng thời với Chú âm phù hiệu. Năm 1984, sau nhiều năm không sử dụng, Đài Loan sửa lại phương án Quốc ngữ La Mã tự, ngày 28/1/1986 chính thức công bố dưới cái tên 國 語 注 音 符 號 第 二 式 và dần dần sử dụng thay cho Chú âm phù hiệu. Như vậy hiện nay Đài Loan cũng đã thực hiện Latin hóa ghi âm chữ Hán.

Thập niên 20, một số nhà lãnh đạo ĐCSTQ hồi đó đang ở Liên Xô như Cù Thu Bạch, Ngô Ngọc Chương v.v... đi đầu thực hiện chủ trương Latin hóa chữ Hán. Có người nói đó là do họ chịu ảnh hưởng của phong trào Latin hóa chữ viết cho các dân tộc thiểu số đang dùng chữ A Rập ở Liên Xô hồi năm 1921 [9]. Kết hợp với các nhà Hán học Liên Xô, năm 1929 họ đưa ra Phương án Chữ mới Latin hóa 拉 丁 化 新 文 字 (viết là Latinxua Sin Wenzi, tiếng Anh : Latinized New Writing) của TQ và xuất bản thành sách ở Moskva.

Tháng 9/1931 Đại hội đại biểu Latin hóa chữ TQ họp tại Vladivostok thông qua phương án và quyết định dùng vào việc xóa mù chữ cho 100 nghìn thợ TQ làm việc tại Liên Xô. Năm 1933, phương án này được đưa về TQ và áp dụng rộng rãi trong khu giải phóng của ĐCSTQ.

Năm 1934, Thượng Hải thành lập Hội Nghiên cứu Latin hóa Trung văn. Tháng 12/1935, 688 nhân sĩ nổi tiếng như Sái Nguyên Bồi, Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn v.v… công bố bài viết chung, trong có viết: “Chúng tôi thấy rằng loại chữ viết mới này đáng được giới thiệu với toàn quốc. Chúng tôi tha thiết mong muốn mọi người cùng nghiên cứu, đẩy mạnh chữ viết mới, biến nó thành công cụ quan trọng thúc đẩy văn hóa đại chúng và phong trào giải phóng dân tộc”. Chữ viết mới ở đây là nói Latin hóa chữ Hán, tức bỏ hẳn chữ vuông.

Chủ trương này xuất phát từ chỗ các nhân sĩ nói trên cho rằng mấy nghìn năm qua chữ Hán chỉ phục vụ bọn quý tộc phong kiến mà không phục vụ nhân dân ; chữ Hán là sản phẩm của xã hội cổ đại và phong kiến, đã bị biến thành công cụ để giai cấp thống trị áp bức quần chúng nhân dân lao khổ, nó thực sự là trở ngại cho việc học chữ của quảng đại nhân dân ...

Thời ở Diên An, Mao Trạch Đông cũng đưa ra chủ trương diệt chữ Hán, chuyển sang dùng chữ Latin, và từng nói điều đó với Edgar Snow (1905-1972), nhà báo Mỹ nổi tiếng đến thăm Diên An (6/1936). Quý Tiễn Lâm cũng xác nhận Mao từng chủ trương như vậy.

Sau khi nước CHNDTH ra đời, phong trào Latin hóa chữ Hán dâng lên rất cao. Năm 1950, Mao Trạch Đông nói việc cải cách chữ Hán phải chia làm hai bước, bước một làm phương án phụ trợ việc đọc chữ Hán, bước hai ghi âm hóa Hán ngữ.

Năm 1951, CT Mao chỉ thị phải cải cách văn tự theo hướng chung của thế giới là ghi âm, nhưng (chữ cái ghi âm) phải có hình thức dân tộc, chữ cái và phương án đều phải dựa vào chữ Hán. Nhưng vì ông không chỉ rõ hình thức dân tộc là thế nào nên việc cải cách khó triển khai. Nghe nói Stalin từng bảo Mao rằng TQ là nước lớn, có thể có chữ cái riêng của mình.

Tháng 2/1952, Bộ Giáo dục TQ lập Ủy ban nghiên cứu cải cách văn tự TQ, nghiên cứu phương án ghi âm chữ Hán bằng nét chữ vuông (筆 畫 式).

Năm 1954, Châu Hữu Quang [10] chứng minh chữ cái nước ngoài có thể biến thành chữ cái của dân tộc, như tiếng Latin là tiếng nước ngoài, nhưng khi dùng để nói và viết tiếng Anh thì chữ cái Latin trở thành chữ cái của dân tộc Anh. Ông cho rằng chữ Hán không thích hợp làm chữ cái để ghi âm ; chữ cái Latin là thứ chữ thông dụng nhất trên thế giới, TQ nên sử dụng. Ông nêu 3 nguyên tắc : Latin hóa, âm tố hóa và khẩu ngữ hóa. Sau đó Châu được nhà nước mời tham gia công tác cải cách văn tự.

Tháng 12/1954 Chính phủ lập Ủy ban Cải cách Văn tự TQ (UBCCVT). Tháng 2/1955 Ủy ban này lập Ban Phương án ghi âm chữ Hán. Đồng thời phát động phong trào cả nước làm phương án ghi âm chữ Hán. Tổng cộng có 633 người nộp 655 phương án.

Tháng 10/1955, Hội nghị cải cách văn tự toàn quốc được nghe giới thiệu 6 phương án sơ bộ ghi âm Hán ngữ, gồm 4 phương án dùng nét chữ vuông, một dùng chữ cái Slav, một dùng chữ cái Latin (do Châu Hữu Quang đề xuất). Kết quả hội nghị chọn phương án chữ cái Latin và thông qua quyết nghị đẩy mạnh sử dụng tiếng Phổ thông trong cả nước.

Sở dĩ có đề xuất dùng chữ cái Slav là do hồi đó Liên Xô đã chuyển toàn bộ chữ viết của các dân tộc thiểu số nước họ từ chữ cái Latin sang chữ cái Slav (chữ Nga), cho nên một số nhân sĩ TQ nói TQ là đồng minh của Liên Xô thì nên dùng chữ cái Slav.

Cũng tháng 10/1955, Ngô Ngọc Chương nói : Giản hóa chữ Hán không căn bản giải quyết vấn đề cải cách văn tự mà phải đồng thời tích cực làm công tác chuẩn bị ghi âm hóa chữ Hán.

Sau khi thấy chủ trương « chữ cái ghi âm phải có hình thức dân tộc » gặp bế tắc, CT Mao thay đổi quan điểm, phát biểu tán thành dùng chữ cái Latin (1/1956), cho rằng chữ Latin có nhiều ưu điểm, « ta cứ việc dùng, không sợ bị nghi ngờ là bán nước ». Ngày 12/2/1956, UBCCVT công bố Dự thảo phương án ghi âm Hán ngữ. Tháng 10/1956, Chính phủ lập Ủy ban Thẩm định phương án. Tháng 10/1957, UBCCVT đưa ra dự thảo sửa đổi.

Ngày 11/2/1958 Quốc hội TQ thông qua Phương án ghi âm Hán ngữ bằng chữ Latin (Scheme for Chinese phonetic alphabet). Châu Hữu Quang được gọi là cha đẻ của phương án này.

Phương án trên đã được áp dụng rộng rãi để : - Ghi chú âm đọc (phiên âm) chữ Hán, giúp người học chữ Hán tự đọc được chữ ; - Dạy tiếng Phổ thông trong toàn dân TQ, dạy Hán ngữ cho người nước ngoài ; - Biên soạn các loại tự điển, từ điển ; khi đó các chữ Hán được ghi âm và sắp xếp cũng như tra chữ theo thứ tự chữ cái Latin hóa tiện hơn tra theo bộ thủ ; - Dùng làm cơ sở để tạo chữ viết cho các dân tộc thiểu số; - Dùng cho các lĩnh vực không thể hoặc không tiện sử dụng chữ Hán, như chữ nổi cho người mù, thao tác tay cho người câm điếc, thông tin bằng cờ, bằng ánh sáng, nhập chữ Hán vào máy tính v.v...

Trước đây, khi chưa có ghi âm thì nhìn chữ Hán mà không đọc được âm. Giờ đây mỗi chữ Hán trong các loại tự điển đều được ghi kèm một từ ghép bởi các chữ cái Latin để ghi chú âm đọc (TQ gọi là chú âm) của chữ Hán đó. Người học chữ Hán chỉ cần biết đọc mấy chục chữ cái Latin và biết cách đánh vần các từ ghép bởi các chữ cái đó là có thể tra tự điển mà tự đọc được âm của từng chữ Hán. Huyện Vạn Vinh tỉnh Sơn Tây báo cáo: Nông dân học 15-20 giờ đã nắm được cách ghi âm chữ Hán ; sử dụng chữ ghi âm học 100 giờ có thể biết 1500 chữ Hán. Nhờ đó việc phổ cập tiếng Phổ thông trên toàn quốc tiến hành thuận lợi, cả nước đọc chữ Hán theo cùng một âm thống nhất, tạo điều kiện toàn dân hiểu nhau. Dùng chữ cái Latin ghi âm chữ Hán thuận tiện trong giao lưu quốc tế, vì thế từ 1958, TQ ngừng sử dụng Chú âm phù hiệu, tuy vẫn dùng trong từ điển. Từ 1/11/1967 TQ chính thức thực thi Phương án ghi âm Hán ngữ bằng chữ Latin, đồng thời cũng sáng chế chữ ghi âm Latin hóa cho các dân tộc thiểu số chưa có chữ viết.

Cho dù phương án trên đã áp dụng thành công trên toàn quốc trong việc ghi chú âm đọc cho chữ Hán, nhưng lãnh đạo TQ chưa nhất trí về vấn đề dùng loại chữ ghi âm này để thay thế chữ vuông. Năm 1958 Chu n Lai nói Phương án ghi âm Hán ngữ chỉ dùng để ghi chú âm đọc cho chữ Hán và để đẩy mạnh phổ cập tiếng Phổ thông chứ không phải là thứ văn tự ghi âm dùng thay cho chữ Hán. Câu nói này đi ngược với nguyện vọng của Ngô Ngọc Chương.

Tuy vậy Nhân dân Nhật báo ngày 20/12/1977 nhân công bố Phương án « Nhị giản » có đăng xã luận nhắc lại lời CT Mao là cải cách văn tự phải đi theo phương hướng ghi âm hóa.

Vấn đề dùng chữ ghi âm để thay cho chữ Hán gặp trở ngại lớn nhất là Hán ngữ có cả trăm nghìn chữ vuông nhưng lại chỉ có hơn 400 âm đọc, như vậy chữ ghi âm Hán ngữ cũng chỉ có hơn 400 từ, nếu kể cả 4 thanh điệu cũng chỉ khoảng 1200 từ, nghĩa là một từ ứng với hàng trăm chữ Hán. Do có nhiều chữ đồng âm nên sẽ thường xuyên gây hiểu nhầm, vì cùng một âm đọc, cùng một chữ ghi âm mà có quá nhiều nghĩa khác nhau. Như âm [yi] có tới 147 chữ Hán khác nghĩa, khi ghi âm hóa thì đều viết là yi, rõ ràng sẽ gây nhầm lẫn giữa 147 chữ đó. Thí dụ 亿 元 (100 triệu đồng) và 一 元 (1 đồng), âm đọc và chữ Latin ghi âm đều là [yi yuán].

Hơn nữa từ bỏ chữ Hán là một việc cực kỳ hệ trọng, có liên quan tới truyền thống văn hóa 5000 năm của TQ, tới nguyện vọng của toàn bộ người Hoa trên toàn cầu. Rất nhiều nhân sĩ ở TQ và nước ngoài cho rằng việc bỏ chữ Hán, thay bằng chữ Latin về khách quan là tự hủy diệt lịch sử và văn hóa truyền thống, hủy diệt ý thức dân tộc. Nhà văn Vương Mông nguyên Bộ trưởng Văn hóa TQ cũng nói không giữ được chữ Hán tức là hủy diệt nền văn hóa TQ.

Báo cáo của Ủy ban Công tác ngôn ngữ nhà nước tại hội nghị Công tác ngôn ngữ toàn quốc (1/1986) hoàn toàn không nhắc tới chỉ thị « phương hướng ghi âm hóa » của CT Mao, mà chỉ nói nên mở rộng phạm vi ứng dụng phương án ghi âm chữ Hán. Như vậy nghĩa là Chính phủ TQ đã từ bỏ chính sách cải cách chữ Hán « theo hướng ghi âm hóa » của CT Mao ; ghi âm chữ Hán không còn được coi là văn tự pháp định mà chỉ là một công cụ bổ trợ cho chữ Hán, không được coi là thứ văn tự chuẩn bị thay thế chữ Hán trong tương lai; chữ Hán mới là văn tự chính tông, pháp định. Biên bản Hội nghị công tác văn tự toàn quốc ngày 31/5/1986 nói rõ: Trong một thời kỳ tương đối dài sau đây, chữ Hán vẫn là văn tự pháp định của nhà nước.

Điều 18 Chương I Luật Văn tự ngôn ngữ thông dụng nhà nước CHNDTH quy định : « Văn tự ngôn ngữ thông dụng nhà nước dùng Phương án ghi âm chữ Hán làm công cụ ghi âm và chú âm. Phương án ghi âm chữ Hán là quy phạm thống nhất của cách viết ghi âm bằng chữ cái La Mã cho tên người, địa danh và các văn bản Trung văn, và dùng cho các lĩnh vực không tiện hoặc không thể sử dụng chữ Hán. Bậc giáo dục sơ cấp phải giảng dạy ghi âm Hán ngữ. »

Như vậy xu hướng thay chữ Hán bằng chữ Latin ghi âm tại đại lục TQ đã thất bại, cho tới nay chính quyền không còn đề cập vấn đề này, tuy dân chúng vẫn tiếp tục bàn bạc khá sôi nổi.
**
****
Tóm lại, tiến trình cải cách chữ Hán đã diễn ra trong một thời gian rất dài và chỉ có bước tiến đột phá sau khi TQ tiếp xúc với phương Tây và nhất là sau khi nước CHNDTH ra đời. Rốt cuộc đại lục TQ đã thực hiện được việc đơn giản hóa chữ Hán và ghi âm chữ Hán, còn việc cải cách toàn diện chữ Hán, tức bỏ hẳn chữ vuông, chuyển thành chữ biểu âm dùng chữ cái Latin đã thất bại. Bởi lẽ đó, chữ Hán vẫn là loại chữ biểu ý khó học khó dùng và dùng dễ nhầm lẫn. Rất may là công nghệ máy tính đã tạo điều kiện cực kỳ thuận lợi giúp mọi người đỡ mất nhiều công sức trong việc học và dùng chữ Hán. Giờ đây có thể dự đoán chữ Hán với những nhược điểm cố hữu của nó sẽ tiếp tục tồn tại và có khả năng chữ phồn thể sẽ lại được phục hồi nhằm thể hiện mạnh mẽ truyền thống Trung Hoa.

TS Nguyễn Hải Hoành

Ghi chú

[1] Vài thí dụ : - Riêng Võ Tắc Thiên đã tạo ra hơn 10 chữ, bà từng thất bại khi định sửa chữ 國 bằng cách thay chữ 或 (Hoặc) trong khung vuông bằng chữ 武 (Võ). - Có chuyện vua Càn Long vi hành đến Tô Châu thấy một cái cổng có viết 滸 墅 關, người vùng này đọc chữ 滸 là [hǔ] (trong 水 滸 ), Càn Long lại đọc là [xǔ] ; chẳng ai dám bảo vua đọc sai, từ đó trở đi chữ này có hai âm là [hǔ] và [xǔ]. - Thậm chí có cụm từ cùng mặt chữ mà khác nghĩa. Thời báo New York có nêu thí dụ cụm từ hóng shỏu ji 烘手機 nên hiểu là hand-dryer hay là dry the mobile phone ? Theo chúng tôi, từ tính chất lộn xộn thiếu khoa học của chữ Hán có thể thấy thứ chữ này là do rất nhiều người thuộc rất nhiều thế hệ làm ra, chứ không phải do một hoặc nhiều nhóm học giả làm ra.
[2] William C. Hannas thạo 12 ngoại ngữ, trong đó có tiếng TQ, chuyên gia ở Foreign Broadcast Information Service. (http://www.nytimes.com/2003/05/03/books/writing-as-a-block-for-asians.html)
[3] Cao Xuân Hạo : Chữ Tây và chữ Hán, thứ chữ nào hơn ?
[4] Tiền Huyền Đồng (1887-1939), nhà tư tưởng, nhà hoạt động cải cách ngôn ngữ, giáo sư, chủ nhiệm Khoa Quốc văn ĐH Bắc Kinh, đồng sáng lập Phong trào Tân Văn hóa, từng học ở Nhật.
[5] Ngô Ngọc Chương (1878-1966), nhà ngôn ngữ học, UVTƯ ĐCSTQ, CT Ủy ban Cải cách chữ viết, Hiệu trưởng ĐH Nhân dân TQ 17 năm, bậc nguyên lão của ĐCSTQ.
[6] Trực âm : dùng một chữ đồng âm khác để ghi chú âm đọc của một chữ mới. Phiên thiết : dùng hai chữ khác để ghi chú âm đọc của một chữ mới ; chữ thứ nhất thể hiện thanh mẫu, chữ thứ hai thể hiện vận mẫu.
[7] Thomas Francis Wade (1818-1895), về sau dạy Trung văn tại ĐH Cambridge.
[8] Thiết âm tức là ghi âm, còn gọi là hợp thanh. Xem : 卢戆章和切音字运动 http://szb.northnews.cn/nmgrb/html/2015-02/09/content_1177542.htm
[9] Sau khi Lê Nin mất, Stalin lại đổi chữ Latin thành chữ Nga.
[10] Châu Hữu Quang (1906-), học kinh tế ĐH Saint John ở Thượng Hải, du học Nhật, làm ngân hàng, từng công tác tại New York, London, từ 1949 là giáo sư kinh tế học Đại học Phục Đán Thượng Hải.

Tham khảo

1- 汉字的局限性 http://www.zybang.com/question/9ad6ecea7914efd5f9b5bc385ba5346a.html
2- 汉 字 的 优 缺 点 (2009-05-31) http://blog.sina.com.cn/s/blog_4977d2f80100de2n.html
3- 技术上说说汉字的优缺点 http://tieba.baidu.com/p/50378465
4- 为什么汉字没有改为拼音文字 http://tieba.baidu.com/p/2321335330
5- 汉字改革 http://baike.baidu.com/link?url=8Z0xrdDhAFfr6hKz4pOE1jrd569W7CuOfG4R8bufw7VFDr420xY86oRD-SZSltVV2NWx1TBFjDQLgGH3LDtB4_
6- 汉字改革及发展、http://zhidao.baidu.com/link?url=2cd8gnLjBejUpGbqsPValfa68pzqU-Usk-WZ8_2oOP2hUf75yRv4n-ZtIWBwJz8sZs4y_vLeqECbRLGahF_CMK

Nguồn: Đông tác, ngày 7.9.2016.

 

Tổng bình:

近日劉勰《文心》,鍾嶸《詩評》,異議蜂起,高談不息。

(盧照鄰《南陽公集序》)

 

Gần đây, Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Thi bình (tức Thi phẩm) của Chung Vinh ra đời, nghị bình nổi lên, tranh luận không dứt.

(Lư Chiếu Lân, Nam Dương công tập tự)

 

Một trong những quyển tự vị tiếng Việt xa xưa có liên quan tới tiếng Đàng Trong (trong đó chủ yếu là tiếng Nam Bộ) là quyển “Dictionarium Anamitico-Latinum” của Jean-Louis Taberd, (tên Việt là Từ), còn có tên gọi khác là “Nam Việt Dương Hiệp tự vị”, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1838. Quyển tự vị này có nhiều ngữ liệu liên quan đến phương ngữ Nam Bộ vì ba lí do: 1. Theo soạn giả Taberd, cuốn tự vị này được khởi công do vị Giám mục thứ 12 của Giáo phận Đàng Trong là Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) soạn vào những năm 1772-1773, nhưng chưa xong (Bá Đa Lộc, người Pháp, đến Đàng Trong, Hà Tiên, năm 1767 và ông sống chủ yếu ở vùng này nên rất thạo tiếng Đàng Trong); 2. Soạn giả Taberd lại là vị Giám mục thứ 17 của Giáo phận Đàng Trong sang truyền giáo, sống và hoạt động chủ yếu ở Đàng Trong (khoảng 20 năm); 3. Do sự đóng góp hết sức quan trọng của các đại chủng sinh Đàng Trong, đặc biệt là thầy Phan Văn Minh, người làng Cái Mơn, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (Thánh Philipphê Phan Văn Minh (1815-1853), được phong thánh ngày 19-6-1988, dưới thời Đức Giáo hoàng Jean-Paul II)

Có thể nói Giám mục J. L. Taberd đã học tiếng Việt từ tiếng nói của người dân Đàng Trong. Trong bối cảnh đó, không loại trừ ông đã học tiếng Việt Nam Bộ từ chủng sinh Phan Văn Minh khi còn ở quê nhà Bến Tre. Hơn nữa, khi thầy Phan Văn Minh sang học ở Đại chủng viện Pénang (Malaisia), chưa thụ phong linh mục, thầy Phan Văn Minh, đệ tử của Giám mục J. L. Taberd, đã giúp ông có được những hiểu biết sâu rộng về tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Việt Đàng Trong để hoàn thành quyển tự vị này (Theo tư liệu của Thiên Chúa giáo: Năm 1835, Đức cha Taberd gọi thầy Philipphê Minh sang Calcutta để cùng với Ngài làm tự vị). Nếu xét công mà nói, nhà ngữ học tiền phong này đã góp một phần công sức vào việc hình thành quyển tự vị. Như vậy, có thể xem người là đồng tác giả cũng nên. Trên bình diện khoa học ngôn ngữ, thánh Phan Văn Minh đã có đóng góp âm thầm cho sự phát triển tiếng Việt, thời kì đầu của chữ Quốc ngữ. Cần phải ghi nhận ông là nhà ngôn ngữ học tiên phong, nhà từ điển học của khoa Ngữ học, bên cạnh Giám mục J. L. Taberd, trước cả Trương Vĩnh Ký.

Quyển “Dictionarium Anamitico Latinum” có khoảng 25.000 mục tự vị. Mỗi mục tự vị tuỳ đặc trưng ngữ nghĩa có thể có nhiều hay ít mục tự vị được chọn phân tích diễn giải ngữ nghĩa. Mỗi mục tự vị có 3 cột văn tự được xép theo thứ tự: chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Latin. Chữ Hán giúp nhận diện về phương diện nghĩa các mục tự vị có cùng hình thức ngữ âm, chữ Quốc ngữ được gắn kết trong một chu cảnh giúp nhận diện mục tự vị được chọn để giải thích, chữ Latin dùng để giải nghĩa từ. Như vậy, quyển tự vị này cần cho người nước ngoài học tiếng Việt qua chữ Quốc ngữ và trong chừng mực giúp nắm bắt chữ Hán. Việc giải thích từ ngữ bằng tiếng Latin được xem như một ngôn ngữ khoa học phổ biến thời bấy giờ (Tuy 2 vị giám mục đều là người Pháp, nhưng họ không chọn tiếng Pháp để giải nghĩa các mục từ, mà lại chọn tiếng Latin. Điều này có ý kiến cho rằng thời ấy, hai vị rất coi trọng tính chất khoa học, tính phổ cập của công trình tự vị. Mặt khác, cũng loại bỏ được những ý kiến quy chụp là công trình nhằm phục vụ cho chính sách thực dân Pháp thời bấy giờ). Trong khoảng 25.000 mục từ được chọn giải thích, có rất nhiều mục từ gắn với từ địa phương Nam Bộ. Sở dĩ, có tình trạng này như đã nói trong phần mở đầu do tác giả là những giám mục hoạt động truyền giáo chủ yếu là ở Đàng Trong và những cộng sự giúp họ trong quá trình học tiếng Việt hoặc làm từ điển là những học giả xuất thân từ Nam Bộ.

Nhưng, theo Trần Văn Toàn, trong tự vị còn có những yếu tố của Đàng Ngoài: “…Tuy vậy, tiếng Đàng Ngoài cũng xuất hiện khá nhiều trong tự vị đó, ví dụ: “được” thay vì “đặng”, “vào” thay vì “vô”. Cho nên có thể đoán rằng có người Đàng Ngoài cộng tác vào đó.” (trích phần giới thiệu “Tự vị Taberd và di sản văn hoá Việt Nam” trong “Dictionarium Anamitico-Latinum”, tr. lii.). Theo chúng tôi, vấn đề không nhất thiết phải như vậy. Vì những người Đàng Trong thời ấy, tuy có sử dụng yếu tố tiếng Đàng Trong (tiếng Nam Bộ) trong giao tiếp, thì cũng chỉ có một lượng tự vị nhất định nào đó thôi. Không thể có chuyện giao tiếp hoàn toàn bằng tiếng Đàng Trong được. Nói cách khác, cái nền từ ngữ chung để giao tiếp của người Đàng Trong vẫn là tiếng Đàng Ngoài (tạm hiểu: tiếng toàn dân). Thành thử, “tiếng Đàng Ngoài cũng xuất hiện khá nhiều trong tự vị đó” là điều hoàn toàn tự nhiên; không nhất thiết phải có “người Đàng Ngoài cộng tác” vào việc biên soạn tự vị. Vì, cộng đồng người Đàng Trong vốn vẫn là người Việt, từ Đàng Ngoài nam tiến vào Đàng Trong, chớ họ không phải là một cộng đồng khác có gốc gác từ đất Đàng Trong.

Như vậy, xét từ bình diện từ ngữ, nói rằng, “Nam Việt Dương Hiệp tự vị” có cả tiếng Đàng Ngoài và tiếng Đàng Trong (tiếng Nam Bộ) là chuyện tất nhiên. Vì vậy trong tự vị này, ngoài lớp từ toàn dân (tiếng Đàng Ngoài), còn có một lớp từ riêng địa phương Nam Bộ (tiếng Đàng Trong), mà chúng tôi sẽ trình bày, gồm các nhóm sau: từ gốc Nam Bộ, từ gốc Trung Bộ, từ gốc toàn dân.

Với lớp từ địa phương Nam Bộ, trong từ điển Taberd có khá nhiều từ biến âm. Hiện tượng biến âm tuy không quá gây trở ngại cho giao tiếp giữa người Đàng Trong - Đàng Ngoài, nhưng nó góp phần làm nên đặc trưng phương ngữ trên bình diện ngữ âm, mà người nghe chỉ cần chú ý có thể nhận diện được. Chẳng hạn:

Hiện tượng chuyển đổi một chính âm “ơ” ngắn (viết là â) thành chính âm “ơ” dài (ơ) trong tiếng Đàng Trong xuất hiện trong hàng loạt từ “chơn” và “nhơn”, dù có nội dung nghĩa nào: “bàn chơn, bắp chơn, bấn chơn, bận chơn, chậm chơn, chơn cẳng, chúm chơn, cóng chơn, cuồng chơn, dịp chơn, duỗi chơn, dừng chơn, giạng chơn, giậm chơn, gót chơn, hổng chơn, kẽ chơn, kiềng chơn, kịp chơn, lỡ chơn, màn chơn, mau chơn, móng chơn, náng chơn, nghỉ chơn, ngón chơn, ngừng chơn, nhẹ chơn, quều chơn, sải chơn, sái chơn, sẩy chơn, tê chơn, trặc chơn, trật chơn, tréo chơn, trợt chơn, uynh chơn, vun chơn, chơn thật…; bất nhơn, bất tỉnh nhơn sự, dã nhơn, dong nhơn, hạnh nhơn, hôn nhơn, khoan nhơn, nam nhơn, ngoại nhơn, nhơn chánh, nhơn đạo, nhơn đức, nhơn gian, nhơn sâm, nhơn thể, nhơn vật, nữ nhơn, phu nhơn, phàm nhơn, quả nhơn, quí nhơn, sát nhơn, tha nhơn, thế nhơn, thường nhơn, tiên nhơn, tiểu nhơn, tội nhơn, văn nhơn, xá nhơn…”. (1)

Hiện tượng chuyển đổi một chính âm “iê” (chữ viết ia), không chung âm thành chính âm “a” dài (chữ viết a) có chung âm “-j” (chữ viết i) trong tiếng Đàng Trong xuất hiện trong hàng loạt từ “ngãi”, dù có nội dung nghĩa nào: “bất ngãi, bội ngãi, đạo ngãi, giảng ngãi, ngãi lý, phải ngãi, phi ngãi, phụ ngãi, tình ngãi, trả ngãi, trung ngãi…”. (2)

Hiện tượng chuyển đổi một chính âm “ươ” (chữ viết ươ), có chung âm thành chính âm “a” dài (chữ viết a) có chung âm trong tiếng Đàng Trong xuất hiện trong hàng loạt từ “đàng”, dù có nội dung nghĩa nào: “chặng đàng, đàng hẻm, đàng phèn, đàng phổi, đàng phước đức, đắp đàng, lỡ đàng, ngào đàng, thuộc đàng…”. (3)

Hiện tượng chuyển đổi một chính âm “a” dài (chữ viết a) thành chính âm “ơ” dài (chữ viết ơ) hoặc chính âm “ô” dài (chữ viết ô) trong tiếng Đàng Trong xuất hiện trong hàng loạt từ “đờn” và “bổn”, dù có nội dung nghĩa nào: đờn anh, đờn bà, đờn ca, đờn địch, đờn hát, đờn kìm, đờn tì bà, ghe đờn, phím đờn; bổn ấp, bổn đạo, cao bổn, căn bổn, bổn chất, bổn tính, Nhựt Bổn…”. Cũng có hiện tượng chuyển đổi ngược lại, chính âm “ơ” dài (chữ viết ơ) thành chính âm “a” dài (chữ viết a) trong tiếng Đàng Trong xuất hiện trong hàng loạt từ “giái”, dù có nội dung nghĩa nào: “cảnh giái, cương giái, giái răn, khí giái, phá giái, thế giái, thượng giái…”. (4)

                

         Mục từ trong Từ điển Dictionarium Anamitico-Latinum

Hiện tượng chuyển đổi một chính âm đôi “iê” (chữ viết yê), có chung âm đầu lưỡi (n) thành chính âm đơn “ơ” dài (chữ viết ơ) có chung âm gốc lưỡi “ng” (chữ viết n) trong tiếng Đàng Trong xuất hiện trong hàng loạt từ “quờn”, “nguơn” dù có nội dung nghĩa nào: “cầm quờn, cất quờn, phong quờn, quan quờn, quờn bĩnh, quờn cao, tiếm quờn, ỷ quờn…; căn nguơn, nguơn nhung, trạng nguơn…”, hoặc thành chính âm đơn “a” dài (chữ viết a), có chung âm gốc lưỡi “ng” (chữ viết n) như: “căn doan, nợ doan...”. (5)

Hiện tượng chuyển đổi một chính âm “ư” ngắn (chữ viết ư), có chung âm gốc lưỡi (chữ viết ng) thành chính âm “ơ” ngắn (chữ viết â) có chung âm gốc lưỡi (ng) trong tiếng Đàng Trong xuất hiện trong hàng loạt từ, dù có nội dung nghĩa nào: “ăn mầng, cháy bầng bầng, chưa tầng, đã tầng, tâng bầng…”. (6)

Hiện tượng chuyển đổi một chính âm đơn “a” dài (chữ viết a), có chung âm môi “u” (chữ viết o) thành chính âm đôi “iê” (chữ viết iê) có chung âm môi “u” (chữ viết u) trong tiếng Đàng Trong xuất hiện trong hàng loạt từ “biểu”: “dạy biểu, dễ biểu, khó biểu, khuyên biểu…”. (7)

Ngày nay, các trường hợp chuyển âm (1, 2, 3, 4, 5, 6) chỉ thấy xuất hiện thưa thớt trong cách nói của người Nam Bộ ở vùng nông thôn sâu. Trường hợp chuyển âm (7) còn xuất hiện khá phổ biến trong cách nói của người Nam Bộ.

Một số hiện tượng chuyển âm không phổ biến trong tiếng Đàng Trong, nay cũng không còn lưu giữ trong cách nói của người Nam Bộ: hiện tượng chuyển âm “â” thành “ư”: “vưng, dưng lễ…”; hiện tượng chuyển âm “ô” thành “u”: “hun tay, nút ruồi…”; “ô” thành “uô”, như: “xuông xáo”; hiện tượng chuyển thành chính âm đôi: “u” thành “ươ”, như: “giáng phước, hồng phước, phước đức…”; hiện tượng chuyển khuôn vần: “an” thành “iêng”, như: “biêng mai”; “ui” thành “ươi”, như: “khươi ra”; “anh” thành “iêng”, như: “thiềng thị”…

Ngoài ra, còn có các trường hợp chuyển âm trong tiếng Đàng Trong vẫn còn lưu giữ trong cách nói của người Nam Bộ hiện nay, như: hiện tượng chính âm “ê” chuyển thành chính âm “i” trong các từ: “binh vực, căn bịnh, chứng bịnh…”; hiện tượng chính âm “ư” chuyển thành chính âm “ơ” trong các từ: “bức thơ, gởi gắm, gởi thơ, phong thơ, thơ kí, tiểu thơ…”; hiện tượng chính âm “â” chuyển thành chính âm “ư” trong các từ: “hạng nhứt, lễ sinh nhựt, giựt, nhứt, nhựt, nhứt hảo, nước giựt mớn, Tết nhứt…”; hiện tượng chính âm “a” chuyển thành chính âm “ô” trong từ “hột” ở các từ ngữ: “chuỗi hột, chuối hột, hột đậu, hột sen, hột trai, lần hột, tràng hột…”.

Một số hiện tượng dùng từ của người Đàng Trong được duy trì trong cách nói của người Nam Bộ ngày nay, như:

- “bắp” thay “ngô”: bắp con chàng, cạp bắp, cốm bắp, cùi bắp, mao bắp…;

- “bông” thay “hoa”: bông bụt, bông trang, bông trái, cây bông, ngắt bông…;

- “ca” thay “hát”: đờn ca, ca hát, ca xướng…;

- “chi” thay “gì”: biết chi, can chi, chi bằng, chi đó, chớ chi, hèn chi, hề chi, huống chi, kể chi, lo chi, màng chi, phải chi, sự chi, vật chi…;

- “coi” thay “xem”: coi mạch, coi mòi…;

- “dù” thay “ô”: dù, dù lọng…;

- “đặng” thay “được”: chẳng đặng, đặng công, đặng mùa, đặng trái…;

- “ghe” thay “thuyền”: be ghe, choác ghe, cong ghe, ghe bầu, ghe cộ, ghe giàn, ghe guộc, ghe lườn, ghe tiểu điếu, lườn ghe, sạp ghe, then ghe, trét ghe, xảm ghe…; “heo” thay “lợn”: bọng heo, chim heo, chuồng heo, cũi heo, đùi heo, gấu heo, giò heo, lòng heo, heo nái, heo nân, heo rừng, heo thiến, heo ủi, nanh heo, nây heo, nọng heo…;

- “huỳnh” thay “hoàng”: huỳnh anh, huỳnh bào…;

- “lội” thay “bơi”: lội bơi, lội lặn, lội sông…;

- “mè” thay “vừng”: cây mè, hột mè…;

- “mền” thay “chăn”: đắp mền, mền chiếu, trùm mền…;

- “mồng” thay “mùng”, “mào”: mồng một, mồng hai, Tết mồng năm, mồng tếch, mồng gà…;

- “nón” thay “mũ”: cất nón, chằm nón, nón gõ, nón lá, râu quai nón…;

- “ổ” thay “tổ”: ổ chim, ổ gà…;

- “trà” thay “chè”: pha trà, uống trà…;

- “trái” thay “quả”: chùm trái, đồng hồ trái quít, giú trái, lảy trái, lắt trái, ngắt trái, nụ trái, trái bả, trái bứa, trái cân, trái cầu, trái chôm chôm, trái đẹt, trái gấc, trái ké, trái khói, trái lẹo, trái lòn bon, trái mãng cầu, trái mận, trái măng cụt, trái muồi, trái nhãn, trái nũng, trái tắt, trái thơm, trái trăng...;

- v.v.

Hiện tượng dùng từ “đậu” (đỗ) phổ biến trong tiếng Đàng Trong vẫn được duy trì trong phương ngữ Nam Bộ ngày nay: thi đậu, thuyền đậu, đậu phụng, đậu nành…

Có những lớp từ ngữ chỉ thực tại khách quan được người Đàng Trong dùng, nay đã có sự khác biệt với tiếng toàn dân nên tạm gọi phương ngữ. Dù vậy, không hẳn mọi trường hợp thay đổi dẫn đến sự khác biệt từ ngữ đều xuất phát từ tiếng Đàng Trong: a dao, áo lá, ăn gỏi, ba rọi, bà bóng, bàn cầu, bàn độc, bàn toạ, bánh in, bánh thuẫn, bánh ú, bàu hói, bâu áo, bí rợ, bình bát, bình tích thuỷ, bột báng, búng nước, cà khêu, cá khoai, cá lóc, cá lòng tong, cá lù đù, cá phèn, cá phướn, cá thia thia, cái trang, căm xe, cây da, cây làu táu, cây sầu đâu, cây viết, chả giò, cháng ba, chảo đụn, che đạp mía, chén thuốc, chệc, chìa ống ngoái, chiếc trẹt, chim cưởng, chim nhồng, chim trảu trảu, chim séo, con cần đước, con cúi, con giáp, con nít, cổ nhạc, cốt cây, cờ phướn, cù lao, cũi hùm, cúm núm, dao lụt, dây dụi, dây đỏi, dây luột, dĩa bàn than, dưa gang, dưa leo, đánh trổng, đèn chong, đủ đủ tía, đũa bếp, đục vũm, gà lôi, giá triệu, giấy súc, gió chướng, gió nam, gió nồm, hàng xáo, khăn xéo, khu dĩa, khuy áo, lăng quăng, lòi tói, lọn chỉ, lọn tóc, lồng đèn, lúa khén, lưới bén, mỏ ác, mồng gà, một nạm, một trự, mụt bạc đầu, ngoạt, ngòi viết, nhà bè, nhà thương, nhang đèn, nhành vàng, níp, nút áo, nước dão, ống dòm, ốc xa cừ, rắn điu điu, rắn nẹp nia, rau giấp cá, rau nhút, tam bản, thịt bạng nhạng, thằng chài, vải bô, vàm rạch, ve chai, vợ bé, xuồng…

Có những lớp vị từ, ngữ chỉ đặc trưng động hoặc tĩnh được người Đàng Trong dùng, nay đã có sự khác biệt với tiếng toàn dân nên tạm gọi phương ngữ. Các trường hợp thay đổi này cũng không hẳn đều xuất phát từ tiếng Đàng Trong: ăn hiếp, ăn mót, ăn ong, ăn rập, bán sỉ, bán mắc, bắc nước, bắn ná, bằng chạn, bằng riến, bắt ấn, bèo trẹt, bẹo, biên chép, bôi chữ, bộn việc, bở rệt, bới cơm, bự bự mặt, bửa củi, bươn tới, cà lăm, cãi lẫy, cãi lộn, cao tay ấn, cặm, cân chạn, cất rớ, chạn gà, chấn đón, chầu rày, chuột khới, chụp ếch, cua óp, củi đượm, dao lóng, dòm, dùa lại, dún mình, dùng lắc, dức lác, đạc chừng, đánh lộn, đánh trúm, đen kịn, đi trớ, đòn bọng, đốt lói, ghẻ hờm, giòn khớu, hàng nàm, hầm thịt, hỏi dọ, hỏi phăn, hớt tóc, hút gió, khích báng, khứng tiếng, làm trớ, lặt rau, lo cạy cạy, lua cháo, lửa ngún, mạy nhớ, mặt bư, mỏng tăng, nắng ui ui, ngộ, ngồi chồm hổm, ngồi tréo mảy, nhắc cò cò, nhận nước, nhúm lửa, ních hết, niển lưng, niệt trâu, nín lại, nói bỗng chãng, nói chấn, nói lịu, nói trăm, nói trớ, quá giang, quớt, rã bèn, rấn lên, rộng cá, ruồi bu, say bết, tẻ ra, trâu báng, trụng nước nóng…

Có những lớp từ ngữ trong tiếng Đàng Trong nay được xem là vốn từ riêng của phương ngữ Nam Bộ như lớp từ chỉ những sản vật của Nam Bộ, bao gồm:

- các loại thực vật được trồng hoặc hoang dã thích hợp với vùng đất phương Nam: cây bần, cây bình bát, cây bồn bồn, dây choại, dừa nước, đủng đỉnh, cây đước, cây giá, cây mắm, cây nhàu, cây ô rô, cây nổ, cây quao, cây tra, cây sộp, cây thốt nốt, cỏ xước, củ năn, nhãn lồng, ô dước…;

- các loại cá nước ngọt: cá tra, cá vồ…;

- vật dụng, thực phẩm: cái chàng, nóp; bánh tét, bánh ít…;

- từ ngữ phản ánh đặc trưng địa hình sông nước: nước đứng, nước lụt, nước nhửng, nước rặc, nước ròng, nước ròng kiệt, nước rông, nước săn cón…;

- các từ xưng gọi xưa: qua bậu, chúng bậu, chúng qua…;

- từ ngữ chỉ một số địa danh Đàng Trong: Ba Lạch, Cái Mơn, Cái Nhum, Đồng Nai, Hai Huyện, Hòn Đất, Long Hồ, Nha Trang, Phan Rí, Qui Nhơn, Sài Gòn…;

- từ phụ: bao lăm, ví dầu, mốc xì…

Ngoài ra, còn một lớp từ trong tiếng Đàng Trong vẫn còn được dùng trong giao tiếp người Nam Bộ, mà nghĩa của một hoặc cả hai thành tố khó nhận diện, khiến nhiều người nhận định chúng là những từ láy, dạng như: ạo ực, bạt chạt, băn hăn, bẳn hẳn, băng xăng, bệu bạo, bôn ba, bôn chôn, bộn bàng, bợt chợt, bươn bả, chả chớt, cành nanh, cắp nắp, cháng váng, chành rành, chạy lúp xúp, chần vần, diềm dà, dụ dự, ểng ảng, hắt hẻo, kèo nèo, khùng khịu, lá lay, lé đé, lỏn chỏn… Việc truy tìm nguồn gốc, ngữ nghĩa của lớp từ này chắc sẽ có nhiều thông tin thú vị; ít ra cũng giúp xác định được những cách nói có “căn cứ” của người Nam Bộ hiện nay với hiện tượng phát âm sai lệch. Vì tiếng nói của người Đàng Trong một thời gian dài vẫn được dùng ở dạng khẩu ngữ nên hiện tượng lệch chuẩn trong phát âm không nhỏ.

Trong quyển “Dictionarium Anamitico-Latinum” của Jean-Louis Taberd còn có bảng kê trên 1.000 loại cây (kể cả cây hoang dại), rau, cỏ ở Đàng Trong với tên gọi Nôm, Hán. Lớp thực vật này có thể mất đi nhiều, khiến tên gọi chúng trở nên khó hiểu đối với lớp người Nam Bộ hiện nay. Điều này cũng dễ làm cho hiện tượng diễn đạt bị sai lệch và trở thành quen (Khi có điều kiện chúng tôi sẽ tìm hiểu lớp từ này).

Quyển “Nam Việt Dương Hiệp tự vị” là quyển tự vị cổ tiếng Việt, được làm từ những người am hiểu tiếng Đàng Trong nên nó là một cơ sở tốt, có giá trị thực tiễn cho việc tìm hiểu phương ngữ Nam Bộ. Xét từ phương diện lịch sử, thì vào cuối thế kỉ XVIII đến đầu thế kỉ XIX, các nhà làm từ điển đã làm một việc hết sức có ý nghĩa. Tuy nhiên, nhìn ở góc độ hiện nay, người đọc dễ nhận ra một số hạn chế của nó mà chúng tôi chưa đề cập trong bài viết này. Xin mượn lời GS TS Mai Quốc Liên giới thiệu về công trình này như một sự nhìn nhận của người viết về công trình xét trên bình diện phương ngữ hết sức có giá trị kia: “Cuốn Từ điển Anamitico-Latinum này có một vị trí và một giá trị đặc biệt trong nền văn hoá nước nhà, đặc biệt là trong việc nghiên cứu, tìm hiểu kho tàng tiếng Việt, trong đó có nhiều từ ngữ cổ, được ghi lại bằng tiếng Việt và chữ Nôm… Đây là một kho tàng quý báu của quá khứ, của lịch sử. Khi những nhà nghiên cứu, những người yêu tiếng Việt và những người muốn tìm hiểu tiếng Việt trong cội nguồn có cuốn Từ điển này trong tay, chắc chắn các vị sẽ phát huy được hết tác dụng và giá trị của nó.” (Sđd, tr. ii)

TS. HUỲNH CÔNG TÍN

 

SUMMARY

The article presents the Dictionarium Anamitico - Latinum by Jean - Louis Taberd published in 1838. This is not only a dictionary but also a research work, very meticulously compiled on language data of the Vietnamese language mainly the one used in the Southern part of Vietnam. Through the dictionary, the reader can figure out the Vietnamese language physiognomy in general and itsvlexicon in particular in a time nearly 2 centuries ago.


 

Nguồn: Tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 01, năm 2011, ngày 3.7.2013.

 

I. KHÁI QUÁT VỀ TÊN RIÊNG

1.1. Quan niệm về tên riêng

Tên riêng là một đơn vị thuộc mảng từ vựng, có giá trị định danh, nhưng định danh đặc biệt. Tính đặc biệt trong việc định danh của tên riêng thể hiện ở chỗ: Khác với từ trong ngôn ngữ - dùng để chỉ một lớp sự vật có các đặc tính giống nhau, tên riêng có bản chất là dùng để chỉ một người, một sự vật riêng rẽ. Điều đó có nghĩa là giữa tên riêng và sự vật được tên riêng biểu thị có sự tương ứng một - một tuyệt đối: Mỗi một người, một vùng đất, một cơ quan, tổ chức, đoàn thể có một tên riêng, và mỗi một tên riêng biểu thị một người, một vùng đất, một cơ quan, tổ chức, đoàn thể... nào đó cụ thể.

1.2. Các loại tên riêng

Có nhiều cách phân loại tên riêng:

– Phân loại theo nguồn gốc, có thể phân loại thành:

+ Tên riêng Việt Nam;

+ Tên riêng nước ngoài (phiên qua âm Hán Việt và phiên trực tiếp ra tiếng Việt).

–  Phân loại theo bản chất sự vật được gọi tên, có thể phân loại tên riêng thành:

+ Tên người;

+ Tên địa lý;

+ Tên các cơ quan, tổ chức, đoàn thể... (gọi chung là tên tổ chức).

Ngoài ra, còn có thể có tên riêng cho các động vật nuôi, các sự vật, và trong nhiều tài liệu hướng dẫn chính tả còn nhắc đến tên các danh hiệu, chức vụ, v.v. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ chọn hai loại tên riêng để phân tích tư cách âm tiết trong kết cấu chung của tên riêng (khi thật cần thiết chúng tôi sẽ có những đối chiếu với các loại tên khác, kể cả đối chiếu phân tích với tên riêng nước ngoài).

1.3. Giá trị biểu đạt của tên riêng

Đối với các tên riêng (còn gọi danh từ riêng), có thể có các quan niệm khác nhau giá trị biểu đạt, đặc biệt liên quan đến việc chấp nhận tên riêng có nghĩa hay không có nghĩa. Những người theo quan điểm về tính có nghĩa của tên riêng cho rằng, việc đặt tên cho các cá thể (trong đó, đặc biệt là con người) thường chọn các tên có ý nghĩa đẹp. Và, vì thế, nhiều người cho rằng có thể lý giải được tính lý do của tên riêng. Chúng tôi cho rằng, về bản chất, tính lý do đó liên quan đến lý do lựa chọn các yếu tố ngôn ngữ để làm tên riêng mà không liên quan đến giá trị biểu nghĩa của tên riêng. Căn cứ vào chức năng của tên riêng là để gọi tên cho cá thể, chúng tôi cho rằng tên riêng, chỉ thực hiện chức năng chiếu vật – chỉ ra các cá thể được nói đến trong giao tiếp mà không có ý nghĩa như các hình vị hoặc từ ngữ thuộc về ngôn ngữ chung: Trong tiếng Việt, thuỷ là một yếu tố Hán-Việt, có nghĩa “nước” nhưng khi được sử dụng làm tên riêng, chẳng hạn, Nguyễn Thị Thu Thuỷ thì Thuỷ không có nghĩa chỉ “nước” mà thực hiện chức chức năng chiếu vật – chỉ ra người mang tên Thuỷ. Nói các khác, các hình vị, các từ ngữ được lựa chọn từ ngôn ngữ chung để đặt làm tên riêng cho sự vật không còn chứa những ý nghĩa vốn có của nó mà được dùng để thực hiện chức năng chiếu vật. Như vậy, so với các từ ngữ chung của ngôn ngữ, tên riêng không có giá trị ý nghĩa mà có giá trị chức năng. Nói về tên riêng, chúng ta không bàn đến các thành phần ý nghĩa như ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái. Đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa các tên riêng với các danh từ chung có ý nghĩa chỉ một sự vật trong thế giới, như: Mặt trời. Mặt trăng, Sao Hoả, v.v. Các danh từ chung này, mặc dù, chỉ biểu thị một sự vật duy nhất trong thế giới (có phần giống các tên riêng) nhưng chúng có ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái (khác với các tên riêng).

II. MỖI ÂM TIẾT TRONG TÊN RIÊNG NGƯỜI VIỆT LÀ MỘT TỪ HAY TÊN RIÊNG NGƯỜI VIỆT LÀ MỘT CỤM TỪ

2.1. Về các âm tiết chỉ họ và tên

Dạng cơ bản của tên riêng người Việt là kết cấu ba thành phần họ + lót + tên (Nguyễn Đình Chiểu ) và kết cấu hai thành phần họ + tên (Nguyễn Du). Căn cứ vào cấu tạo tối thiểu có thể thấy chức năng định danh của tên riêng người Việt thuộc về hai bộ phận chính: họ và tên. Giữa họ và tên có thể có hoặc không có tiếng lót. Xét về mặt sử dụng thì họ và tên là hai bộ phận có quan hệ với nhau tương đối lỏng lẻo, có thể vận dụng độc lập, tách bạch nhau trong giao tiếp.

–  Có thể dùng họ để chỉ cá thể mang tên riêng, Chế Lan Viên viết: Xưa Nguyễn yêu ai mà khổ vậy (chỉ Nguyễn Du), hoặc có thể dùng: Những tư tưởng của cụ Phan (để chỉ Phan Bội Châu),...

–  Hiện nay, trong lời nói hằng ngày, để chỉ cá thể mang tên riêng, chúng ta thường dùng tên, ví dụ: Giang, Trang, Sơn, Linh, Hương …

Như vậy, dễ dàng nhận thấy đặc điểm nổi bật của tên riêng người Việt là tính kém chặt chẽ về mặt kết cấu. Các bộ phận chỉ họ và tên trong tên riêng người Việt có thể tách bạch nhau mà trở thành các định danh biệt lập, và có khả năng vận dụng độc lập khi nói và viết.

2.2. Về âm tiết ngoài họ và tên

2.2.1. Tiếng lót đặc biệt

Một số nhà khoa học có đề cập đến âm tiết thứ hai trong tên riêng người Việt như là yếu tố tạo nên họ ghép hoặc họ kép. Ví dụ: Lê Xuân Thại, Nguyễn Văn Thạc cho rằng “Về cấu tạo ngữ âm, phần nhiều họ chỉ có một âm tiết. Một số ít có hai âm tiết, ta thường gọi là họ kép, như Tôn Thất, Nguyễn Khoa...” [6, tr.66] Nguyễn Lân cũng cho rằng ngoài họ đơn, Việt Nam còn có họ kép (như Hồ - Đắc, Nguyễn - Lê). Theo những người này, họ kép là họ có cấu tạo đa âm tiết, trong đó các thành tố gắn kết chặt chẽ với nhau, không thể tách rời hoặc thay thế bằng một thành tố nào khác. Còn họ ghép là họ có cấu tạo đa tiết, gồm họ bố (chính) và họ mẹ. Dương Lan Hải không thừa nhận có “họ kép” trong tiếng Việt, nhưng lại cho rằng, Việt Nam có “họ ghép”. Tác giả viết: “Chúng ta không có họ kép, nhưng có họ ghép”. [1, tr.55]

Do tính cố định, bắt buộc các tiếng lót kiểu Khoa, Đắc, Tấn... có xu hướng cố kết với tiếng chỉ họ, làm thành một tổ hợp đa tiết (thường là song tiết) chặt chẽ, đến nỗi gây ấn tượng cho rằng, chúng vốn là thành phần kết cấu của một kiểu họ (họ kép), giống kiểu họ kép thực thụ của Trung Quốc: Gia Cát (Lượng), Tư Mã (Thiên)...

Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ lưỡng, trong các tổ hợp được gọi là “họ kép” như Nguyễn Khoa, Hồ Đắc, Nguyễn Tấn..., yếu tố sau Khoa, Đắc, Tấn... chỉ nên coi là một loại tiếng lót đặc biệt, có tính chất cố định, bắt buộc, được chọn dùng có ý thức, nhằm phân biệt các chi trong một họ lớn và là dấu hiệu để nhận biết quan hệ thích tộc giữa những người thuộc cùng một gia tộc. Sự phân biệt trên chủ yếu có giá trị trong phạm vi một họ nhất định, không mang ý nghãi rộng ra toàn xã hội. Và, trong thực tế, nhiều trường hợp không thể phân biệt được đâu là thành phần thứ hai của “họ kép” và đâu là tiếng lót trong tên người có họ đơn. Ví dụ: Khoa trong Nguyễn Khoa Điềm là thành phần của họ kép hay là tiếng lót, hoặc thành phần của tên ghép Khoa Điềm?

Điều quan trọng là, do áp lực của kết cấu tên người Việt: họ + lót + tên, trong đó thành phần đứng đầu (đơn âm tiết) luôn luôn được coi là tiếng chỉ họ, thành phần đứng cuối (đơn âm tiết) cũng luôn luôn được xem là tiếng chỉ tên, còn thành phần đứng giữa là tiếng lót, nên yếu tố đứng sau trong cái gọi là họ kép thường được người Việt tri giác như là tiếng lót, giống như mọi tiếng lót khác, và có thể tách khỏi họ và tên để trở thành yếu tố biệt lập.

Còn về cái gọi là “họ ghép”? Yếu tố thứ hai trong “họ ghép” cũng nên coi là một loại tiếng lót, được chọn dùng theo ý thích cá nhân hoặc gia đình. Không giống ở “họ kép”, yếu tố thứ hai trong “họ ghép” không phải là một từ cố định nào đó, dùng cho hết thảy mọi thành viên trong một họ, mà là tiếng chỉ họ của mẹ người có tên. Và nếu thừa nhận tiếng Việt có họ ghép thì số lượng họ ghép trong tiếng Việt sẽ là vô số. Do đó, tính quy ước xã hội của họ ghép rất yếu ớt. Bởi vậy, yếu tố thứ hai của họ ghép cũng chỉ nên xem là một loại tiếng lót đặc biệt mang tính quy ước riêng trong phạm vi một gia đình. Khi yếu tố chỉ họ mẹ là một thành phần được đưa vào có tính ngẫu nhiên thì quan hệ giữa tiếng chỉ họ bố và tiếng chỉ họ mẹ là một quan hệ lỏng lẻo. Nói cách khác, kết cấu “họ ghép” càng dễ dàng được tri giác như là một tiếng lót, có thể tách khỏi yếu tố thứ nhất để trở thành yếu tố biệt lập.

2.2.2. Tiếng lót

Trước đây, tiếng lót trong tên nữ có xu hướng phân biệt với tiếng lót tên nam. Để phân biệt tên nữ với tên nam, trong tên nữ người ta dùng từ thị làm tiếng lót, và hầu như chỉ dùng một từ ấy mà thôi. Tiếng lót cho tên nam thì phong phú và đa dạng hơn. Nói chung có thể dùng bất cứ một từ nào làm tiếng lót cho tên nam, tuỳ ý thích của người đặt tên. Nhưng theo thống kê, tiếng lót được dùng nhiều nhất là văn. Thực tế hiện nay cho thấy, tiếng lót có thể được lựa chọn khá tự do, tuỳ ý như Văn, Đình, Bình trong Nguyễn VănHải, Vũ Đình Hoạt, Trần Bình Minh... Song, trong nhiều trường hợp có thể nhận thấy rằng, người Việt thường thích dùng những từ có ý đẹp, để đi liền với tiếng chỉ tên, làm thành một từ, hoặc một tổ hợp từ mang một ý nghĩa thể hiện được một ước mong, sở thích của người mang tên: Nguyễn Ái Quốc, Trần Đại Nghĩa, Hồ Anh Dũng. Ở trường hợp này cũng có thể coi tổ hợp Ái Quốc, Đại Nghĩa, Anh Dũng là tên ghép. Lúc đó, tiếng lót là zéro hay vắng khuyết như tên người có cấu trúc họ + tên ghép.

Một khi thành phần chỉ họ và chỉ tên là những yếu tố biệt lập, có thể tách riêng khỏi kết cấu tên người, thì tiếng lót, cả tiếng lót đặc biệt như Khoa, Đắc... lẫn tiếng lót tự do, như Văn, Đình... cũng có khả năng trở thành yếu tố biệt lập hoặc được tri giác như yếu tố biệt lập.

Nói tóm lại, các tiếng trong tên riêng người Việt hoạt động tự do, độc lập làm cho kết cấu của tên riêng của người Việt là kết cấu lỏng lẻo giữa các âm tiết. Mỗi âm tiết trong tên riêng người Việt có tư cách là một từ. Và, về bản chất, tên riêng người Việt là một cụm từ.

Phân tích quy tắc viết hoa hiện hành - “viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết trong tên người” [4], dễ dàng nhận thấy, việc viết hoa tên riêng người Việt là dựa theo quy tắc lấy từ làm đơn vị viết hoa. Điều này cũng nhất quán với việc viết hoa tên người nước ngoài (kể cả phiên qua âm Hán Việt, lẫn phiên thẳng ra tiếng Việt hay viết nguyên dạng) – lấy từ làm đơn vị viết hoa. So sánh: Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Vla-di-mia I-lich Lê-nin, Karl Heinrich Marx, v.v.

III. TÊN ĐỊA LÝ LÀ MỘT TỪ

3.1. Tên địa lý đơn âm tiết và tên địa lý đa âm tiết trong tiếng Việt

Tên địa lý Việt Nam có thể có cấu tạo gồm 1 âm tiết: làng Cót, làng Chuông, sông Hồng, sông Đáy, châu Á… với tên riêng địa lý đơn âm tiết, dễ dàng xác định tư cách từ của các âm tiết đó.

Tuy nhiên, cũng cần làm rõ các trường hợp trung gian giữa tên riêng địa lý đơn âm tiết với tên riêng địa lý đa âm tiết.

Các tên địa lý thường được dùng kèm sau các danh từ chung, các thuật ngữ địa lý, hành chính như sông, núi, hồ, làng, xã, quận, huyện, khu... Ví dụ, sông Hồng, núi Tam Đảo, hồ Trúc Bạch, xã Chiến Thắng, huyện Từ Liêm, tỉnh Thái Bình, quận Đống Đa...

Do đặc tính này, nhiều tên địa lý, nhất là các tên một âm tiết, có xu hướng gắn kết chặt chẽ với danh từ chung gây ra cảm giác rằng, danh từ chung cũng thuộc thành phần cấu tạo của tên địa lý. Chẳng hạn, không thể nói *đi Hôm mà phải nói đi chợ Hôm v.v... Từ đó nhiều người đề nghị phải coi danh từ chung đó là yếu tố đầu của tên địa lý.

Tuy nhiên, xét trong toàn bộ hệ thống, các danh từ chung đi kèm trước tên địa lý phải được coi là yếu tố biệt lập, nằm ngoài kết cấu tên địa lý. Có thể nói Trên dãy Tam Đảo luôn luôn có mây mù hoặc cũng có thể nói Trên hòn Tam Đảo luôn luôn có mây mù. Điều này chứng tỏ rằng, mối quan hệ giữa danh từ chung đứng đầu tên với bộ phận sau nó là rất lỏng lẻo, tuỳ tiện và có thể lựa chọn biến thể, hoặc có thể bỏ.

Ở đây, cần phân biệt điều vừa nói với trường hợp với tên địa lý do riêng hóa các danh từ chung mà thành, như Cầu Giấy, Sông Bé, Bến Lức, Bãi Cháy, Vũng Tàu, v.v. Trong trường hợp này, các yếu tố cầu, sông, bến, bãi, vũng... đã mất tính chất của các danh từ chung như khi chúng đứng một mình hoặc đứng trước các tên địa lý khác như cầu Thăng Long, sông Vàm Cỏ, bến Nhật Tảo, bãi An Dương và đã trở thành các yếu tố cấu thành của tên địa lý. Những tên địa lý dạng này (Cầu Giấy, Sông Bé, Bến Lức, Bãi Cháy, Vũng Tàu…) được coi là các tên địa lý đa âm tiết, khác với các trường hợp làng Cót, làng Chuông, sông Hồng, sông Đáy… nêu trên.

3.2. Vai trò của âm tiết trong tên riêng địa lý đa âm tiết tiếng Việt

Đối với các tên địa lý đa âm tiết (gồm nhiều âm tiết) thì mỗi âm tiết đó có đủ tư cách là từ như các âm tiết trong tên riêng người Việt hay không?

Câu trả lời là không.

Các âm tiết trong cấu tạo tên riêng địa lý đa âm tiết tiếng Việt có đặc điểm cơ bản là kết hợp với nhau chặt chẽ, làm thành một chỉnh thể, được sử dụng nguyên khối khi nói và viết. Mỗi âm tiết không thể tách ra sử dụng độc lập. Chúng ta thường nói đầy đủ, nguyên khối các tên riêng địa lý tiếng Việt, như thành phố Đà Nẵng, Cần Thơ, tỉnh Ninh Bình… mà không dùng từng âm tiết như thành phố Đà hay thành phố Nẵng, tỉnh Ninh hay tỉnh Bình…, chúng ta cũng không thể nói và viết Hoàng, Liên hay Sơn một mình, để chỉ tên núi Hoàng Liên Sơn, mà phải nói, viết đầy đủ các thành phần của nó: Hoàng Liên Sơn. Thỉnh thoảng, chúng ta gặp một vài tên địa lý nói tắt, như (tàu) Phòng (Hải Phòng), (lên) Thái (Thái Nguyên), (lên xứ) Lạng (Lạng Sơn), (vào xứ) Nghệ (Nghệ An)... nhưng chủ yếu dùng trong khẩu ngữ. Tính chặt chẽ về kết cấu giữa các âm tiết trong tên riêng địa lý đa âm tiết tiếng Việt, về bản chất, cũng giống với các âm tiết trong tên riêng địa lý và tên riêng người nước ngoài phiên trực tiếp ra tiếng Việt: Ác-hen-ti-na, La Ha-ba-na, Sô-lô-khốp,... Cũng như tên riêng địa lý tiếng Việt, tên riêng địa lý nước ngoài - đôi khi cũng được nói tắt, như Bun (Bun-ga-ri), Hung (Hung-ga-ri), Ru (Ru-ma-ni)...nhưng cũng chỉ gặp trong ngôn ngữ nói, hầu như không dùng trong ngôn ngữ viết.

Xét trong mối quan hệ với các kiểu từ phân loại theo cấu tạo của tiếng Việt, dễ dàng quy các tên riêng địa lý đa âm tiết tiếng Việt vào loại từ đơn đa âm tiết, kiểu như: bồ hóng, mồ hôi, lê ki ma, …

Phân tích quy tắc viết hoa hiện hành - “viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết trong tên địa lý” [4], dễ dàng nhận thấy, quy tắc viết hoa tên địa lý không giống như quy tắc viết hoa chỉ người (lấy từ làm đơn vị viết hoa) mà chọn bộ phận của từ làm đơn vị viết hoa.

VI. KẾT LUẬN

Đối chiếu tên riêng người Việt với tên địa lý tiếng Việt, chúng ta thấy có một sự đối lập rõ rệt giữa tên người với tên địa lý: đối lập lỏng - chặt về kết cấu. Giữa các yếu tố cấu tạo tên chặt và tên lỏng có sự khác nhau về cấp độ: một bên là từ một bên là âm tiết, và giữa tên chặt và tên lỏng cũng có sự khác nhau về cấp độ ở bậc cao hơn - một bên là cụm từ một bên là từ đơn đa âm.

Nhìn trong quan hệ với quy tắc viết hoa tên riêng hiện hành – viết hoa chữ cái đầu của tất cả các âm tiết trong tên riêng chỉ người và tên riêng địa lý, có thể thấy quy tắc viết hai loại tên riêng này giống nhau về hình thức những khác nhau về bản chất, một bên lấy từ làm đơn vị viết hoa, còn một bên lấy bộ phận của từ là đơn vị viết hoa

Đối chiếu với tên riêng nước ngoài (phiên qua âm Hán Việt và phiên trực tiếp ra tiếng Việt) có thể thấy trong tên riêng người Việt và tên riêng người nước ngoài phiên qua âm Hán Việt, các âm tiết có kết cấu lỏng lẻo bao gồm các từ tương đối độc lập, trong khi đó, các âm tiết của tên riêng địa lý đa âm tiết, tên riêng người nước ngoài và tên địa lý nước ngoài có kết cấu chặt chẽ - mỗi âm tiết chỉ là một yếu tố trong một từ đa âm tiết.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Dương Lan Hải (1972), Bàn thêm một số điểm xung quanh việc viết hoa tên riêng, Ngôn ngữ, số 1.

[2] Anh Hiền (1972), Bàn thêm về quy tắc viết hoa tên riêng chỉ người và chỉ đất trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 3.

[3] Nguyễn Lân (1972), Góp ý kiến về vấn đề quy tắc viết ho, Ngôn ngữ, số 2.

[4] Quy định tạm thời về viết hoa tên riêng trong sách giáo khoa (Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2003/QĐ-BGD&ĐT, ngày 13-3-2003 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

[5] Quy định về chính tả tiếng Việt và về thuật ngữ tiếng Việt (Ban hành kèm theo Quyết định số 240/QĐ, ngày 5-3-1984 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo)).

[6] Lê Xuân Thại (1973), Nhìn lại cuộc thảo luận về quy tắc viết hoa, Ngôn ngữ, số 2.

[7] Phan Thiều (1972), Bàn về quy tắc viết hoa tên người, tên đất trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 1.

ABSTRACT

By studying, comparing proper names of the people and geographical names (place names) of Vietnam, ways of representing - for example, the looseness and tightness of structures differ - are found. On that basis, the author explores the role played by syllables in forming such proper names. These are issues that relate to the ways of forming Vietnamese proper names and need to be further studied.

 

Đỗ Việt Hùng - GS.TS.,

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội; Email: This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it..

Nguồn: Tạp chí Từ điển học & Bách khoa thư, số 2 (22) 2013

1. Từ mười năm nay chúng ta đã có được văn bản Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng (1374-1446) với đầy đủ nguyên bản chữ Hán gồm 31 thiên truyện và phần phiên âm, dịch nghĩa, chú giải(1). Nói riêng mối quan hệ văn - sử ở tác phẩm Nam Ông mộng lục vẫn còn nhiều vấn đề cần bàn thảo: Tương quan giữa Nam Ông mộng lục với bộ sử chính thống Đại Việt sử ký toàn thư(2) - Tương quan giữa Nam Ông mộng lục với các nguồn thư tịch khác dưới thời trung đại - Cấu trúc văn bản, nội dung và hình thức nghệ thuật của mối quan hệ văn/ sử trong Nam Ông mộng lục

SGGP - Sáng nay 15-12, tại Đà Nẵng, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng (Đại học Đà Nẵng) và Viện Ngôn ngữ học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam) phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế: “Ngôn ngữ học Việt Nam - những chặng đường phát triển và hội nhập Quốc tế”. 
 Hội thảo quốc tế: “Ngôn ngữ học Việt Nam - những chặng đường phát triển và hội nhập Quốc tế”
 
Hội thảo quốc tế: “Ngôn ngữ học Việt Nam - những chặng đường phát triển và hội nhập Quốc tế”Tham dự buổi hội thảo là các nhà khoa học, các Nghiên cứu sinh của Việt Nam và các nước: Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan…Hội thảo là diễn đàn học thuật nhằm kết nối các nhà khoa học trong nước và quốc tế trình bày các kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ trên thế giới hiện nay và việc ứng dụng vào thực tiễn nghiên cứu ngôn ngữ ở Việt Nam và khu vực qua các chặng đường giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ - văn hóa.Hội thảo đã phân nhánh thành 4 Tiểu ban: Ngôn ngữ học lý thuyết; Ngôn ngữ học liên ngành; Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, lịch sử tiếng Việt và phương ngữ; Ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học ứng dụng và ngôn ngữ học so sánh đối chiếu. 

Ngành ngôn ngữ học Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức ảnh 1GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, Viện trưởng Viện Ngôn ngữ trình bày tham luận: Các tiểu từ tình thái cuối câu trong tiếng Việt nhìn từ góc độ "dị thanh"

Qua hội thảo, có thể hình dung được sự phong phú của các vấn đề nghiên cứu mà các tác giả đã đặt ra và đang chờ đợi những trao đổi khoa học của những người tham gia.

Các báo cáo được chọn trình bày tại hội thảo sẽ gợi lên những trao đổi, thảo luận sâu sắc, mới mẻ để Ngôn ngữ học Việt Nam nói riêng và ngành Ngôn ngữ học nói chung nhìn lại và mở thêm ra những xu hướng nghiên cứu về các góc độ của ngôn ngữ học (cả ngôn ngữ học lý thuyết và ngôn ngữ học ứng dụng). 

Những lĩnh vực nghiên cứu mà các tác giả khơi dậy và bàn luận trong Hội thảo này sẽ là những gợi dẫn phong phú, đa dạng để các Viện nghiên cứu, cũng như các cơ sở giáo dục và cả những người quan tâm đến Ngôn ngữ học có thêm một số ý tưởng thực hiện các đề tài nghiên cứu.Nội dung của Hội thảo này cũng sẽ là nguồn ngữ liệu đáng quý, góp phần làm cho ngành Ngôn ngữ học cũng như các lĩnh vực KHXHNV vốn đang tiềm ẩn nhiều vùng nghiên cứu còn bỏ trống sẽ có thêm những gợi mở thú vị. Đồng thời, có những tác động nhất định đến bối cảnh giáo dục hiện nay.

Ngành ngôn ngữ học Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức ảnh 2PGS.TS Lưu Trang, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Trường ĐHSP-ĐHĐN là 1 trong 7 Trường ĐHSP trọng điểm của Việt Nam và là Cơ sở giáo dục được kiểm định và công nhận đạt chất lượng giáo dục đầu tiên của cả nước, chúng tôi đã đang nỗ lực không ngừng để thực hiện sứ mạng của mình. Vì vậy, với sự phối hợp với Viện Ngôn ngữ học, hy vọng sự thành công của Hội thảo cũng là một dấu mốc quan trọng góp thêm vào sự phát triển khoa học, giáo dục của Nhà trường; giúp Trường ĐHSP-ĐHĐN càng tăng thêm nội lực cho công tác đào tạo, nghiên cứu ở cả bậc Đại học và Sau Đại học; thực hiện được sứ mạng và tầm nhìn trong chiến lược phát triển vừa toàn diện, vừa tập trung vào mũi nhọn trong xu thế Việt Nam, trong đó có giáo dục Đại học Việt Nam đang phải từng bước hội nhập toàn cầu hóa như hiện nay.
 

PGS.TS Lưu Trang, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng cho biết, Hội thảo lần này nhận được 212 bài viết được gửi đến từ các nhà khoa học trong nước và quốc tế. Và từ kết quả thẩm định của các nhà khoa học, Ban tổ chức đã chọn được 88 bài viết đăng trong kỷ yếu. Con số này cho thấy tính khách quan và và coi trọng khoa học của một Hội thảo Quốc tế.

Bên cạnh những bài không được chọn đăng do chưa đạt yêu cầu, còn có nhiều lý do khác nhau như: không đảm bảo quy định của Hội thảo, không phù hợp với chủ đề của Hội thảo… 

“Nhưng chúng tôi đều rất trân trọng các tác giả đã gửi bài tham gia Hội thảo này. Diễn đàn khoa học hôm nay phần lớn thành công là do sự hưởng ứng tham gia viết bài của nhiều tác giả. Điều đó chứng tỏ Hội thảo Quốc tế Ngôn ngữ học lần thứ 1 đã tạo được sức lan tỏa trong cộng đồnghọc thuật và thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học trong cả nước và trên thế giới. Có được kỷ yếu này là tâm sức và sự nỗ lực hết mình của các nhà khoa học đã tham gia phản biện, thẩm định; các nhà khoa học trong BTC đã tham gia tư vấn, chủ trì chuyên môncũng như đội ngũ quý thầy cô giáo khoa Ngữ văn trường ĐHSP đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao. Ban tổ chức chúng tôi đánh giá cao cách làm chuyên nghiệp và khoa học của những người chịu trách nhiệm chuyên môn của hội thảo, để Trường ĐHSP-ĐHĐN và Viện Ngôn ngữ học cùng làm nên một Hội thảo Quốc tế đúng nghĩa, có chất lượng cao, tạo nên uy tín trong cộng đồng học thuật trong và ngoài nước.” – PGS.TS. Lưu Trang cho biết.

Ngành ngôn ngữ học Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức ảnh 3PGS.TS Bùi Trọng Ngoãn báo cáo đề dẫn 

PGS.TS Bùi Trọng Ngoãn (Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng) cho biết: Biểu hiện “phát triển” và dấu ấn “hội nhập” của ngôn ngữ học Việt Nam đã được thể hiện rõ rệt trong các báo cáo gửi đến Hội thảo. Đó là những nghiên cứu mới, tiếp cận được những khuynh hướng hiện đại của ngôn ngữ học trên thế giới, là những kết quả nghiên cứu mới về những đối tượng nghiên cứu tưởng chừng như đã cũ; đó là sự mở rộng biên độ của ngôn ngữ học trên cả hai bình diện là đường hướng nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu.

“Chúng tôi không nghĩ rằng thảo luận trong một hội thảo ngữ học như hôm nay là hướng tới một tiếng nói chung mà chính là sự gợi mở vấn đề một cách rộng rãi nhất, khoa học nhất nhằm vào một mục đích thiết thực là góp phần thúc đẩy những nghiên cứu mới của giới ngữ học nước nhà. Theo tinh thần đó, tất cả các báo cáo được tuyển chọn vào tập kỷ yếu đều là những bài viết gợi dẫn khả năng thảo luận cao" - PGS. TS Bùi Trọng Ngoãn nói.

Ngành ngôn ngữ học Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức ảnh 4Rất đông những nhà nghiên cứu ngôn ngữ, nghiên cứu sinh, học viên Cao học và Sinh viên tham dự hội thảo

Đặt trong bối cảnh chung là sự phát triển của ngôn ngữ học trên thế giới và từ những vấn đề tiếng Việt đang đặt ra với giới ngôn ngữ học, từ những yêu cầu thực tế của ngôn ngữ và đời sống, và căn cứ vào khuynh hướng chung của các báo cáo khoa học được gửi đến Hội thảo, ban tổ chức đề xuất các nội dung cần được ưu tiên thảo luận trong hội thảo này:

(1) Những khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ học trên thế giới hiện nay và khả năng áp dụng những kết quả đó ở Việt Nam. Hy vọng rằng những báo cáo về ngữ pháp chức năng, về ngôn ngữ học tri nhận sẽ là những gợi ý thú vị, phát lộ những khoảng trống mà ngôn ngữ học ở Việt Nam cần tiếp cận và thu hẹp khoảng cách.

(2) Thành tựu của Việt ngữ học theo quan điểm chức năng luận. Ngữ pháp học tiếng Việt theo hướng chức năng luận đã có thể miêu tả một cách đầy đủ và thuyết phục về cơ chế văn phạm của tiếng Việt? Các vấn đề ngữ dụng học của tiếng Việt, câu và nghĩa của câu, về phạm trù nghĩa tình thái.

(3) Các vấn đề về ngôn ngữ và văn hóa, ngôn ngữ văn chương, về lý thuyết phân tích diễn ngôn.

(4) Vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, chính tả chữ quốc ngữ, chuẩn mực tiếng Việt được sử dụng trong hoạt động giảng dạy ở các cấp học. Vấn đề giảng dạy tiếng Việt trong tư cách ngôn ngữ thứ hai đối với người học. Bên cạnh đó là các vấn đề về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số và sự bảo tồn tiếng nói của các dân tộc ít người.

(5) Các vấn đề liên quan tới ký hiệu học ngôn ngữ và các dịch vụ thông tin ngôn ngữ.

"Chúng tôi quan niệm mỗi một cuộc hội thảo là một điểm nối trên hành trình chạy tiếp sức không có điểm dừng, những gì được trình bày ở trên chỉ là những phác thảo khái lược về một điểm nối như vậy.”– PGS.TS Bùi Trọng Ngoãn cho biết.

Ngành ngôn ngữ học Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức ảnh 5GS.TS Nguyễn Văn Hiệp, Viện trưởng Viện Ngôn ngữ phát biểu tại hội thảo

GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp, Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học (Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam), cho biết: Là một người làm chuyên môn ngôn ngữ học, đã có nhiều trải nghiệm về hội thảo quốc tế về ngôn ngữ học, trong nước và quốc tế, tôi cũng rất ấn tượng về cái mới trong tổ chức hội thảo quốc tế này, đó là: thứ nhất, lần đầu tiên, hội thảo quốc tế về ngôn ngữ học ở Việt Nam hướng đến chuẩn chung của Hội thảo quốc tế trên thế giới: các báo cáo đều được phản biện độc lập, tức phản biện kín, người phản biện và tác giả báo cáo không biết ai là ai. Thứ hai, lần đầu tiên, hội thảo yêu cầu tác giả xác nhận bằng văn bản là báo cáo chưa từng được công bố trước đó.

“Trong quá trình chuẩn bị hội thảo, trao đổi với các thành viên của Ban tổ chức và các trưởng tiểu ban, chúng tôi cũng nhất trí với tinh thần của hội thảo lần này là tinh thần tranh luận, thẳng thắn. Bởi vì hiện nay ngành ngôn ngữ học Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức: vừa phải tiệm cận với trình độ của ngôn ngữ học thế giới, vừa phải trực tiếp tham gia giải quyết những vấn đề của xã hội đặt ra, trong đó có những vấn đề đòi hỏi phải tiệm cận với trình độ của thế giới, như vấn đề ngôn ngữ học tham gia vào cuộc cách mạng 4.0. Bối cảnh như vậy, đòi hỏi hội thảo phải có những tranh luận thật sự. Hội thảo này là hội thảo có nhiều tác giả trẻ, và chúng tôi tin rằng người trẻ sẽ đi đầu trong hoài nghi và tranh luận khoa học. 

Và nói như nhà Ngữ học tài danh Jakobson trong một lần tổng kết hội thảo: Nếu hội thảo này khi nêu những vấn đề khoa học ra để tranh luận mà không ai chịu ai, thì đó là một hội thảo thành công.” – GS.TS Nguyễn Văn Hiệp cho biết. 

Nhiều nội dung quan trọng về Ngôn ngữ học được "mổ xẻ"Về các nội dung được "mổ xẻ" tại hội thảo quốc tế này, PGS.TS Bùi Trọng Ngoãn cho biết, các nhà Ngôn ngữ học trong nước và quốc tế sẽ tập trung thảo luận, phản biện các nhóm nội dung:(1)  Về Ngôn ngữ học lý thuyết, các báo cáo đã có sự trải rộng từ từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp đến ngữ dụng học.Trong đó, những nghiên cứu theo hướng chức năng luận đã đem đến những kiến giải mới lạ và có sức thuyết phục. Đáng chú ý là khi nhà nghiên cứu dùng lý thuyết “dị thanh” (hetoroglosia) của nhà ngữ học P.P.R. White để phân tích nghĩa của các tiểu từ tình thái cuối câu tiếng Việt.Bao quát cả cấu trúc luận và chức năng luận là những nghiên cứu mới về loại hình học cú pháp và về cấu trúc câu tiếng Việt. Người đọc, người nghe có thể gặp ở đây một thuật ngữ như đã quen thuộc nhưng lại chứa đựng những thông tin mới là “loại hình học cú pháp” và những kiến giải khúc chiết về loại hình học trật tự từ, loại hình học liên kết hình thái cú pháp và loại hình học cấu trúc cú pháp của tiếng Việt. Ở phạm vi hẹp hơn, lí thuyết điển mẫu của ngữ nghĩa học tri nhận cũng đã được áp dụng vào việc nghiên cứu nghĩa của câu tiếng Việt.  Lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận cũng đã giúp các nhà nghiên cứu có được cách đọc mới về những đối tượng quen thuộc. Các ý niệm “vui”, “buồn”, ý niệm “lực” - “sức mạnh” trong tiếng Việt đã được khảo sát, kiến giải dưới góc nhìn tri nhận luận.Các vấn đề như nghĩa logic và nghĩa ngôn ngữ của các từ logic trong tiếng Việt, các cấu trúc được ưu tiên lựa chọn khi hỏi - đáp, các mức độ phủ định và các biểu thức ngôn ngữ biểu thị về từng mức độ phủ định trong tiếng Việt cũng đã được các tác giả xới lên.(2) Về ngôn ngữ học liên ngành, như chính cách định danh về nó, các báo cáo trải ra trên một bề mặt khá rộng từ mối quan hệ ngôn ngữ - văn hóa, ngôn ngữ với văn chương đến ngôn ngữ - lịch sử, địa lí, văn hóa (địa danh học)Những thuyết giải về việc lựa chọn từ cực cấp của người Nam Bộ như: “ngay đơ’, ‘ngay chốc”, “ngay bon”… hoặc về cấu trúc “Đã + chủ ngữ + động từ + bổ ngữ” (Đã người ta hô là…), là những phát hiện đáng tin cậy. Cũng dưới cái nhìn liên ngành như vậy, những khảo sát về cách đặt tên nhân vật hay lớp từ vựng gắn liền với môi trường sông nước trong sáng tác của một nhà văn Nam Bộ sẽ là những thông tin lôi cuốn người đọc, người nghe.Về ngôn ngữ văn chương, những nghiên cứu về đồng nghĩa lâm thời trong văn bản thi ca với những khảo sát về hiện tượng này trong thơ Hồ Xuân Hương, Xuân Quỳnh, Vi Thùy Linh, về tính ký hiệu hóa trong ngôn ngữ văn chương, về tính vùng miền trong văn bản nghệ thuật đều là sự vận dụng đa dạng các lý thuyết ngôn ngữ học hiện đại để xem xét, đánh giá ngôn ngữ văn chương bằng những kiến giải có cơ sở lý thuyết đáng tin cậy. Hàng loạt các bản báo cáo về địa danh học có mặt trong Hội thảo sẽ góp phần lấp đầy dần tấm bản đồ địa danh học Việt Nam.(3) Về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, lịch sử tiếng Việt và phương ngữ, là sự tập hợp hàng loạt bản báo cáo có hàm lượng khoa học caoThể hiện một thái độ quan tâm đến chính sách dân tộc và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên lãnh thổ Việt Nam, các báo cáo về nhóm đề tài này đã có sự phân bố cho cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Trong đó, có bài viết đã tổng hợp và nhận diện về công cuộc nghiên cứu ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số ở phía Bắc, một khu vực không rộng nhưng có đến 31 dân tộc ít người định cư; từ đó tác giả đặt ra những vấn đề cấp bách như việc xây dựng chữ viết Latin hoá, soạn từ điển, sách học tiếng, tìm giải pháp bảo tồn cho một số ngôn ngữ. Cũng có tác giả nêu lên một vấn đề đáng quan tâm khác là thực trạng sử dụng tiếng mẹ đẻ của người dân tộc thiểu số. Từ kết quả khảo sát năng lực sử dụng tiếng mẹ đẻ của người Giẻ - Triêng và hiện tượng chuyển mã, trộn mã trong giao tiếp của họ, tác giả đặt ra vấn đề giải pháp giúp họ bảo tồn tiếng nói dân tộc mình.Cũng trong khuôn khổ tiểu ban thứ ba, bài viết về ngữ âm lịch sử tiếng Việt đã xem xét một số dãy phụ âm và tổ hợp phụ âm đầu tiếng Việt từ thời điểm ra đời cuốn Từ điển Việt - Bồ - La đến thời điểm ra đời Nam Việt Dương hiệp tự vị.Phương ngữ cũng là một đối tượng nghiên cứu được nhiều người lựa chọn. Đó là những bản báo cáo về đặc điểm ngữ âm Nam Bộ, về từ xưng hô và cách xưng hô trong tiếng Quảng Nam. (4) Về ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học ứng dụng và ngôn ngữ học so sánh đối chiếu là bộ phận tập hợp một hệ thống bài viết rất phong phú.Đưa ngôn ngữ học vào đời sống, bản báo cáo về ngôn ngữ lệch chuẩn trên báo mạng điện tử giới trẻ đã phác thảo những đường nét căn bản cách sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ hiện nay. Hoặc có bài viết phát hiện về hiện tượng “giao thoa cú pháp học” khi người Việt sống tại tỉnh Udon Thani sử dụng cấu trúc cụm từ số tiếng Thái để thay thế cấu trúc cụm từ số tiếng Việt.Đại diện cho lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng là ý kiến về việc xây dựng cơ sở dữ liệu và khai thác dữ liệu chữ viết tắt tiếng Việt. Một ý kiến có tính thời sự về chữ quốc ngữ và chính tả hiện nay là bản báo cáo về thực tiễn phát âm và lịch sử chữ viết Quốc. Bài viết là những kiến giải của một nhà chuyên môn về một trường hợp “lệch chuẩn” của chữ quốc ngữ xét trên bình diện âm vị học.Về giảng dạy ngôn ngữ, bài viết về việc giảng dạy tiếng Anh tại Nhật Bản là một gợi ý đáng được tham khảo cho việc dạy - học ngoại ngữ hiện nay, cũng như việc dạy tiếng Việt trong tư cách ngôn ngữ thứ hai đối với người học. Về nội dung dạy học tiếng Việt, bản báo cáo về dạy nghi thức lời nói cho trẻ mầm non qua trò chơi đóng vai sẽ đem đến cho Hội thảo một vấn đề đáng được bàn thảo. Bên cạnh đó còn có một ý kiến đề cập về một khía cạnh ngôn ngữ trong diễn ngôn sư phạm, vốn là một vấn đề cấp thiết, cần có một hội thảo riêng.Theo hướng ngôn ngữ học so sánh đối chiếu, bài viết đối chiếu từ ngữ chỉ thời gian trong một ngày của tiếng Thái và tiếng Việt đưa đến những thông tin thú vị về các đối tượng được quy chiếu để xác định thời điểm ở từng ngôn ngữ.

 

NGUYÊN KHÔI

Nguồn: Sài Gòn giải phóng, ngày 15.12.2018.

Tôi không khỏi ngần ngại khi thuật lại những hồi ức, kỷ niệm về GS. Bửu Cầm, bởi lẽ những hồi ức, kỷ niệm ấy có liên quan mật thiết với tôi, nên không thể thuật lại mà không ít nhiều nói đến tôi, nhưng cái tôi thì lại rất đáng ghét. Hơn nữa, cũng có thể có người nghĩ rằng tôi muốn nhân viết về GS. Bửu Cầm mà gián tiếp nói về mình. Tuy nhiên, GS. Bửu Cầm là thầy của tôi từ năm l963, khi tôi học cử nhân giáo khoa Việt Hán [1], sau đó lại là giáo sư bảo trợ [2] tiểu luận cao học và luận án tiến sĩ của tôi; trong khoảng 1970-1975, khi GS. Bửu Cầm làm Trưởng ban Hán văn, thì tôi là Phụ tá Trưởng ban; từ ngày Thầy về hưu đến nay, tôi vẫn thường tới lui thăm viếng. Một phần của cuộc hội thảo khoa học này là để kỷ niệm 90 năm ngày sinh của GS. Bửu Cầm (đây là lần đầu có cuộc hội thảo khoa học về Thầy), tôi là người gần gũi Thầy trong một thời gian dài như thế, mà không ghi lại một vài hồi ức, kỷ niệm về Thầy, nghĩ cũng có lỗi không ít với thẩy của mình.

TÓM TẮT

Chúng tôi phân tích tầm quan trọng của các thế hệ truyền giáo đạo Chúa Jesus dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha đối với việc thực hiện chữ Quốc ngữ [ngôn ngữ quốc gia] ở Việt Nam ngày nay và sự miêu tả ngôn ngữ học các thanh điệu tiếng Đàng Ngoài (Annamese hay Tonkinese – những tên gọi trước đây của tiếng Việt). Cụ thể, chúng tôi phân tích văn bản Manuductio ad Linguam Tunckinensem (khoảng 1745 [bản đầu 1623]) của Francisco de Pina, S.J.(1585/1586–1625),và Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum và phần viết về ngữ pháp Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio (Rome 1651)của Alexandre de Rhodes, S.J. (1593–1660). Chúng tôi chứng minh rằng Pina thực sự là người đầu tiên dùng hệ thống Latin hóa tiếng Việt và biện luận rằng ông là người đầu tiên miêu tả sáu thanh điệu của ngôn ngữ này một cách chi tiết. A. de Rhodes đã phát triển kiến thức của Pina, cụ thể là những điều được nói rõ trong miêu tả các thanh điệu tiếng Đàng Ngoài. Chúng tôi cũng lý giải rằng Rhodes sử dụng các từ điển đã thất lạc của Gaspardo Amaral, S.J. (1594–1646) và AntónioBarbosa, S.J. (1594–1647), màbằng chứng chủ yếu là việc dùng chữ kép <nh>của chính tả tiếng Bồ Đào Nha ghi âm vị /ɲ/.

GIỚI THIỆU

Chúng tôi phân tích công trình của các nhà truyền giáo tiên phong người Bồ Đào Nha ở Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XVII và văn bản siêu ngôn ngữ (metalinguistic) của họ. Bài viết có kết cấu như sau: trước hết chúng tôi trình bày bối cảnh lịch sử của những khám phá của Bồ Đào Nha, sự thành lập Hội Bảo trợ Bồ Đào Nha hay Ius Patronatus [Right of Patronage]theo các sắc lệnh của giáo hoàngvà tầm quan trọng của chúng đối với việc truyền bá đạo Chúa Jesus ở Đông Nam Á, cụ thể là Macau, nơi trở thành trung tâm của đạo Chúa Jesus ở Trung Quốc, Nhật Bản và các nước láng giềng, mặc dù nó chỉ là một Phụ Tỉnh. Sau đó, chúng tôi sẽ nói đến các hoạt động của các giáo sĩ tiên phong phục vụ dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha, chủ yếu là các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Francisco de Pina, S.J. (1585/1586–1625), Gaspar do Amaral, S.J. (1594–1646) và António Barbosa, S.J. (1594–1647), và giáo sĩ người Pháp, Alexandre de Rhodes, S.J. (1593–1660).

Chúng tôi miêu tả các công trình siêu ngôn ngữ về tiếng Việt được xuất bản đầu tiên, như Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum và Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio (Rome 1651) của Alexandre de Rhodes và các nguồn chính của chúng. Phần này được chia làm hai phần nhỏ. Trong phần thứ nhất, chúng tôi sẽ phân tích việc áp dụng hệ thống Latin hóa hiện giờ gọi là Quốc ngữ [ngôn ngữ quốc gia] và chính tả tiếng Bồ Đào Nha trong tiếng Việt, cụ thể là sự thể hiện âm vị /ɲ/ bằng chữ kép <nh> Bồ Đào Nha. Ở phần hai chúng tôi sẽ phân tích rõ ảnh hưởng của Francisco de Pina trong miêu tả của Rhodes về sáu thanh điệu của tiếng Đàng Ngoài, so sánh văn bản Manuductio ad linguam Tunchinensem (khoảng 1745 [trước 1623]) của Pina và Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio (Rome 1651) của de Rhodes.

BỐI CẢNH LỊCH SỬ[1]

Hiệp ước Tordesillas (7/6/1494) và Zaragoza (22/4/1529), ký giữa vua Bồ Đào Nha và vua Tây Ban Nha quy định phạm vi ảnh hưởng hay các phần lãnh thổ thuộc địa/truyền giáo của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ở phương tây và phương đông. Hai nước chia thế giới làm hai phần ngang nhau, phần đất giữa 370 dặm (khoảng 2,193 km) tây các đảo Cabo Verde (khoảng 46thkinh độ tây) và 297,5 dặm (khoảng 142ndkinh độ đông) thuộc về Bồ Đào Nha. Ngoài ra đối với các nước Thiên Chúa giáo như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, sự ủy quyền của Giáo hoàng đối với thuộc địa là bắt buộc vì lý do chủ yếu là hướng người bản xứ đến với đạo Chúa Jesus.

Theo đó, sau năm 1452, với sắc lệnh Dum Diversas (8/6/1452) và chủ yếu là sắc lệnh Romanus Pontifex (8/1/1455), Giáo hoàng Nicholas V (1397–1455) đã trao cho vua Bồ Đào Nha, D. Afonso V (1432–1481) Ius Patronatus [Quyền Bảo trợ] và toàn quyền pháplý đối với các vùng đất đã và sẽ tiếp tục phát hiện được ở nước ngoài (xem, ví dụ: Rego 1940, tr.7-8, Jacques 1999: 43-52). Các quyền này (và các bổn phận) được ghi trong sự giám quản riêng của các hoạt động hành chính và truyền giáo ở các vùng đất hải ngoại, việc thành lập các xứ đạo, giáo khu, việc thụ phong giám mục và các phúc lợi thuộc giáo hội, tài trợ cho các tăng lữ (thường kỳ và thế tục) cũng nhưviệc xây dựng và giám quản các nhà thờ, trường học và tu viện, v. v… (Sena 2014, tr. 91–92).

Các giáo sĩ Bồ Đào Nha – hay những ai phục vụ dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha – lúc ban đầu không biết ngôn ngữ bản xứ. Họ đem theo thông dịch, dịch giả hay “linguas” như họ được biết. Như vậy một trong những công việc đầu tiên của họ là học ngôn ngữ của người bản xứ và viết các bài giảng đạo, các cuốn hội thoại, từ điển và ngữ pháp để giao tiếp với người bản xứ và để dạy các nhà truyền giáo đến sau họ.

Điều đó rất quan trọng sau khi Giáo hoàng Paul III (1468-1549) thành lập Dòng Tên (Society of Jesus) năm 1540, Công đồng Trento (1545–1563) và đặc biệt đối với châu Á, năm Hội đồng địa phận đầu tiên của Goa ở Ấn Độ (1567, 1575, 1585, 1592 và 1606), đã để lại một cuộc cách mạng về tôn giáo và xã hội của đế chế Bồ Đào Nha ở châu Á (Souza 2008, tr. 424).Mục đích chính là đảm bảo đầy đủ các giáo luật của Công đồng Trento hay Chấn hưng Tôn giáo(Counter-Reformation) đến các thực tế ở Phương Đông. Chẳng hạn, một trong những đề nghị của Hội đồng địa phận thứ ba ở Goa (1585) là xuất bản phép giảng bằng tiếng Bồ Đào Nha và tiếng bản xứ để truyền bá tốt hơn tín ngưỡng đạo Thiên chúa (Faria 2013, tr. 227; cũng xem Fonseca 2006, tr. 87).

Sự có mặt của người Bồ Đào Nha ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam xuất hiện vào giữa thế kỷ XVI (xem, ví dụ: Jacques 1999).Giáo khu rộng lớn ở Goa (Ấn Độ), được xây dựng theo sắc lệnh Romani pontificis circumspection (31/1/1533) của Giáo hoàng Clement VII (1478–1534) về pháp lý bao trùm toàn bộ phương Đông, tức là từ Mũi Good Hope (Cape Town,Nam Phi) đến

Trung Quốc và Nhật Bản. Năm 1558, Giáo hoàng Paul IV (1476–1559) thành lập Giáo khu Malacca (Malaysia) bằng Tông hiến Pro Excellent! Praeminentia (4/2), và, 18 năm sau, Giáo hoàng Gregory XIII (1502–1585) thành lập giáo khu Macau (Trung Quốc) bằng Tông hiếnSuper specula militantis Ecclesiae (23/2/1576),những địa hạt dưới quyền Tổng giám mục Goa (Xem: Fernandes & Assunção 2014).

Macau trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha vào năm 1557 (xem, ví dụ: Correia 2012), nhận một Hiến chương từ vua D. Filipe I của Bồ Đào Nha (Filipe II của Tây Ban Nha) (1527–1598) năm 1586 và là trung tâm của Đạo chúa Jesus ở Trung Quốc, Nhật Bản và các vùng lân cận. Đó là bối cảnh ít nhất cho đến cuối thế kỷ thứ 17 với việc thành lập Giáo khu Nanjing bằng Tông hiến (apostolic constitution)Pontificis Sollicitudo và Giáo khu Bắc Kinh (Trung Quốc) bằng Romanus Pontifex, Beati Petri (April 10, 1690) của Giáo hoàng Alexander VIII (1610–1691), (xem: Teixeira 1996, tr. 15–16). Sự Bảo trợ của Bồ Đào Nha ở Viễn Đông chấm dứt với việc Macao được chuyển cho nước Cộng hòa Nhân dân trung Hoa ngày 19/12/1999.

Người Bồ Đào Nha đến vùng Chăm Pa (lãnh thổ Việt Nam ngày nay, lúc bấy giờ là Nam Trung bộ) vào giữa tháng Chín năm 1516 (xem, ví dụ: Manguin 1972, tr. 1-3; 45-46). Những tiếp xúc đầu tiên chưa được thực hiện và kết quả là một cơn bão đã buộc các thuyền phải đổi hướng và việc “khám phá” Đàng Trong của người Bồ Đào Nha phải lùi lại 7 năm sau, năm 1523. Trên thực tế, mặc dù người Bồ Đào Nha chưa bao giờ xâm chiếm Việt Nam, sự hiện diện của họ ở đây đã kéo dài hơn 3 thế kỉ, với nhiều mối liên hệ (xem, ví dụ:  Manguin 1972, tr. 1-3; 236), chủ yếu thông qua việc truyền giáo do các nhà truyền giáo tiến hành dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha.

Vào thế kỷ thứ 17, quốc gia bị chia làm hai vương quốc theo vĩ tuyến 18 bắc: Tonkin, tức miền bắc Việt Nam với thủ đô Thăng Long (nay là Hà Nội) và Annam/Cochinchina là miền trung và nam Việt Nam với kinh đô Phú Xuân (Huế). Sau cuộc chiến năm 1614, nhà Trịnh thống trị Vương quốc Đàng Ngoài và nhà Nguyễn thống trị Vương quốc Đàng Trong (Annam/Cochinchina). Trong nước Việt Nam được gọi là Đại Việt, nhưng với bên ngoài, trong quan hệ với Trung Quốc họ dùng tên An Nam, cái tên được người Bồ Đào Nha gọi là “Cochin-China” (xem, ví dụ: Jacques 2004, tr. 56-58).

CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN DƯỚI SỰ BẢO TRỢ CỦA BỒ ĐÀO NHA Ở VIỆT NAM

Cuốn sách đầu tiên nói đến những tiếp xúc đầu tiên giữa người Bồ Đào Nha và Việt Nam là của nhà ngữ pháp và biên khảo João de Barros (1496–1570), có tên Terceira decada da Asia: Dos feytos, que os Portugueses fizeram no Descobrimento & conquista dos mares & terras do Oriente (Lisbon 1563). Barros viết rằng Tổng trấn Ấn Độ, Afonso de Albuquerque (1453–1515), cử Fernão Peres de Andrade (1458–1552), một nhà hàng hải, thương gia và nhà ngoại giao đi khám phá bờ biển Trung Quốc và tạo lập quan hệ đầu tiên với người Trung Quốc. Ông ta rời Malacca vào ngày 12/8/1516, nhưng bị buộc phải chuyển hướng vì một cơn bão và họ đã đến Vương quốc Chăm Pa ở Đàng Trong. Fernão Peres de Andrade đặt chân lên bờ biển để nhìn làn nước trong lành và có thể tường trình về chất lượng cuộc sống của người dân. Sau ấn tượng đầu tiên, Fernão Peres ra lệnh cho các thủy thủ tặng quà cho người dân bản xứ, cố gắng làm giảm xung đột tạm thời và thiết lập quan hệ với họ. Fernão Peres tiếp tục hành trình của mình nhưng ông không thể đi đến Trung Quốc. Ông ta dừng lại ở Côn Sơn, trên bờ biển phía nam Việt Nam, thuộc quần đảo Côn Đảo hiện nay, ở miền Nam Việt Nam thuộc Biển Đông. Côn Sơn được người Bồ Đào Nha gọi là “Pullo Condor”, lấy từ tiếng Malaysia “Pu Lao Kundur”. Lúc bấy giờ Côn Sơn hay Pullo Condor chưa có người ở, nhưng nó được các nhà hàng hải biết đến rất rõ vì nguồn nước sạch, gia cầm, chim thú, rùa và nhiều loại cá khác nhau (Barros 1563, tờ. 42r-43v).

Một trong những văn bản tiếng Bồ Đào Nha đầu tiên khác viết về Việt Nam là giáo sĩ dòng Đa Minh, Gaspar da Cruz, O.P. (khoảng 1520–1570), có tênTratadoem que se contam muito por extenso as cousas da China (Évora 1570). Đây là cuốn sách châu Âu đầu tiên viết về Trung Quốc. Gaspar da Cruz là nhà truyền giáo đầu tiên ở Malaccavà ông quyết định đến Trung Quốc để biết rõ hơn về vương quốc nổi tiếng này. Trong chuyến đi của mình ông đã dừng chân ở vương quốc Cochinchina để nghỉ và lấy nước sạch. Ông mô tả đây là một vương quốc tuyệt vời với nhiều người và những người dân giàu có. Đặc biệt, ông viết rằng Cochinchina giáp với phía nam Trung Quốc với khoảng một trăm dặmbờ biển. Ông cũng nhận xét rằng Cochinchina lệ thuộc Trung Quốcvà con người cũng như ăn mặc giống người Trung Quốc. Đáng tiếc, ông ta không mô tả gì về tiếng Việt, nhưng ông nói rằng chữ viết của Cochinchina tương tự như chữ của Trung Quốc cho dù nó là ngôn ngữ khác hẳn. Đối với ông, người Việt Nam và người Trung Quốc chỉ hiểu được nhau qua chữ viết chứ không phải bằng lời nói bởi vì Trung Quốc có nhiều ngôn ngữ khác nhau và người nói các ngôn ngữ này cũng không hiểu được nhau (Cruz 1569, tờ. b iiir; về các tư liệu khác, xem Fernandes & Assunção 2014, p. 9-10).

Roland Jacques, O.M.I, hiện nay là giáo sư danh dự của Đại học Saint Paul ở Ottawa và đại diện của Việt Nam từ giáo đoàn “Missionary Oblates of Mary Immaculate”, là một học giả người Pháp đã nghiên cứu chi tiết về quan hệ giữa Việt Nam và các nhà truyền giáo dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha.Khi nghiên cứu các thế hệ tiên phong của giáo đoàn được tổ chức[2] đầu tiên, ông bàn về các nhà truyền giáo phục vụ dưới sự Bảo trợ của Bồ Đào Nha giữa năm 1623 và 1678 với sự tập trung vào Francisco de Pina,S.J. (1585/1586–1625), Gaspar do Amaral, S.J. (1594–1646), António Barbosa, S.J. (1594–1647) và Alexandre de Rhodes, S.J. (1593–1660) (xem Jacques 2012, tr. 43–48).

Francisco de Pina sinh ở Guarda, miền bắc Bồ Đào Nha giữa năm 1585 và 1586. Ông gia nhập Dòng Tên năm 19 tuổi và dành một số năm học ở Học viện Madre de Deus ở Macau, nơi ông là học trò của Cha João Rodrigues “Tçuzu” (1562–1633) và có khả năng sử dụng năng khiếu ngôn ngữ của mình. Ông đến Việt Nam ở Chăm Pa (Hội An, được người Bồ Đào Nha gọi là “Faïfo”) vào năm 1617 và qua đời trong một tai nạn chỉ tám năm sau (15/12/1625) ở tuổi 40 khi cố gắng cứu khách đang gặp nguy hiểm ở ĐàNẵng (“Turam” or “Turão” theo cách gọi của người Bồ Đào Nha), một cảng trên sông Hàn ven bờ biển miền Nam Trung Bộ của Việt Nam (Jacques 2002, tr. 24–27; Mourão 2005, tr. 317–319).

Gaspar do Amaral sinh ở Corvaceira, một huyện thuộc Viseu, miền bắc Bồ Đào Nha năm 1594; ông được phong linh mục Dòng Tên năm 1622, và năm sau ông được cử đến Nhật Bản, sau khi đã ở Học viện Madre de Deus ở Macau. Ông được Giám đốc Học viện, Cha Pedro Morejón (khoảng 1562–1639) cử đến Tonkin năm 1629, bởi vì “ông này không có tin tức gì từ các nhà truyền giáo” (Ribeiro 2001, tr. 68). Gaspar do Amaral là Giám đốc Học viện Macau và Phó Tỉnh dòng Tên Nhật Bản (1641–1645) (Wernz, Schmitt & Goetstouwers 1950, tr. 650). Ông qua đời trong một tai nạn đắm tàu ở gần đảo Hải Nam trên biển Đông (26/2/1646) lúc khoảng 52 tuổi (Mourão[3] 2005, tr. 310–313, 2012, tr. 54–61).

António Barbosa sinh ở Arrifana do Sousa, Penafiel, một huyện của Porto,cũng ở miền bắc Bồ Đào Nha năm 1594. Ông gia nhập Dòng Tên năm 1624, vàđến Goa và Macau để cộng tác với Gaspar do Amaral làm phiên bản tiếng Bồ Đào Nha của cuốn từ điển tiếng Việt (Zwartjes 2011, tr. 291). Năm 1635,ông dạy ở Học viện Macau, và, giữa năm 1636 - 1642, ông ở Tonkin. Năm 1644 có tin về sự có mặt của ông ở Macau (Mourão 2012, tr. 59, chú thích16); ông bị ốm, vì thế, “được gửi đến Goa điều trị và mất ở đây năm 1647 (Jacques 2002, tr. 30, chú thích 36).

Alexandre de Rhodes sinh năm 1593 ở Avignon, miền nam nước France,

trong một gia đình gốc Do Thái. Tổ tiên ông đến từ Calatayud, ở Aragon gầnZaragoza,Tây Ban Nha, “chạy trốn các cuộc khủng bố của người Iberia và đổi tên của họ từ Rueda[4], sống ở Avignon” (Maryks 2010, tr. 151). Rhodes đã giấu nguồn gốc Do Thái và Tây Ban Nha của mình khi gia nhập trường dòng Thánh Andrew ở Rome năm 1612 để được nhận vào Dòng Tên. Nhưng, ông coi mình là người Pháp, như ông nói rõ trong cuốn sách Divers Voyages: “ma chere patrie” (de Rhodes 1653, tờ. ẽ ii v., “Epistre à la Reyne”). Ông xin được nhận vào tỉnh dòng Roman thay vì Lyon bởi vì thành viên của nó dễ được nhận nhiệm vụ của vua Bồ Đào Nha đi truyền giáo ở Ấn Độ hơn (Phan 1998, tr. 39).Rhodes được thụ phong năm 1618 và cùng năm đó được cử đi Viễn Đông. Ông đến Lisbon bằng đường bộ, từ đó ông lên tàu “Santa Teresa”, dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha và năm sau đến Goa. Theo Fidel González Fernández (2011), hoạt động truyền giáo của Rhodes có thể chia làm ba thời kỳ khác nhau: 1) giữa 1619 và 1645 ở Viễn Đông dưới sự Bảo trợ của Bồ Đào Nha; 2) giữa 1645 và 1655 ở châu Âu, chủ yếu ở Pháp và Italia, và 3) giữa 1655 và1660 ở Ba Tư, hiện nay là Iran, nơi ông mất vào năm 1660, ở tuổi 67.

Alexandre de Rhodes muốn đi theo dấu chân của Thánh Francisco Xavier, S.J.(1506–1552), nhưng, vì khủng bố ở Nhật Bản sau năm 1614, Rhodes buộc phải ở lại Goa hai năm rưỡivà dành thời gian học ngôn ngữ bản địa, Ông đến Malacca năm 1622 và Macau năm 1623; ở đây ông được nhận vào học viện Madre de Deus, nơi ông bắt đầu học tiếng Trung Quốc và tiếng Nhật Bản. Một năm sau, năm 1624, ông có chuyến đi đầu tiên đến Chiêm Thành (Chăm Pa), Cochinchina. Ở đây ông gặp Francisco de Pina, và bắt đầu học tiếng Việt với ông ấy. Tuy nhiên, một năm sau, Pina bị chết trong một tai nạn đắm tàu ở Đà Nẵng (González Fernández 2011, tr. 283). Rhodes còn ở lại một số năm ở ven biển Trung Bộ thuộc tỉnh Nghệ An, Tonkin, nơi ông gặp Gaspar do Amaral. Năm 1630, trong thời gian trị vì đầu tiên (1619–1642) của vua Lê ThầnTông (1607–1662), chúa Trịnh Tráng (1577–1654) xem Đạo Thiên chúa nguy hiểm và bắt đầu cấm đạo (Brockey 2009: 338–339).

Rhodes bị trục xuất khỏi Tonkin, ông trở lại Macau cho đến năm 1640, nơi ông vẫn có thể biết cha João Rodrigues “Tçuzu”, S.J. (1562–1633) và liên hệ lại với Gaspar do Amaral, S.J. (1594–1646). Rhodes trở lại Cochinchina, nhưng, trong cuộc nội chiến Trịnh–Nguyễn (1627–1673)[5], ông bị chúa Nguyễn Phúc Tần (1620–1687) buộc tội tử hình (chặt đầu) ở Phú Xuân (Huế) miền trung Việt Nam. Ông được người của vua Tonkin, Lê Thần Tông (1607–1662) cứu thoát. Tuy nhiên, tội chết được thay bằng việc bị trục xuất. Vì vậy, ông lên một chiếc tàu Bồ Đào Nha ở Hội An vào ngày 3/7/1645, và không bao giờ trở lại nữa (GonzálezFernández 2011, tr. 288).

Một điều cũng quan trọng là cần đề cập đến nhà ngôn ngữ nổi tiếng đầu tiên về tiếng Nhật Bản, giáo sĩ Bồ Đào Nha, João Rodrigues “Tçuzu”, S.J. (1562–1633)[6], cho dù ông chưa hề đặt chân đến Việt Nam. Ông ở Macau giữa 1614 và 1633 và có lẽ đã làm thay đổi ngôn ngữ học Việt Nam, chủ yếu là hoạt động tiếp theo của đồng nghiệp và là học trò của ông là Francisco de Pina.Nói vắn tắt, João Rodrigues đã viết một tác phẩm khởi nguồn, thêm vào đó những sáng tạo ngôn ngữ và tạo ra một tác phẩm siêu ngôn ngữ từ vốn kiến thức của ông về xã hội và văn học Nhật Bản. Ông là người đầu tiên viết về tiếng Nhật Bản bằng các kí tự Latin, và những miêu tả của ông về xưng gọi của người Nhật Bản, việc sử dụng sắc thái kính trọng, các quan hệ tôn ti trong xã hội Nhật Bản và những sự khác nhau về xã hội cụ thể giữa nam và nữ (Zwartjes 201, tr. 94–142; Rodrigues 1604 [-1608],1993 [1620]). Cha João Rodrigues[7]xứng đáng, như Zwartjes (2011, tr. 141) nói “được xếp là một trong năm nhà ngữ pháp Đạo Thiên Chúa nổi tiếng nhất từ thời thuộc địa”, chủ yếu là với tác phẩm Arte da lingoa de Iapam (Nagasaki 1604–1608).Roland Jacques (2012: 44) gọiônglà “một thiên tài ngôn ngữ học - un génie de la linguistique” và CharlesRalph Boxer (1904–2000), “cha đẻ của nghiên cứungôn ngữ Nhật Bản” (Boxer1950, p. 363). Về cuốn ngữ pháp chính của ông (1604-08), Richard L. Spear cho rằng “về mọi phương diện nó là nghiên cứu ngữ pháp tuyệt vời nhất về tiếng Nhật ra đời trong thế kỷ đạo Thiên Chúa” (Spear 1975, tr. 2).

NHỮNG VĂN BẢN SIÊU NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT ĐẦU TIÊN ĐƯỢC XUẤT BẢN[8]

Văn bản siêu ngôn ngữ đầu tiên được xuất bản về tiếng Việt là Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum và Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio của Alexandre de Rhodes. Chúng được Propaganda Fide (Bộ Truyền giáo) in (Rome 1651) sáu năm sau khi ông rời Việt Nam. Như vậy, ông không thể hoàn thành chúng ở đấy và có khả năng ông mang theo văn bản của Gaspar doAmaral và António Barbosa mà ông dùng để biên soạn cuốn từ điển, như chúng ta sẽ thấy. Dictionarium có tất cả591 trang. Riêng phần từ điển gồm 450 trang chia thành 900 cột, Rhodes gọi là trang hay tờ; kèm theo nó là một phụ lục giải thích, một đính chính bằng tiếng Việt, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latin và một index với các mục từ Latin ([440]–[490]). Trái lại, LinguaeAnnamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio là (một khái lược) một miêt tả về ngữ pháp tiếng Việt, đối chiếu, trong một số bản, ở đầu cuốn từ điển, và một số trường hợp ở cuối. Nó gồm có 31 (độc lập-autonomous) trang, trong đó Rhodes phân tích tiếng Việt hay những vấn đề ngữ pháp tiếng Đàng Ngoài, chẳng hạn như chữ cái và âm tiết (2–7), các biến thể và các dấu (8–10), các danh từ (10–14), các đại từ trang trọng (“honorific”) (14–20), các đại từ khác (21–23), các động từ (23–26), các phầnkhông biến cách khác (26–29) và một số châm ngôn cú pháp (29–31).

Lời nói đầu của từ điển, “Ad lectorem” [với bạn đọc] (6–7), nói rất rõ ràng về nguồn tài liệu chính của de Rhodes và giải thích về tiếng Annam hay tiếng Đàng Ngoài như thế nào. Những chi tiết này trên thực tế quan trọng với các nhà truyền giáo châu Âu trong tương lai, những người có thể là những người đọc tiềm năng của nó. Chẳng hạn,Rhodes giải thích rằngtiếng Annam hay Tonkin được nói không chỉ ở hai vương quốc này, Tonkin và Annam (Cochinchina), mà cũng được dùng như một ngôn ngữ chung lingua franca ở các vương quốc lân cận ở Cao Bằng (ở đông bắc Việt Nam ngày nay), Chăm Pa (Trung BộViệt Nam), Cambodia,Lao và Siam (Thái Lan) (de Rhodes 1651a, tr. [VI]).

Rhodes cũng nói rằng ông ta dành mười hai năm nghe người bản xứ nói và, thêm nữa, ông bắt đầu học tiếng này với giáo sĩ người Bồ Đào Nha, Franciscode Pina, người mà theo ông, thông thạo tiếng Việt và là một trong những giáo sĩ đầu tiên nắm vững và giảng đạo không cần phiên dịch:

In hoc autem opere praeter ea quae ab ipsis indigenis didici per duodecim fermeannos quibus in illis egionibus tam Cocincinae quam Tunkini sum commoratus, ab initio magistrum linguae audiens Patrem Franciscum de Pina lusitanum e nostra minima Societate IESV, qui primus e Nostris linguam illam apprimecalluit, et primus sine interprete concionari eo idiomate caepit (de Rhodes 1651a, [VI-VII]).

[Nhưng, trong tác phẩm này, bên cạnh điều tôi tự học được từ người bản xứ trong suốt mười hai năm tôi sống ở các vùng Annam và cả ở Tonkin, tôi đưa vào điều tôi đã học từ lúc đầu với cha Francisco de Pina, một người Bồ Đào Nha từ Dòng Tên nhỏ bé của chúng ta, người đầu tiên trong số chúng ta có kiến thức sâu toàn diện về thứ tiếng này và người đầu tiên bắt đầu giảng đạo bằng thứ tiếng đó mà không cần phiên dịch.]

Lời tán dương này được nhắc lại trong Divers Voyages, nơi Rhodes khẳng địnhsự am hiểu tuyệt vời của Pina về tiếng Việt:

Nous partimes de Macao au mois de Decembre de cette année 1624. et dix-neufjours, nous arrivâmes tous en la Cochinchine, pleins du desir d’y bien travailler: Nous y rencontrâmes le Pere Pina qui s’estoit rendu sçavant en la langue du païs entierement differente de la Chinoise. (de Rhodes 1653, p. 71-72)

Ngoài ra, trong lời nói đầu của Từ điển, Rhodes cũng nói thêm rằng ông dùng công trình của hai nhà truyền giáo khác của Dòng Tên, hai giáo sĩ Bồ Đào Nha là Gaspar do Amaral và António Barbosa. Họ biên soạn từ điển Việt-Bồ Đào Nha (Gaspar do Amaral) và Bồ Đào Nha-Việt (António Barbosa), mặc dù các từ điển này chưa được hoàn thành vì họ đột ngột qua đời. Rhodes giải thích rằng ông đã phát triển chúng và thêm tiếng Latin qua hiểu biết của ông (de Rhodes 1651a, tr. [VII]). Trong số những người khác, Michel Ferlus (1982, tr. 85), đã chứng minh rằng từ điển của de Rhodes là công trình được biên soạn dựa trên các công trình đã có.

Vay mượn bảng chữ cái tiếng Latin và chính tả tiếng Bồ Đào Nha

Trong một bản sao một bức thư gửi Giám sát Tỉnh dòng Nhật Bản và Trung Quốc, có thể được viết vào năm 1623, Francisco de Pina nói rằng ông đã viết một miêu tảvắn tắt về việc dùng chính tả và thanh điệu tiếng An Nam - Đàng Ngoài và ông bắt đầu soạn một cuốn về ngữ pháp. Ông cũng nói rằng ông viết nó bằng tiếng Bồ Đào Nha để “chúng ta” (người Bồ Đào Nha và/hay các giáo sĩ đạo Thiên Chúa) có thể đọc nó và học thuộc lòng được.

Eu já tenho feito hum Tratadozinho sobre a orthografia e toadas desta lingua, vou entrando pela Arte (…) eu escrevilas [em] letra portuguesa, e para os nossos poderem lelas, aprendendo de cor (Pina ca. 1745b [ca. 1623], f. 414v).

[tôi đã viết một mô tả nhỏ về việc dùng chính tả và thanh điệu ngôn ngữ. Tôi bắt đầu với ngữ pháp… Tôi viết chúng bằng chữ Bồ Đào Nha để những người anhem của chúng ta có thể đọc và học thuộc lòng.]

Trong đoạn trích này, Pina đã dùngmutatis mutandisnhững lý do tương tự với lý do của João Rodrigues “Tçuzu” in the Arte da Lingoa de Iapam:

No escreuer esta lingoa em nossa letra seguimos principalmente a o mutatis mutandis rtographiaatina, e a Portuguesa, assi por ter a pronunciação de Iapão semelhança com aPortuguesa em algũas syllabas como sam, cha, chi, cho, chu, nha, nho, nhu, etcetera. Como tambem por que Iapão em os Padres e irmãos entre si usam dalingoa e ortographia Portuguesa. (Rodrigues 1604[-1608], f. 55v)

[Viết ngôn ngữ này [tiếng Nhật] bằng chữ của chúng ta, chúng tôi chủ yếu dựa vào chính tả tiếng Latin và tiếng Bồ Đào Nha bởi vì việc phát âm tiếng Nhật tương tự như tiếng Bồ Đào Nha trong các âm tiết, gồm chachichochu,nhanhonhu, etc., và cũng bởi vì, ở Nhật Bản, các giáo sĩ và những người anh em dùng tiếng và chính tả Bồ Đào Nha với nhau.]

João Rodrigues, đã viết trongArte Breve, một vài năm trước bức thư của Pina, rằng ông chủ yếu dựa trên chính tả tiếng Latin vì tất cả các giáo sĩ biết nó. Ông cũng nói rằng ông cần dùng tiếng Bồ Đào Nha bởi vì nó có nhiều sự giống nhau về ngữ âm với tiếng Nhật và ít giống với tiếng Italia và tiếng Tây Ban Nha:

E por que a latina he commum a todas as naçoens, essa seguimos em geral,e o que falta à latina tomamos, ou do Portugues, que tem muitas syllabassemelhantes às Iapoas, que algũas terras de Europa nam tem, ou do Italiano, oufinalmente do Castelhano (Rodrigues 1993 [1620], f. 6r, p. 367).

[Và,vì tiếng Latin là thứ tiếng chung của tất cả các dân tộc, chúng ta dựa vào nó [language] về cơ bản, và điều gì thiếu trong tiếng Latin, chúng ta lấy từ tiếng Bồ Đào Nha, thứ tiếng có nhiều âm tiết giống tiếng Nhật. Điều này không có đối với các ngôn ngữ khác ở lục địa châu Âu, chẳng hạn tiếng Italia và tiếng Tây Ban Nha.]

Có thể là Pina, trong bức thư, đã ám chỉ đến Manuductio ad Linguam Tunckinensem [Sổ tay về tiếng Tonkin], tài liệu mà một bản sao từ thế kỷ 18 hiện có trong Biblioteca da Ajuda (Lisbon, Bồ Đào Nha) và một bản sao đã được Jacques (2002, tr. 146-167) công bố. Roland Jacques cho rằng tác giả của nó là người Thụy Sĩ, Honufer Bürgin, trong tiếng Bồ Đào Nha là Onofre Borges (1614-1664). Tuy nhiên, các chứng cứ của Jacques không hoàn toàn thuyết phục. Ảnh hưởng ngữ âm của tiếng Bồ Đào Nha là bằng chứng trong toàn bộ văn bản, Rhodes không thể bổ sung vào một văn bản được viết khoảng 15 năm sau khi ông đã rời Việt Nam và bức thư của Pina nói rõ rằng ông đã viết một mô tả về hệ thống thanh điệu tiếng Việt. Ngoài ra, Jacques tin rằng “tratadozinho” [miêu tả vắn tắt] của Pina ảnh hưởng tới Manuductio của Bürgin (xem Jacques 2002, tr. 31-39). Như vậy, cho đến khi phát hiện được tư liệu mới, chúng ta vẫn tin rằng nguồn tư liệu chính của Rhodes đúng thực là của Francisco de Pina và Manuductio ad Linguam Tunckinensem do ông viết.

Trên thực tế, Manuductio là một tóm tắt ngữ pháp hay một mô tả ngắn về tiếng Annam hay Đàng Ngoài. Nó gồm 22 trang, chia làm ba phần chính (về thanh điệu (accents), các con chữ của bảng chữ cái và các danh từ) và một số ghi chú thêm (hội thoại, phát ngôn thường dùng, một số cách diễn đạt quen thuộc hàng ngày vàmột số câu có thể có nghĩa tục tĩu). Đó là một phiên bản sao lại từ một bản được Cha João Álvares, S.J. (?–cuối 1762) viết năm 1745 tại học viện Madre de Deus ở Macau và được gửi tới Đại diện Tỉnh dòng Nhật Bản ở Lisbon khoảng năm 1747 cùng với các bản sao những tài liệu tôn giáo quan trọng khác(Rodrigues1931–1950, tập. 4, tr. 162).

Những năm gần đây, chủ yếu là sau nghiên cứu của Roland Jacques (2002, 2004, 2012), dường như các học giả quốc tế thiên về giả thiết rằng Francisco de Pina là người sáng tạo thực sự của chữ Việt Latin hóa (dựa trên cơ sở bảng chữ cái tiếng Latin), chữ viết hiện nay gọi là chữ Quốc ngữ “ngôn ngữ quốc gia” (xem thêm: Guillemin 2014). Việc nó được dùng làm chữ viết chính thức của hệ thống hành chính Việt Nam được quy định vào năm 1898 bằng một Nghị định của Toàn Quyền Pháp ở Đông Dương (và tổng thống tương lai của Pháp) Paul Doumer (1857–1932). Tuy nhiên, việc thực hiện nó chỉ được hoàn tất năm 1909 và cuối cùng, một sắc lệnh bãi bỏ phương pháp dạy truyền thống với việc đưa vào hệ thống giáo dục chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ (xem: Jacques 2004, tr. 24, chú thích 3). Sau khi độc lập (2/9/1945) và thống nhất (30/4/1975), quốc ngữ vẫn giữ vị trí là văn tự chính thức ở Việt Nam (xem: Thompson 1987).

Tóm lại, mặc dù các nhà truyền giáo châu Âuđược cung cấp mọi thứ, Francisco de Pina rõ ràng chịu ảnh hưởng từ Cha João Rodrigues “Tçuzu”, như trong trường hợp tiếng Nhật Bản. Gaspar do Amaral, António Barbosa và Alexandrede Rhodes đã phát triển và nâng cao phương pháp. Gần đây, chẳng hạn, OttoZwartjes (2011: 291) và Fidel González Fernández (2011, tr. 299) nhận thấy rằng các tác phẩm của Rhodes dựa trên các công trình của các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha trước đó.

Mặt khác, Thompson lưu ý rằng có nhiều ảnh hưởng của Bồ Đào Nhatrong từ điển của de Rhodes, song ông không hiểu vì sao nó lại xảy ra:

Điều rắc rối nhất có lẽ là Alexandre de Rhodes, người chịu trách nhiệm đối với những nội dung cơ bản, là một người Avignon ở miền nam nước Pháp, mà hệ thống chữ viết có lẽ thể hiện nhiều nét đặc biệt liên quan tới tiếng Bồ Đào Nha hơn bất cứ một thứ tiếng nào khác. Liên quan tới điều này, điều quan trọng là bên cạnh tiếng Bồ Đào Nha từ điển của de Rhodes gồm nhiều điểm đặc trưng của tiếng Latin hơn tiếng Pháp. (Thompson 1987, tr. 55)

Lập luận của ông ấy chỉ dựa trên niềm đam mê hàng hải và thương mại của người Bồ Đào Nha trong khu vực đó chứ không phải trên hoạt động của các nhà truyền giáo trước đó: 

Suốt thời kỳ ban đầu ấy chính niềm đam mê buôn bán và hàng hải của người Bồ Đào Nha đã thể hiện các cam kết quan trọng nhất của người châu Âu trong khu vực và như một hệ quả, tiếng Bồ Đào Nha dường như là ngôn ngữ phổ biến nhất của người châu Âu lúc bấy giờ (Thompson 1987, tr. 55)

Đáng tiếc là chúng ta không thể đánh giá mức độ ảnh hưởng của Gaspar do Amaral và António Barbosa đếnRhodes bởi vì công trình của họ không bao giờ được in và bản thảo của họ vẫn chưa được tìm thấy. Bên cạnh việc Rhodes nói rằng ông dùng các từ điển của Amaral và Barbosa, có một số thư thường niên của các nhà truyền giáo (annuaelitterae) khẳng định rằng họ đã sử dụng các cuốn từ điển (xem, ví dụ: Rodrigues 1917, tr. 360; 1931–1950, tập. 3, vol. 2, tr. 157; hộp 2002, tập.1, tr. 189). Cho rằng Gaspar do Amaral mất một năm sau khi Rhodes rời khỏi Việt Nam, rất có thể là ông đã sao chép phiên bản tiếng Việt và tiếng Bồ Đào Nha và hoàn thành bản dịch tiếng Latin ở châu Âu. Tuy nhiên, những dấu ấn của các tác giả Bồ Đào Nha là không thể phủ nhận.

Ngoài ra sự thực là từ “Portuguese” được lặp lại hơn 70 lần— “portugueses”, 6 lần; “lusitani” “dicunt” hay “vocant”, 29 lần; “a” hay “pro” “lusitanis”, 24 lần; “lusitana” “lingua”, 5 lần; “apud” “lusitanos”, 3 lần, v.v... — có một phép chính tả đặc trưng của tiếng Bồ Đào Nha: âm vị vòm mặt lưỡi mũi (dorso-palatalnasal) được thể hiện bằng kí hiệu /ɲ/ trong Bảng Ngữ âm Quốc tế (IPA)được viết bằng chữ cái Bồ Đào Nha <nh>chứ không phải bằngkết hợp chữ cái (archigrapheme)của tiếng Italia hay tiếng Pháp<gn>[9]. Rhodes chỉ ra điều đó một cách rõ ràng nhưng không nói rằng nó là phép chính tả riêng của tiếng Bồ Đào Nha: “(…). adhibemus etiam simul cum, n,vt nhà, domus, & facit idem quod apud Italos, gna” (de Rhodes 1651b, p. 4) [wealso add [h] with n, like “nhà”, house, and does the same like the Italian “gna”]. Phép chính tả “Portuguese” này hiện vẫn được dùng trong tiếng Việt, chẳng hạn như, “nhà” [house], “quạnh” [be solitary, deserted], lành-lạnh” [be abit cold], “mình” [oneself], “nhẹ” [be light, in weight], “nhè-nhẹ” [be rather lightin weight], “nhỏ” [be small], “nhưng” [but, however] (xem, ví dụ: Michaud, Ferlus,Nguyễn 2015; Haudricourt 2010; Thompson 1987).

Rhodes học một số ngôn ngữ và ông đương nhiên nói rất giỏi tiếng Bồ Đào Nha, ngôn ngữ thông dụng của các nhà truyền giáo dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha cùng với tiếng Latin. Tuy nhiên, ông chỉ viết bằng tiếng Latin và tiếng Pháp (xem Rhodes1653). Như vậy, Gaspar do Amaral và António Barbosa rõ ràng là những người đã đưa tổ hợp <nh> (chứ không phải kết hợp<gn> của tiếng Pháp hay tiếng Italia) để ghi âm vị /ɲ/ tiếng Việt.

Miêu tả các thanh điệu

Ảnh hưởng của Pina đối với Rhodes không chỉ ở việc sử dụng hệ thống Latin hóa mà cả ở việc miêu tả hệ thống thanh điệu. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng Pina và Rhodes đã không phân biệt giữa tiếng/phương ngữ Đàng Ngoài (Tonkinese) ở bắc Cochinchina và Annamese ở nam Cochinchina[10]. Đối với cả hai tác giả, ngôn ngữ là mutatis mutandis như nhau, mặc dùDictionarium của Rhodes có thể được coi là một sự hòa lẫn các phương ngữ của tiếng Việt (xem, ví dụMaspero 1912). Michel Ferlus cho rằng từ điển của Rhodes dựa trên phương ngữ miền Trung Việt Nam: “Le Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum du Père Alexandre de Rhodes (1651), rédigé dans la romanisation qui deviendra le quốcngữ (…) semble élaboré à partir d’un parler du centre” (Ferlus 1982, tr. 85).

Nhưng, Maspero cho rằngDictionarium của Rhodes vàBrevis Declaratio liên quan đến phương ngữ miền Bắc “serapportent au dialecte tonkinois” (Maspero 1912, tr. 9, chú thích 1). Trên thực tế, Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes giải thích rằng ngôn ngữ này và các thanh điệu của nó có thể được miêu tả với các đặc điểm như các ngôn ngữ châu Âu, nghĩa là bằng các chữ cái Latin. Manuductio của Pinas nói rằng ông cần bắt đầu bằng việc giải thích bảng chữ cái Latin, theo truyền thống, song theo ông, việc học các thanh điệu (hay “accents”, theo thuật ngữ ông dùng) là quan trọng hơn rất nhiều:

Mos est alias in tradendis, discendisque linguis ab alphabeto seu litteris initium ducendi, quem utique morem tenuissem, nisi accentuum notitia ad meliorem litterarum intelligentia hac in lingua praeprimis esset necessaria. (Pina ca.1745a [ante 1623], f. 313r)

[Truyền thống phổ biến trong việc dạy và học tiếng là bắt đầu với bảng chữ cái hay các con chữ. Rõ ràng tôi cần theo truyền thống đó nếu kiến thức về thanh điệu (accents) không phải là cái cần thiết nhất để hiểu biết tốt hơn về chữ viết trong ngôn ngữ này.]

Duo tamen praecipue sunt in hoc idiomate notanda, e quibus tanquamfundamentis tota ratio bene addiscendae huius linguae pendet, ita ut sine illis anostratibus haec lingua vix teneri possit; si uti enim homo constat ex corpore etanima, sic etiam hoc idioma constat ex characteribus quibus a nobis conscribitur,et ex tonis seu accentibus quibus notatur et pronunciatur: quibus duobus priusexplicatis et positis tanquam fundamentis, de partibus Orationis, et praeceptis inipsa oratione seruandis agendum postea. (de Rhodes 1651b, tr. 1).

[Thay vào đó,về mặt nguyên tắc, hai [vấn đề cơ bản] cần được chú ý trong ngôn ngữ này, theo cơ sở của việc học ngôn ngữ này là dựa vào đó, vì nếu thiếu chúng, chúng ta khó có thể hiểu được ngôn ngữ này; quả thực như con người được làm từ thể xác và linh hồn, ngôn ngữ này cũng được tạo thành bởi các đặc trưng được chúng tôi miêu tả và bằng các thanh điệu và giọng nhờ chúng nó được phát âm. Hai cơ sở được giải thích trước đây, các phần của lời nói và các châm ngôn liên quan đến mỗi phát ngôn sẽ được nhận xét sau.]

Mặt khác, cả hai miêu tả sáu thanh điệu (“de accentibus”) của tiếng Đàng Ngoài[11] giống nhau. Nguyễn và Edmondson, không biết công trình của Pina, đã viết rằng […] nhà ngữ âm tiếng Việt đầu tiên để lại tư liệu, Alexandre de Rhodes(1651) […] miêu tả chúng bằng các thuật ngữ impressionisticnhư sau: “acuteangry”(sắc), “smooth-rising” (hỏi), “level” (ngang), “chesty-raised” (ngã), “chesty-heavy” (nặng), “grave-lowering” (huyền) […]. Ba thế kỷ rưỡi sau những đặc trưng này vẫn giữ nguyên tính hợp lý và sáng suốt.(Nguyễn & Edmondson 1998, p. 2)

Đôi khi Rhodes dùng những từ giống như Pina, và thỉnh thoảng họ thêm những chi tiết khác nhau. Trong lời giới thiệu, Rhodes so sánh thanh điệu với trọng âm tiếng Hy Lạp (acute, grave and circumflex) và cả dấu phụ dưới của i từ tiếng Hy Lạp cổ. Pina ngắn gọn hơn, đưa ra những chi tiết này bằng cách miêu tả từng thanh điệu riêng:

Accentus hac in lingua seu tonorum mutationes sunt sex, ex quibus solismultoties significationum diuersitas sumi debet; unde patet huiusmodi tonos exarte callendi necessitas [esse]. (Pina ca. 1745a [ante 1623], f. 313r)

[Trong ngôn ngữ này có sáu giọng hay sự thay đổi thanh điệu, mà nó thường phụ thuộc tính đa dạng của sự quan trọng. Vì vậy, điều rõ ràng là nó cần thiết để học cách phát âm chính xác các thanh điệu.]

Diximus accentus esse quasi animam uocabulorum in hoc idiomate, atque ideosumma diligentia sunt addiscendi. Vtimur ergo triplici accentu linguae Graecae,acuto, graui, et circunflexo, qui quia non sufficiunt, addimus iota subscriptum,et signum nterrogationis nostrae; nam toni omnes huius linguae ad sex classesreducuntur, ita ut omnes prorsus dictiones huius idiomatis ad aliquam ex his sexclassibus seu tonis pertineant, nulla uoce prorsus excepta (de Rhodes 1651b, p. 8);

[Chúng tôi nói rằng các giọng dường như là hồn cốt của từ trong ngôn ngữ này, và vì vậy, cần hết sức chú ý tới chúng. Bởi thế, chúng tôi dùng dấu của tiếng Hy Lạp, sắc (acute), huyền (grave) và dấu mũ (circumflex) cho chúng, bởi vì chúng không thích hợp, chúng tôi thêm dấu phụ vào i và một dấu hỏi; Tuy nhiên, tất cả các thanh điệu của ngôn ngữ này được quy về sáu lớp, như vậy tất cả các từ của ngôn ngữ này thuộc về một của sáu lớp hay thanh điệu này, và trên thực tế không có từ nào ngoại lệ.]

Hơn nữa, cả hai giải thích mỗi thanh một cách riêng biệt. Francisco de Pina thêm vào khuông nhạc cho mỗi thanh trong khóa G (nốt Son), với nửa (minim) và một phần tư (crotchet) nốt. Giải thích của Pina rõ ràng hơn của Rhodes. Quả thực thanh điệu thứ nhất là thanh trung bình, không có sự thay đổi giọng, và cả hai tác giả đều bắt đầu với một câu giống nhau:

Primus tonus esta aequalis, et sine ulla vocis inflexione pronuntiatur, habeturquetum, quando vox aliqua nullo ex quinque signis ̀, ́, ̃, ʅ, ’, ͅ : hoc ultimumvocalibus tantum subscribitur ut apud Graecos jota subscritum, ͅ notatur. Suntquidem et alia signa, sed quia non ad vocis inflexionem, verum ad literarumcertam pronunciationem dignoscendam adiiciuntur […].

(Pina ca. 1745a [ante 1623], f. 313r).

[Thanh điệu đầu tiên bằng phẳng và được phát âm không thay đổi giọng vì nó mặc nhiên (implied) khi không có cái nào trong năm dấu được dùng ̀, ́, ̃, ʅ, ’, ͅ . Dấu cuối cùng được để phía dưới từ bằng dấu phụ của chữ i Hy Lạp. Cũng có những dấu phụ khác không ảnh hưởng đến sự thay đổi của giọng nói, song chúng được dùng để phân biệt sự phát âm khác nhau của các chữ mà chúng được gắn vào…]

Primus igitur tonus est aequalis, qui sine ulla vocis inflexione pronunciatur, utba, tres: quod ita verum est, ut etiam si quis aliquem interroget per vocem,chang, quae est aequalis, ut có chang, est ne; nullo modo debeat inflecterevocem interrogando, quia vox interrogativa, chang, nullo notatur accentu, quodsi inflecteretur vocis tonus, tunc esset alia significatio: voces itaque quae huncaequalem habent tonum, nullo notantur accentu; et hoc est sufficiens illarumdistinctivum signum, cum omnes aliae suum accentum habeant. (de Rhodes1651b, tr. 8)

[Vì vậy, thanh đầu tiên là thanh bằng. Nó được phát âm với giọng không thay đổi. Ví dụ:ba, “three”; điều này rất đúng nếu một ai hỏi ai đó khác điều gì dùng từ chăng, cũng bằng, kiểu nhưcó chăng, “it isnot”, khi hỏi không được uốn giọngbởi vì từ để hỏichăng khôngmang thanh điệu. Nếu thanh điệu của giọng có ảnh hưởng, nó sẽ có nghĩa khác; như vậy, các từ có thanh điệu giống nhau không có sự phân biệt giọng, và điều này là một dấu hiệu đủ để phân biệt với các từ khác có thanh (accents) khác.]

Trong miêu tả về các thanh khác, văn bản của Rhodes gần giống như của Pina và cả hai luôn luôn dùng ví dụ bằng một từ (một âm tiết), “ba”, từ có các nghĩa khác nhau với các thanh cụ thể. Mặt khác, cả hai tìm thấy một sự tương tự trong các dấugiọng của tiếng Bồ Đào Nha (tiếng Hy Lạp, trongvăn bản của Rhodess) là (sắc, huyềnvàdấu mũ) để giải thích các thanh thứ hai, thứ ba và thứ tư:

Secundus est acutus: hic profertur voce acuta et quasi iram demonstrante, ut ineadem voce : concubina Regis vel Principis viri.

(Pina ca. 1745a [ante 1623], f. 313v).

[Thanh thứ hai, được phát âm với một giọng cao và với sự biểu lộ một âm thanh giống như sự giận dữ, như trong từ : “thiếp của vua, chúa”, hay “thiếp của các thủ lĩnh.” (Trong bản tiếng Anh, các tác giả dịch: “the Prince’s sons” có lẽ không chính xác-VXQ.]

Secundus tonus est acutus, qui profertur acuendo vocem, et proferendodictionem, ac si quis iram emonstraret, ut bá concubina Regis, vel principisalicuius viri. (de Rhodes 1651b, p. 8);

[Thanh thứ hai là giọng sắc, được phát âm bằng một giọng cao và phát âm từ như khi ai đó bày tỏ sự giận dữ, như trong , “thiếp của vua, chúa”, hay “thiếp của các thủ lĩnh”. (Trong bản tiếng Anh, các tác giả dịch: “the Prince’s sons” có lẽ không chính xác-VXQ)]

Tertius est gravis, et profertur deprimendo vocem; ut iterum in voce : aviaaut Domina usuvenit.

(Pina ca. 1745a [ante 1623], f. 313v).

[Thanh thứ ba trầm, và nó được phát âm với việc hạ thấp giọng, như thường được dùng lại với từ , grandmother” hay “lady”.]

Tertius est gravis, et profertur deprimendo vocem, ut , avia, vel Domina. (de Rhodes 1651b, tr. 8);

[Thanh thứ ba trầm, và nó được phát âm với việc hạ thấp giọng, như trong , “grandmother” hay “lady”.]

Quartus est circumflexus, qui exprimitur inflectendo vocem ex imo pectore prolatam et postea sonore elevatam: ut fit in voce βã[12]: colaphus.

(Pina ca. 1745a [ante 1623], f. 313v).

[Thanh thứ tư là giọng uốn cong, được diễn tả bằng sự thay đổi giọng phát âm từ độ sâu của lồng ngực sau đó nâng cao giọng, như được nói trong âm vã, “slap”.]

Quartus est circumflexus, qui exprimitur inflectendo vocem ex imo pectoreprolatam, et postea sonore elevatam, ut βã, colaphus, vel colaphizare. (deRhodes 1651b: 8);

[Thanh thứ tư là giọng uốn cong, được diễn tả bằng sự thay đổi giọng phát âm từ độ sâu của lồng ngực sau đó nâng cao giọng, như được nói trong âm vã, “slap”.]

Thanh thứ năm thấp hơn và đi xuống, được ghi bằng một dấu phụ phía dưới của chữ cái i Hy Lạp:

Quintus vocatur ponderosus seu onerosus, quia cum quodam pondere, seu onere ex imo pectore prolata voce exprimitur: ut in voce Bą: res derelicta.

(Pina ca. 1745a [ante 1623], f. 313v).

[Thanh thứ năm được gọi là nặng nề “ponderous” hay khó nhọc “onerous” bởi vì nó được phát âm bằng giọng phát ra từ sâu trong lồng ngực và tạo ra một lực nhất định, như trong từ , “thứ vô thừa nhận” (without owner).]

Quintus vocatur ponderosus seu onerosus quia cum quodam pondere seu onere ex imo pectore prolata voce exprimitur, et notatur cum iota subscripto ut bạ res derelicta. (de Rhodes 1651b, p. 8)

[Thanh thứ năm được gọi là nặng nề “ponderous” hay khó nhọc “onerous” bởi vì nó được phát âm bằng giọng phát ra từ sâu trong lồng ngực và tạo ra một lực nhất định, và nó được ghi với một dấu phụ dưới chữ chữ cái i Hy Lạp, như trongbạ, “thứ vô thừa nhận”.]

Thanh cuối cùng là một thanh điệu mềm, song với một giọng nghi vấn, như thể ai đó hỏi người khác điều gì đó:

Sextus denique dicitur lenis, quia leniter profertur, et per modum interrogantisv.g. itáne? Ut in voce Bả: sericum quoddam coloris lutei seu crocei.

(Pina ca. 1745a [ante 1623], f. 313v-314r).

[Cuối cùng, thanh thứ sáu được gọi khoan thai “lenient” vì nó được phát âm một cách mềm mại và với thức nghi vấn, kiểu như itáne?, trong từ bả, “một thứ lụa vàng hay vàng nghệ của người Tonkin”.]

Sextus denique dicitur lenis, quia cum leni quadam vocis inflexione profertur,sicuti cum interrogare solemus, itane? et similia; et idcirco signo illointerrogativo pro accentu notatur ut, bả, quoddam sericum apud Tunchinensescoloris lutei vel crocei. (de Rhodes 1651b, p. 9);

[Cuối cùng, thanh thứ sáu được gọi khoan thai “lenient” bởi vì nó được phát âm với một tuyến điệu mượt mà của giọng nói, như khi chúng ta thường hỏi, itáne?,và giống như các câu hỏi; vì vậy nó được ghi bằng một dấu hỏi, như trong từ bả, “một thứ lụa vàng hay vàng nghệ của người Tonkin”.]

Như chúng ta thấy, Francisco de Pina biểu thị mỗi thanh điệu trên một khuôn nhạc, còn Rhodes không làm thế. Song ông so sánh các thanh tiếng Việt với sáu nốt nhạc của thang âm nguyên C–D–E–F–G–A (“dò”, “rẹ”, “mĩ”, “pha”, “sổ”, “lá”), mặc dù ông không rõ như Pina:

Hos autem sex accentus ad nostrae musicae tonos sic accommodare possumus utaliquam cum illa, uideantur habere proportionem per has uoces ut, dò, pedica: re,radix, in pronunciatione cuiusdam Prouinciae; mĩ, nomen cuiusdam familiae;fa, uel pha, miscere; sổ, cathalogus; lá, folium; ita ut ex his uocibus etiam inlingua Tunchinica significatiuis, per sex tonos linguae Tunchinensis, dò, rẹ, mĩ,pha, sổ, lá, possimus referre aliquo modo sex tonos nostrae musicae, non tamenita exacte, quin magna intersit differentia; quare nullus istos tonos addiscerepoterit, nisi ab aliquo qui linguam bene calleat, illos per se ipsum audieritsaepius, ut illis assuescat: Quinque igitur sunt accentuum notae quia tonusequalis non indiget nota […]. (de Rhodes 1651b, p. 19)

[Tuy nhiên, nhờ thế chúng ta có thể sắp xếp sáu giọng này với các âm nhạc của chúng ta, vì chúng dường như có một số sự tương xứng về mặt âm thanh của chúng. Các ví dụ” dò, “trap”; rễ, “root” trong phát âm của một số địa phương;mĩ, tên của một họ cụ thể; fa or pha, “to mix”; sổ, “catalogue”; , “leaf”; như vậy, khi các âm này cũng có nghĩa trong tiếng Đàng Ngoài, dùng sáu thanh của tiếng Đàng Ngoài, dò, rễ, mĩ, pha, sổ, lá, chúng ta có thể nói đến, ở một số mức độ, đến sáu âm của âm nhạc chúng ta, mặc dù không chính xác, cái tạo ra một sự khác biệt lớn; bởi vì không ai có thể học được các thanh này, trừ người rất thông thạo ngôn ngữ này và nghe chúng thường xuyên hơn và đã trở nên quen thuộc với chúng; vì vậy có năm nốt nhạc bởi vì có một thanh bằng không cần nốt …]

KẾT LUẬN

Những ghi chép đầu tiên về Việt Nam từ bối cảnh châu Âu vào thế kỷ thứ 16 thuộc về nhà ngữ pháp và du kí João de Barros (1496-1570) năm 1563 vàgiáo sĩ dòng Đa MinhGaspar da Cruz (khoảng 1520–1570) năm 1570. Tuy nhiên, ghi chép ngôn ngữ học đầu tiên thuộc về nhóm mà Roland Jacques gọi là Các giáo sĩ Đạo chúa Jesus tiên khởi, đặc biệt là các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Francisco de Pina, S.J.(1585 / 1586-1625), Gaspar do Amaral, S.J. (1594–1646) và António Barbosa,S.J. (1594–1647) vàgiáo sĩ người Pháp, Alexandre de Rhodes, S.J. (1593–1660).

Hiện nay đã xác minh được rằng Francisco de Pina là người đầu tiên miêu tả tiếng Annam hay tiếng Tonkin bằng các kí tự Latin hay dùng hệ thống Latin hóa (ngày nay người Việt Nam gọi là Quốc ngữ, ngôn ngữ dân tộc) từ ảnh hưởng của giáo sĩ Bồ Đào Nha, João Rodrigues “Tçuzu”, S.J. (1562–1633). Gaspar doAmaral, António Barbosa và Alexandre de Rhodes đã phát triển và nâng cao phương pháp. Rhodes cũng dùng hai văn bản của từ điển do Amaral và Barbosa biên soạn và để lại dấu ấn riêng của chính tả Bồ Đào Nha (cả chính tả tiếng Việt hiện nay): tổ hợp con chữ<nh>ghi âm vị mũi mặt lưỡi-ngạc /ɲ/.

Mặt khác, Francisco de Pina cũng là một nguồn quan trọng trong miêu tả về các thanh tiếng Tonkin của Rhodes. Về điểm cụ thể này, sự tương tự giữa văn bản Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio(Rome 1651) của Rhodes’svàManuductio ad linguam Tunchinensem (ante 1623) Pina là rất ấntượng. Chúng bổ sung cho nhau, nhưng văn bản của Pina rõ ràng hơn, bởi vì ông giải thích mỗi thanh với sự trợ giúp của khung nhạc, trong khóa G (nốt Son), với nửa (minim) và một phần tư (crotchet) nốt. Cả hai giải thích sáu thanh của tiếng Tonkin sử dụng các kí tự giống nhau như các ngôn ngữ châu Âu và họ miêu tả chúng với các từ giống nhau.

Tóm lại, đối với Pina và Rhodes, sáu thanh tiếng Tonkin có thể miêu tả như sau: Thanh thứ nhất là một thanh trung bình, không có sự thay đổi tuyến điệu (thanh ngang);thanh thứ hai là một thanh “sắc - giận dữ”, phát âm với giọng cao, thể hiện một giọng giống như giận dữ (thanh sắc); thanh thứ ba là một thanh bằng, phát âm bằng cách hạ thấp giọng (thanh huyền); thanh thứ tư là một thanh thở-lên cao, thay đổi giọng phát âm từ sâu trong ngực rồi nâng cao một cách dứt khoát (thanh ngã); thanh thứ năm là một thanh chesty-heavy, phát âm bằng cách phát âm ra từ sâu trong ngực và tạo ra một lực nhất định (thanh nặng); và, cuối cùng, thanh thứ sáu là một thanh hỏi, phát âm với một sự thay đổi giọng một cách mềm mại, giống như trong một câu hỏi, như ai đó hỏi điều gì (thanh hỏi).

Cuối cùng, trích dẫn của Nguyễn và Edmondson (1998, tr. 2) phải được sửa đổi, thêm tên Pina vào tên của Rhodes: Những đặc trưng này của các nhà ngữ âm học đầu tiên về tiếng Việt, Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes, “ba thế kỷ rưỡi sau […] vẫn còn giữ nguyên tính hợp lý và sáng suốt”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Barros, João de, 1563. Terceira decada da Asia: Dos feytos, que os Portugueses fizeram no Descobrimento & onquista dos mares & terras do Oriente, Lisboa, João Barreira. Online: http://www.archive.org/details/terceiradecadada00barr (last access: 24 July 2016)

Boxer, Charles Ralph, 1950. « Padre João Rodrigues Tçuzu S.J. and hisJapanese grammarsof 1604 and 1620 », Boletim de Filologia 11, 338-363.

— 2002. Opera Minora, 3 vols, Lisboa, Fundação Oriente.

Brockey, Liam M., 2009. Journey to the East: The Jesuit Mission to China, 1579–1724, Cambridge, Mass., Harvard University Press.

Catach, Nina (dir.), 1995. Dictionnaire historique de l’orthographe française, Paris, Larousse.

Correia, Pedro Lage Reis, 2012. « La Compagnie de Jésus à Macao et en Asie Orientale: la transmission du christianisme dans les ‘espaces de frontières’ (xvie siècle) », Hugues Didier & Madalena Larcher (ed.), Pédagogies Missionnaires: Traduire, transmettre, transculturer, 32e Colloque du CÉDRIC, Lisbonne 30 août-3 septembre 2011, Paris, Éditions Karthala, 261–276.

Cruz, Gaspar da, 1570. Tractado em que se cõtam muito por estẽso as cousas da China, cõ suas particularidades, e assi do reyno dormuz, cõposto por el. R. padre fray Gaspar da Cruz da ordẽ de sam Domingos, Évora, Casa de André de Burgos. Online: http://purl.pt/22928 (last access: 24 July 2016)

de Rhodes, Alexandre, 1651a. Dictionarium Annnamiticum Lusitanum, et Latinum ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide, Roma, Propaganda Fide.

— 1651b. Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio. In Dictionarium Annnamiticm Lusitanvm, et Latinum ope Sacrae Congregationis de Propaganda Fide, Roma, Propaganda Fide, 1–31.

[de Rhodes, Alexandre], 1653. Divers voyages et missions du P. Alexandre de Rhodes en la Chine, & autres Royaumes de l’Orient, avec son retour en Europe par la Perse &l’Armenie, Paris, Sebastien et Gabriel Cramoisy.

Faria, Patricia Souza de, 2013. « Os concílios provinciais de Goa: reflexões sobre o impacto da ‘Reforma Tridentina’ no centro do império asiático português (1567–1606) », Topoi. Revista de História, 14/27, 218–238. On-line: http://www.revistatopoi.org/numeros_anteriores/topoi27/AF_TOPOI_27.pdf (Last access: 16/10/2014).

Ferlus, Michel, 1982. « Spirantisation des obstruantes mediales et formation du système consonantique du vietnamien », Cahiers de linguistique - Asie Orientale 11/1, 83-106.

Fernandes, Gonçalo & Assunção, Carlos, 2014. « Cuốn Từ Điển Tiếng Việt Đầu Tiên(Rome 1651): Đóng Góp Từ Chế Độ Bảo Trợ Của Bồ Đào Nha Đối Với Ngôn NgữHọc Phương Đông / The first Vietnamese Dictionary (Rome 1651): Contributions ofthe Portuguese Patronage to the Eastern Linguistics », Journal of Foreign LanguageStudies 41, Hanoi University, 3-25.

Fonseca, Maria do Céu Brás, 2006. Historiografia linguística portuguesa e Missionária:preposições e posposições no séc. XVII, Lisboa, Colibri.

González Fernández, Fidel, 2011. « La experiencia misionera de Alexandre de Rhodes SJ(1593–1660) », Sudia Missionalia 60, 277–317.

Guilday, Peter, 1921. « The Sacred Congregation de Propaganda Fide (1622–1922) », TheCatholic Historical Review 6/4, 478–494.

Guillemin, Alain, 2014. « Alexandre de Rhodes a-t-il inventé le quốc ngữ? Moussons 23,141-157.

Haudricourt, André-Georges, 2010. « The origin of the peculiarities of the Vietnamesealphabet », Mon-Khmer Studies 39, 89-104. On-line: halshs-00918824v2 (Last access:16/04/2016).

Jacques, Roland, 1999. De Castro Marim à Faïfo: Naissance et Développement du Padroado portugais d´Orient des origines à 1659, Lisboa, Fundação Calouste Gulbenkian.

— 2002. Portuguese Pioneers of Vietnamese Linguistics / Pionniers portugais de la linguistiquevietnamienne, Bangkok, Orchid Press.

— 2004. Các nhà truyền giáo Bồ Đáo vá thờ kỳ đầu của Giáo hội công giáo Việt Nam /Les missionnaires portugais et les débuts de l’Eglise catholique au Viêt-nam, 2 vols.,Reichstett, France, Định Hướng Tùng Thư.

— 2012. « De 1623 à 1955, options linguistiques des missionaires au Viêt-nam etaffirmation de l’identité nationale », Hugues Didier & Madalena Larcher (ed.),Pédagogies Missionnaires: Traduire, trasnmettre, transculturer, 32e olloque duCÉDRIC, Lisbonne 30 août-3 septembre 2011, Paris, Éditions Karthala, 41–51.

Manguin, Pierre-Yves, 1972. Les Portugais sur les côtes du Viêt-nam et du Campâ. Étudesur les routes maritimes et les relations commerciales, d’après les sources portugaises(16 e, 17 e, 18e siècles), Paris, Publications de l’ÉFEO.

— 1984. Nguyên Anh, Macau et le Portugal. Aspects politiques et commerciaux d’unerelation privilégiée, 1773-1802, Paris, Publications de l’ÉFEO.

Maruyama, Toru, 2004. « Linguistic Studies by Portuguese Jesuits in Sixteenth andSeventeenth Century Japan », Otto Zwartjes and Even Hovdhaugen (eds), MissionaryLinguistics/Lingüística misionera: Selected papers from the First InternationalConference on Missionary Linguistics, Oslo, 13–16 March 2003, Amsterdam, JohnBenjamins, 141-160.

— 2006. « Pioneering Portuguese linguistic works on sixteenth and seventeenth centuryKonkani and Japanese », Revista Portuguesa de Humanidades 10.1/2, 137-150.

Maryks, Robert Aleksander, 2010. The Jesuit Order as a synagogue of Jews: Jesuits ofJewish ancestry and purity-of-blood laws in the early Society of Jesus, Leiden / Boston,Brill.

Maspero, Henri, 1912. « Études sur la phonétique historique de la langue annamite: lesinitiales », Bulletin de l'École française d'Extrême-Orient 12, 1–124.

Michaud, Alexis, Michel Ferlus, Minh-Châu Nguyễn, 2015. « Strata of standardization: thePhong Nha dialect of Vietnamese (Quảng Bình Province) in historical perspective »,Linguistics of the Tibeto-Burman Area 38.1, 1-37. On-line: halshs-01141389 (Lastaccess: 12/05/2015).

Mourão, Isabel Augusta Tavares, 2005. Portugueses em terras do Dai-Viêt (Cochinchina eTun Kim), 1615–1660, Macau, Instituto Português do Oriente, Fundação Oriente.

— 2012. « Gaspar do Amaral au Tun Kim: Quelques aspects de la pédagogie missionnaireau xviie siècle », Hugues Didier & Madalena Larcher (ed.), Pédagogies Missionnaires:Traduire, trasnmettre, transculturer, 32e Colloque du CÉDRIC, Lisbonne 30 août-3septembre 2011, Paris, Éditions Karthala, 53–61.

Nguyễn, Văn Lợi & Jerold A. Edmondson, 1998. « Tones and voice quality in modernnorthern Vietnamese: Instrumental case studies », Mon–Khmer Studies 28, 1-18.

Nguyễn, Đình Hoà, 1997. Vietnamese, Amsterdam/Philadelphia, John Benjamins.

Phan Khoang, [1970] 2001. Việt sử xứ Đàng Trong, Hà Nội, Nhà xuất bản văn học.

Phan, Peter C., 1998. Mission and Catechesis: Alexandre de Rhodes and Inculturation inSeventeenth-Century Vietnam, Maryknoll / New York, Orbis Books.

[Pina, Francisco de], ca. 1745a [ante 1623]. Manuductio ad linguam Tunchinensem,Biblioteca da Ajuda, Lisboa, manuscript, collection “Jesuítas na Ásia”, Codex Ms.49-VI-8, 313r-323v.

— ca. 1745b [ca. 1623]. Pax Christi, Biblioteca da Ajuda, Lisboa, manuscript, collection“Jesuítas na Ásia”, Codex Ms. 49/V/7, 413r-416r.

Rego, António da Silva, 1940. O Padroado Português do Oriente: Esboço Histórico,Lisboa, Agência Geral das Colónias.

Ribeiro, Madalena, 2001. « The Japanese diaspora in the seventeenth century according toJesuit sources. Bulletin of Portuguese - Japanese Studies 3, 53–83.

Rodrigues, Francisco, 1917. A formação intelectual do Jesuíta: Leis e Factos, Porto,Livraria Magalhães & Moniz.

— 1931–1950. História da Companhia de Jesus na Assistência de Portugal, 7 tomes,Porto, Livraria Apostolado da Imprensa.

Rodrigues, João, 1604[-1608]. Arte da Lingoa de Japam. Nangasaqui: Collegio de Iapãoda Companhia de Iesu.

Rodrigues, João, 1993 [1620]. Arte Breve da Lingoa Iapoa. Fac-simile do original existentena Biblioteca Nacional da Ajuda, Lisboa, acompanhado da transcrição e traduçãojaponesa de Hino Hiroshi, Tokyo, Shin-Jinbutsu-Ôrai-Sha.

Sena, Tereza, 2014. « O Padroado Português no Extremo Oriente », Miguel Castelo-Branco(ed.), Portugal-China: 500 anos, Lisboa, Biblioteca Nacional de Portugal, 91–98.

Souza, Teotónio R. de, 2008. « O Padroado português do Oriente visto da Índia:instrumentalização política da religião », Revista Lusófona de Ciência das Religiões13/14, 413-430.

Spear, Richard L., 1975. « Introduction », Diego Collado’s Grammar of the JapaneselanguageInternational Studies, East Asian Series Research Publication, number 9,

Lawrence, Center for East Asian Studies (CEAS), The University of Kansas, 1-30.

Taylor, Keith Weller & John K. Whitmore, 1995. Essays Into Vietnamese Pasts, Ithaca,N.Y., Southeast Asia Program, Cornell University.

Teixeira, Pe. Manuel, 1996. A Igreja em Cantão, Macau, Instituto Cultural de Macau.

Thompson, Laurence C., 1987. A Vietnamese Reference Grammar, Honolulu, Universityof Hawai’i Press.

Wernz, Franz Xaver, Ludwig Schmitt, & J.B Goetstouwers (eds), 1950. Synopsis historiaeSocietatis Jesu. Lovanii, Typis ad Sancti Alphonsi.

Zwartjes, Otto, 2011. Portuguese Missionary Grammars in Asia, Africa and Brazil, 1550–1800. Amsterdam & Philadelphia, John Benjamins.



*Chúng tôi đề tặng bài báo này cho giáo sư Roland Jacques về sự đóng góp của ông vào việc nghiên cứu lịch sử và các mối quan hệ giữa Việt Nam và các giáo sĩ với sự bảo trợ của Bồ Đào Nha. Chúng tôi cũng xin cảm ơn TS. Nguyễn Vũ Thu Hà (Khoa Bồ Đào Nha, Đại học Hà Nội) đã giúp đỡ chúng tôi trong việc hiệu chỉnh miêu tả các thanh điệu tiếng Việt và cám ơn ban biên tập cũng như những người khác không được kể tên đã góp cho chúng tôi nhiều nhận xét để chúng tôi nâng cao bản thảo cuối cùng của bài báo này.

- Nguồn: Gonçalo Fernandes & Carlos Assunção, “First codification of Vietnamese by 17th-century missionaries: the description of tones and the influence of Portuguese on Vietnamese orthography”, trong: Histoire Épistémologie Langage 39/1 (2017), p. 155–176

[1]Chúng tôi dùng một số tư liệu từ một bài báo trước đây liên quan đến bối cảnh lịch sử, sự hiện diện của các nhà truyền giáo tiên khởi dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha ở Việt Nam và miêu tả về văn bản siêu ngôn ngữ tiếng Việt đầu tiên (xem Fernandes & Assunção 2014).

[2]Về những chuyến đi không được tổ chức đầu tiên ở Việt Nam, xem, ví dụ: Jacques 1999, tr. 126-141.

[3]Isabel Mourão bảo vệ luận án tiến sĩ năm 2011 ở École Pratique des Hautes Études, bộ môn Sciences Historiques et Philologiques, ở Paris, với sự hướng dẫn của Dejanirah Silva Couto, về các tác phẩm của Amaral, tiêu đề Gaspar do Amaral S.J. (1594-1646): La vie et l’oeuvre d’un jésuite portugais fondateur de la mission jésuite du Tun Kim à la cour des Trinh.Rất tiếc, công trình này vẫn chưa tiếp cận được, ngay cả ở Thư viện của French University. Tác giả nói với chúng tôi trong một trao đổi qua email rằng cô định xuất bản cuốn sách này trong thời gian sắp tới.

[4]“Rueda, viết như Rode ở Provençal (…), nghĩa là một bánh quay nhỏ mà người Do Thái cần để khoác quần áo của họ vào thời ký Trung Cố.” (Phan 1998, p. 39)

[5]Về lịch sử Vietnam, về Đạo Thiên Chúa ở Vietnam, về chúa Trịnh (1545-1787) và chúa Nguyễn (1558-1777) cũng như mối liên hệ phức tạp giữa họ với các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha, xem: Manguin 1972, 1984; Taylor & Whitmore 1995; Phan Khoang 2001; Guillemin 2014; and Fernandes & Assunção 2014.

[6]João Rodrigues sinh tại Sernancelhe, huyện Viseu miền nam Bồ Đào Nha; Ông gia nhập Dòng Tên ở tuổi 16 và dành toàn bộ cuộc đời cho việc truyền giáo ở Nhậ Bản và Trung Quốc cho đến khi qua đời ở Macau (Trung Quốc). Ông là bạn tâm giao và là thông dịch của đại danh (daimyos) Nhật Bản, Toyotomi Hideyoshi (1593–1598) và Tokugawa Ieyasu (1542–1616), người đã đặt cho ông tên thân mật “Tçuzu”, nghĩa là “thông ngôn” hay “thông dịch”.  Nhưng khi người Nhật bắt đầu cấm đạo và trục xuất các tín đồ theo đạo Thiên chúa ở Nhật Bản năm 1614, João Rodrigues, sau hơn 30 năm dành cho văn hóa và ngôn ngữ Nhật Bản phải sống ở một số thành phố của Trung Quốc, nhưng Macau là trung tâm hoạt động truyền giáo có hiệu quả của ông trong vòng 19 năm (Zwartjes 2011, p. 95).

[7]Về các công trình của João Rodrigues, xem thêm: Boxer 1950 và Maruyama 2004 và 2006.

[8]Chúng tôi chấp nhận tiêu chuẩn phiên âm như sau:

a)Chúng tôi giữ nguyên sự khác biệt gốc giữa viết hoa và viết thường các con chữ.

b) Chúng tôi để cách các từ kết hợp không đúng và gộp những từ được tách.

c) Chúng tôi giữ các dấu trong văn bản gốc để không thay đổi quan điểm hay diễn đạt của các tác giả.

d) Chúng tôi sửa các lỗi dễ nhận ra từ văn bản gốc, cả khi chúng không có trong đính chính.

e) Chúng tôi lược bỏ các dấu sư phạm Latin.

f) Trong tiếng Latin, chúng tôi thay thế các chữ <v> và <j> bằng <u> và <i>, và chữ dài

(trung bình hay hạ xuống) <ſ> bằng chữ ngắn (phần cuối hay vòng) <s>. Trong tiếng Bồ Đào Nha, chúng tôi giữ con chữ <u> với giá trị của phụ âm <v>.

g) Chúng tôi để nghiêng các ví dụ trong tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Việt và tiếng Nhật.

h) Chúng tôi mở rộng tất cả các chữ viết tắt và rút gọn (brevigraphs) trong tiếng Latin. Chúng tôi viết tắt “i.” (cả chữ thường và chữ hoa) khi tiếng Latin diễn đạt sự giải thích “id est”, ngay cả trong văn bản tiếng Bồ Đào Nha. Nó là một cách diễn đạt phổ biến trong các sách ngữ pháp tiếng Latin của các nhà truyền giáo, con chữ thường bị nhầm với chữ <L>. Một số tác giả dịch sai cách viết tắt này với liên từ phân biệt “vel”. Nhưng liên từ này luôn xuất hiện ở dạng không viết tắt.

i) Trong các trích dẫn tiếng Bồ Đào Nha, chúng tôi cũng mở rộng các dạng viết tắt, như: <ã> (<am> hay <an>), <ẽ> (<em> hay <en>), <õ> (<on>), <ũ> (<um> hay <un>), <q̃> (<que>) và kí hiệu <&> (<e>). Tuy nhiên, chúng tôi giữ quán từ/đại từ không xác định <hũa>, <algũa(s)> và <nenhũa>, để lưu giữ một nét ngữ âm riêng biệt của tiếng Bồ Đào Nha, hiện vẫn còn lưu giữ ở một số làng phía bắc Bồ Đào Nha.  

[9]Về lịch sử của phép chính tả của kết hợp <gn> trong tiếng Pháp, xem, v.g., Catach 1995, tr. 1138-1140.

[10]Về việc phân tích phương ngữ học tiếng Việt lịch sử và sự khác nhau giữa các thanh điệu ở hai thành phố lớn nhất của Việt Nam, Hà Nội và Hồ Chí Minh City (Saigon), xem, chẳng hạn: Maspero 1912 và Michaud, Ferlus & Nguyễn 2015.

[11]Ngày nay các học giả cho rằng tiếng Việt (phương ngữ Bắc Bộ) gồm có sáu thanh điệu(xem, v.g., Nguyễn &

Edmondson 1998, tr. 7-8) và tiếng Đàng Trong trên thực tế chỉ có năm thanh. Thanh hỏi và thanhngã ở một số tỉnh miền trung Việt Nam nhập làm một (xem, v.g., Nguyẽ̂n 1997, tr. 26).

[12]Thú vị là họ dùng con chữ tiếng Hy Lạp<β> để thể hiện phụ âm xát môi răng hữu thanh [v].

Người dịch: Võ Xuân Quế

Nguồn: Văn hóa Nghệ An, ngày 01.11.2018.

Đào Tấn (1845-1907) là tác giả có vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam thời Trung đại. Sáng tác của ông, theo các tư liệu hiện còn, có thể phân làm ba mảng, gồm: tuồng, thơ từ. Dễ nhận thấy với Đào Tấn, tuồng là thể loại được dụng công nhiều nhất và cũng chính thể loại này đã khiến cho tên tuổi của ông trở thành bất hủ. Chính vì vậy, nhắc đến Đào Tấn, người ta sẽ nghĩ ngay đến thể loại tuồng. Tuy nhiên, theo các tư liệu đã công bố cho đến thời điểm này, Đào Tấn không chỉ để lại các tác phẩm tuồng, thơ, mà còn để lại một từ tập mang tên là Mộng Mai từ lục (từ đây viết tắt là MMTL), gồm 60 bài từ, trong đó có không ít bài đạt đến trình độ nghệ thuật trác tuyệt.

20180910 SGK1

Giáo dục Việt Nam đang tụt dốc nghiêm trọng. Góp phần chấn hưng giáo dục là nhiệm vụ của mọi người dân. Ở bình diện này, nghiên cứu cải cách phát âm tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại và các cộng sự rất đáng hoan nghênh, không có gì phải bàn cãi.

Nhưng tại sao người dân trong xã hội lại đang bất an? Chỉ là một đề tài nghiên cứu và thực nghiệm khoa học giáo dục như hàng vạn đề tài khác mà lại làm cho xã hội lo lắng?

Đó là vì người dân lo sợ Bộ GD&ĐT sẽ áp dụng phương pháp dạy phát âm tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại trên bình diện rộng toàn quốc. Mấu chốt vấn đề nằm ở điểm này. Nhưng trước khi đề cập đến điểm mấu chốt, hãy ngó sang vài điểm khác.

Bài viết này không đi vào phân tích về phương pháp cải cách tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại. Mà xác định nguyên do làm vấn đề phát sinh. Từ đó mà đề xuất giải pháp.

TẠI SAO PHẢI LÊN TIẾNG?

Trước đây dư luận đã râm ran về đề tài cải cách tiếng Việt của ông Bùi Hiền. Nhưng công trình cải cách tiếng Việt của ông Bùi Hiền vô nghĩa, và sẽ không bao giờ được sử dụng trong thực tiễn. Tất yếu sẽ không dẫn đến hậu quả tai hại. Nên chưa bao giờ bàn đến đề tài ông Bùi Hiền.

Nhưng nay thì khác. Cải cách phát âm tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại là một công trình nghiên cứu nhận dược sự ủng hộ công khai của lãnh đạo cấp cao và của Bộ GD&ĐT xuyên suốt nhiều nhiệm kỳ. Bởi thế nên chương trình của GS Hồ Ngọc Đại đã được trải nghiệm thực tế nhiều năm, ở một số trường. Không chỉ dừng ở cách phát âm tiếng Việt, nhóm của GS Hồ Ngọc Đại còn đưa ra các phương pháp giảng dạy mới. Đó là những cố gắng nhằm thay đổi các phương pháp giáo dục truyền thống, cho một mục tiêu đổi mới và hoàn thiện phương pháp giáo dục.

Điều ngạc nhiên nằm ở chỗ, chưa bao giờ phương pháp giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại lại được dư luận quan tâm nóng đến mức lo lắng như bây giờ. Đó là lúc Bộ GD& ĐT để ngỏ khả năng nhân rộng mô hình của GS Hồ Ngọc Đại lên mức số đông đại chúng trong cả nước, song hành cùng với chương trình cải cách tổng thể.

Từ chỉ một số trường, đến nay buộc thầy cô giáo phải học theo cách phát âm mới của GS Hồ Ngọc Đại để đi dạy cho học sinh nhiều trường trên toàn quốc - nguy cơ áp đặt đại chúng đã là một trong những nguyên nhân làm cho người dân bất an.

Bởi thế, nếu không nhìn đúng bản chất vấn đề, chỉ lao vào tranh cãi những vấn đề kỹ thuật, thì sự việc sẽ còn tiêu tốn nhiều thời gian và tiền bạc của nhân dân hơn nữa. Cho nên mạo muội lưu ý đôi điều.

3 ĐIỀU LO LẮNG CỦA DÂN

Đáng ra những cải tiến phát âm tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại phải mang đến niềm vui. Nhưng tại sao ngược lại, làm xã hội lo lắng? Trước hết xin nêu ra 3 điều lo lắng dưới đây của người dân.

1. Giáo dục Việt Nam đang xuống cấp nghiêm trọng. Sự xuống cấp của giáo dục kéo theo sự tụt dốc về dân trí, và hệ quả là sự tụt hậu của quốc gia. Từ những năm 1980 cho đến nay Bộ GD&ĐT đã đề ra nhiều biện pháp cải cách giáo dục. Nhưng tất cả các biện pháp đó đều cho kết quả xấu. Bởi thế, mọi sự đề xuất mới về cải cách giáo dục đều tự động khiến mọi người dân giật mình. Đó là nguyên nhân dẫn đến điều lo lắng đầu tiên khi nghe đến chương trình cải cách phát âm tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại.

2. Cải cách phát âm tiếng Việt không đơn thuần chỉ là cách phát âm, mà kéo theo là phải đào tạo giáo viên, là phải mua các bộ sách giáo khoa và các đồ dùng giảng dạy mới, không chỉ một năm mà nhiều năm. Hệ quả là các bậc phụ huynh phải trả một khoản tiền không nhỏ. Đó là điều lo lắng thứ hai.

3. Chưa nhìn thấy cái lợi của việc thay đổi cách phát âm. Chỉ thấy lạ và chưa thuận tiện. Cho nên không muốn con cái mình trở thành vật thí nghiệm mới. Một sự sợ hãi bị thí nghiệm đã thành thói quen phát sinh từ các thí nghiệm thất bại của Bộ GD&ĐT bắt đầu từ những năm 1980. Đó là nỗi lo lắng thứ ba.

ĐỘC QUYỀN ÁP ĐẶT THỊ TRƯỜNG

Chiếu theo quy luật thị trường, đề tài cải cách tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại nếu có giá trị thì sẽ được pháp luật bảo vệ về mặt phát minh sáng chế. Ai muốn sử dụng thì phải trả tiền. GS Hồ Ngọc Đại nhờ thế mà có thể kiếm được tiền từ bán bản quyền dạy phát âm tiếng Việt của ông.

GS Hồ Ngọc Đại cũng có thể tự thành lập trường riêng, chiêu sinh, thu học phí, đào tạo theo cách của ông. Ông tự đào tạo giáo viên theo phương pháp của ông và trả tiền cho các giáo viên dạy ở trường của ông. Phụ huynh muốn con em mình học ở trường của GS Hồ Ngọc Đại thì tự đến ghi tên đóng học phí theo quy định của nhà trường. Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, không ép buộc bất cứ trường, lớp nào phải học theo phương pháp của GS Hồ Ngọc Đại.

Nếu được như thế thì đã không sinh chuyện. Mấu chốt vấn đề nằm ở chỗ, ở nước ta, không ai cho phép bạn được đào tạo theo phương pháp của mình. Sự độc quyền toàn tập không loại trừ ngành Giáo dục. Mọi thứ phải được phép của Bộ GD&ĐT. Phương pháp cải cách tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại còn lâu mới được chào đời, nếu ông không được sự hỗ trợ từ lãnh đạo cao nhất. Nhờ thế ông mới đục vỡ được một mảng của bức tường độc quyền giáo dục.

Ở mặt quan trọng khác, công trình nghiên cứu và triển khai thực nghiệm của GS Hồ Ngọc Đại dựa hoàn toàn vào kinh phí nhà nước.

Do độc quyền, Bộ GD& ĐT đã không tuân theo quy luật thị trường, không theo nhu cầu của người tiêu dùng, mà áp đặt chính sách đào tạo của mình trên toàn quốc.

Trong số đó, không được phản biện một cách khoa học, không được thực nghiệm một cách dài lâu, Bộ GD &ĐT đã thực thi chính sách áp đặt, bắt hàng loạt trường phải học theo chương trình VNEN, ngoài ra khoanh vùng một số trường học theo chương trình của GS Hồ Ngọc Đại. Bắt nguồn từ phía sau là lợi ích của các nhóm buôn bán sách giáo khoa. Dẫn đến sự phẫn nộ của người dân trong cả nước.

Tóm lai, sự độc quyền đẻ ra chính sách áp đặt thị trường, là nguyên nhân sâu xa mang đến các phiền toái cho người dân.

PHẢN BIỆN CHỈ TỐT HƠN

Chúng ta ủng hộ cho sự cạnh tranh lành mạnh để Giáo dục Việt Nam thoát khỏi sự độc quyền. Có nhiều bộ sách giáo khoa với hàm lượng khoa học cao là điều rất mừng. Để giải một bài toán, có thể có nhiều cách. Vì vậy tồn tại nhiều phương phức giáo dục là điều rất bình thường, miễn là đúng, không độc hại. Nhưng chỉ có những phương thức thực sự khoa học mới có tuổi thọ cao.

Những phản biện của xã hội trong tuần qua sẽ làm cho nhóm nghiên cứu của GS Hồ Ngọc Đại không phải nổi giận hay buồn chán, bào chữa hay ngụy biện, mà nghiêm túc nghiên cứu để thêm hoàn thiện. Chính phản biện mới tạo nên con đường đến chân lý.

Ngược trở lại, chúng ta hãy bình tâm. Đề tài của GS Hồ Ngọc Đại là một công trình nghiên cứu khoa học đã có quá trình, tuy có điểm mạnh điểm yếu, nhưng đã được thực tế kiểm nghiệm một phần. Phản biện, chỉ ra cái khiếm khuyết là giúp cho công trình thêm hoàn thiện. Điều mà tất cả chúng ta đang lo lắng là nếu một công trình nghiên cứu khoa học chưa hoàn thiện, còn khiếm khuyết mà lại bắt buộc áp dụng đại trà trong thực tế thì sẽ vô cùng nguy hại. Giải pháp cho vấn đề này sẽ được đề cập ở phần sau.

Những ý kiến phản biện lại phương pháp cải cách tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại là rất đáng trân trọng, cần nghiên cứu một cách thành tâm và khoa học. Lướt qua các ý kiến phản biện, thì thấy mấy nhóm vấn đề sau đây phải được làm sáng tỏ hơn nữa.

1. TÍNH KHOA HỌC. Mọi cải cách đều phải dựa trên gốc khoa học. Cách phát âm mới có khoa học, có chính xác, có làm cho tiếng Việt thêm chặt chẽ và trong sáng? Có làm cho tiếng Việt bị hiểu nước đôi, không nhất quán? Những điểm nào còn thiếu căn cứ khoa học phải tiếp tục hoàn chinh?

2. TÍNH VƯỢT TRỘI. Học sinh học theo phương pháp mới có giỏi tiếng Việt hơn không? Có biết viết, biết đọc nhanh hơn không? Có điều gì vượt trội hay chỉ vụn vặt?
Nếu cải cách phải chịu nhiều sự tốn kém, mà không đưa lại những hiệu quả vượt trội thì có đáng cải cách hay không?

3. TÍNH GIẢN TIỆN. Nếu phương pháp mới phải được đào tạo rối rắm mới dạy được, trong khi phương pháp cũ các bậc phụ huynh đều có thể dạy cho con cái, thì có phải phương pháp mới đã thua về tính giản tiện và tính sử dụng hay không? Để dạy cho người nước ngoài thì phương pháp mới có lợi thế hơn không?

Đừng quên một nguyên tắc cốt lõi của giáo dục là biến phức tạp thành đơn giản chứ không phải ngược lại.

Đặc biệt với trẻ thơ rất cần đơn giản. Muốn rèn luyện cho trẻ thơ tư duy logic thì phải đơn giản. Đơn giản là thủy tổ của logic.

Vậy liệu phương pháp cải cách tiếng Việt mới có biến điều đơn giản thành điều phức tạp không?

4. TÍNH KẾ THỪA. Phương pháp mới có gây xáo trộn trong tiếng Việt về cả ngôn ngữ lẫn in ấn xuất bản? Liệu có làm mâu thuẫn các khoa học khác khi sử dụng thuật ngữ gốc La Tinh? Nên nhớ tiếng Việt có chữ cái La Tinh. Mọi sự đổi thay phải mang tính kế thừa và không chứa đựng mâu thuẫn.

5. TÍNH KINH TẾ. Phương pháp mới có kéo theo những chi phí đắt đỏ? Nguồn tài chính nào sẽ bù đắp cho công tác nghiên cứu? Nguồn tài chính nào sẽ bù đắp cho triển khai thực hành?

Dùng 5 tiêu chí trên mà chiếu rọi tất sẽ nhận ra được những cải cách của GS Hồ Ngọc Đại có thiếu sót và ưu điểm gì. 5 điều nêu trên mang tính thước đo gợi mở.

GIẢI PHÁP

Nghiên cứu cải tiến phương pháp giáo dục bao giờ cũng là điều đáng quý. Những nghiên cứu có giá trị cần phải được khuyến khích. Nhưng muốn biết có giá trị đích thực hay không thì cần quan sát từ hai góc độ: Giá trị khoa học và Giá trị thị trường. Hai nhân tố đó mới là các thước đo chính xác nhất về giá trị của một công trình nghiên cứu khoa học.

Công trình của GS Hồ Ngọc Đại nếu được sinh ra và phát triển trong một cơ chế thị trường thì đã không tạo nên những phản ứng dữ dội như bây giờ.

Cũng sòng phẳng, cải tiến tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại sẽ chẳng được đưa vào thực nghiệm ở một trường và ở nhiều trường liên tục trong mấy chục năm qua nếu GS Hồ Ngọc Đại không có được vị trí xã hội mà ông đã có. Chính vị trí đó cùng với thể chế áp đặt, cả hai nhân tố đó kết hợp, cộng với nỗ lực của ông, mới thúc đẩy đưa các nghiên cứu cải cách phát âm tiếng Việt của ông được thực thi trên một bình diện như hiện nay.

Về mặt Giá trị khoa học, những cải tiến của GS Hồ Ngọc Đại chưa thể hiện đạt mức sáng tạo chìa khóa. Công trình nghiên cứu và triển khai ứng dụng lại nhờ vào kinh phí nhà nước, không phải tự thu tự chi nên Giá trị thị trường đang ở mức chưa chứng minh.

Cũng cần lưu ý đến 4 từ “Công Nghệ Giáo Dục”, chưa phản ánh đúng nội dung cải tiến tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại, chịu hơi hướng của mốt quảng bá thị trường, ngôn từ âm vang mà rời xa thuộc tính sát thực của khoa học.

Phương pháp dạy phát âm tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại đã có chỗ đứng trong thực tế. Dẫu còn nhiều điều bàn luận, nhưng nó cần được tiếp tục phát triển. Chúng ta đón nhận, phản biện để nó ngày càng hoàn thiện.

Điều cần nhấn mạnh là phương pháp của GS Hồ Ngọc Đại phải từng bước tự lập, mà không mãi đeo đẳng ký sinh vào cơ thể khác. Từ đây, Bộ GD& ĐT không áp đặt cho bất cứ trường, lớp nào phải theo học phương pháp của GS Hồ Ngọc Đại.

Điều mà người dân lo lắng chính là sự áp đặt. Nếu giải phóng sự áp đặt tức khắc sẽ giải tỏa hết lo lắng của người dân, và phá tan các nước cờ đang bí trong đầu lãnh đạo.

Bởi thế, giải pháp cho tình trạng hiên nay nên đi theo hướng mở sau đây.

1. Bộ GD&ĐT không áp đặt hay định hướng cho bất cứ trường nào phải dạy theo phương pháp cải tiến phát âm tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại.

2. Mở ra khả năng cho phép phụ huynh được lựa chọn phương pháp dạy tiếng Việt.

3. Mở ra khả năng cho phép các trường dựa trên ý kiến của phụ huynh để quyết định tự chọn phương pháp dạy tiếng Việt mới, cho cả trường hay cho một số lớp.

4. Giáo viên được quyền tự chọn phương pháp dạy tiếng Việt.

5. Các trường có lớp học theo cách phát âm mới sẽ tự đào tạo giáo viên.

6. Quá trình trên phải được triển khai mở rộng dần theo một lộ trình mà thị trường đã được nghiên cứu cẩn trọng.

Cần sòng phẳng rằng, Nhân dân chào đón mọi sự cải cách giáo dục mang bản chất khoa học, vì lợi ích quốc gia. Nhưng cải cách giáo dục trong mấy chục năm qua bị các nhóm lợi ích bẻ lái dẫn đến những thất bại cay đắng. Cuộc cải cách chương trình giáo dục tổng thể hiện nay cũng không thoát được nanh vuốt của các nhóm lợi ích.

Điểm lại, tất cả các cuộc cải cách giáo dục đều dựa hoàn toàn vào kinh phí nhà nước chứ không phải tự thu chi. Nội dung cải cách không đúng. Chi tiêu hoang phí. Đem sự nghiệp giáo dục nhiều thế hệ ra để thử nghiệm không chút xót thương, lương tâm không mảy may áy náy. Đã thế còn tìm mọi cách để tận thu tiền của học sinh và phụ huynh. Cho nên, nghe nói đến cải cách giáo dục là người dân giật mình hốt hoảng và phẫn nộ.

Nhóm cải cách tiếng Việt của GS Hồ Ngọc Đại có thánh thiện đến đâu, nếu muốn triển khai thành công chương trình cải cách tiếng Việt trên diện rộng, thì cũng không thoát được vòng kiêm toả của các nhóm lợi ích. Đó là điều người dân cảm nhận được mà lo lắng, rằng vì áp đặt ồ ạt mà đốt cháy giai đoạn như chương trình VNEN trước đây.

Mọi chính sách đề ra dù tốt đến đâu cũng thất bại nếu người thực thi kém. Ngược lại, một người thực thi giỏi sẽ bù đắp được những khiếm khyết chưa thể bao quát hết của một chính sách cơ bản đúng. Bởi thế cần có cả hai nhân tố vừa nêu: Chính sách đúng và người thực thi giỏi.

Bộ GD&ĐT cần phải mở cửa cho tự do lựa chọn chương trình và phương thức đào tạo mà không áp đặt. Bộ chỉ giữ vai trò định hướng khung và thực thi kiểm soát. Chỉ có tự do cạnh tranh trong giáo dục mới góp phần đưa giáo dục thoát ra khỏi hoàn cảnh tụt hậu hiện nay. Tự do cạnh tranh không chỉ trong lựa chọn giáo trình và phương thức giảng dạy. Mà cần hơn nữa là sự tự do cạnh tranh vị trí người đảm nhiệm chức năng thực thi ở mọi cấp độ. Tiếc thay, vẫn còn là ước mơ dài lâu.

Nguồn: Văn hóa Nghệ An, ngày 05.9.2018.

GS. TS. Nguyễn Văn Hiệp

Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học

Tưởng chuyện này đã êm rồi (xã hội còn nhiều chuyện cần bàn hơn) nhưng hôm nay đọc những dòng giận dữ của GS Trần Đình Sử trên Tin Nhanh 24h, tôi thấy cần lên tiếng để ủng hộ GS Trần Đình Sử, góp thêm tiếng nói bác bỏ đề nghị cải cách chữ Quốc ngữ của PGS Bùi Hiền (thông qua Bản đề xuất của tác giả).
Những điều tôi viết ra đây cũng là ý kiến của Viện Ngôn ngữ học gửi lãnh đạo cấp trên (tháng 1/2018), nhân có chỉ đạo đề nghị Viện Ngôn ngữ học cho ý kiến về Bản đề xuất cải cách chữ viết của PGS Bùi Hiền (một người mà trong quan hệ bình thường hàng ngày tôi rất kính trọng).
Hội đồng khoa học của Viện Ngôn ngữ học đã họp (mở rộng) thảo luận về đề nghị cải tiến chữ Quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiển, sau đó đã tổng hợp các ý kiến để báo cáo lên lãnh đạo cấp trên. Ý kiến của Hội đồng khoa học Viện Ngôn ngữ gồm có 3 phần:
-Vài nét về lịch sử phát triển của chữ Quốc ngữ (bao gồm những điểm bất cập và những đề nghị cải tiến, sửa đổi trước đây)
-Những bất hợp lí trong đề xuất cải tiến chữ quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiền
-Kết luận của Viện Ngôn ngữ học
Với tư cách là Viện trưởng, tôi là người tổng hợp các ý kiến của Hội đồng khoa học mở rộng, tôi cũng trao đổi ý kiến với một số chuyên gia về ngữ âm, chữ viết có uy tín như GS Nguyễn Văn Lợi, PGS Hoàng Dũng ...Vì đây là nội dung được gửi lên lãnh đạo cấp trên (chắc không có ai là nhà ngôn ngữ học) nên cách viết phải giản dị, tuy nhiên vẫn không tránh được một số thuật ngữ chuyên môn. Sau đây là những nôi dung được tổng hợp:
1.Vài nét về lịch sử phát triển của chữ Quốc ngữ
Chữ Quốc ngữ được hình thành trong khuynh hướng chung của các giáo sĩ Tây Phương muốn Latin hóa các chữ Á Đông nằm trong địa bàn truyền giáo của họ. Quá trình xây dựng chữ Quốc ngữ là một quá trình lâu dài, với sự góp sức của nhiều người, trong đó có người Việt Nam. Các tài liệu cho thấy vào thế kỉ 17, chữ Quốc ngữ đã có một diện mạo khá ổn định, gắn với việc xuất bản cuốn Từ điển Việt - Bồ Đào Nha – Latin (Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum) của linh mục Alexandre de Rhodes tại Roma, năm 1651. Có thể nói, thế kỷ 17 với sự ra đời của Từ điển Việt - Bồ Đào Nha – Latin (Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum) của Alexandre de Rhodes đã đánh dấu diện mạo hiện đại của chữ Quốc ngữ. Thế kỷ 18, 19, chữ Quốc ngữ tiếp tục hoàn thiện và có hình thức như ngày nay.
Chữ Quốc ngữ là loại chữ ghi âm tương đối khoa học. Tuy nhiên nó vẫn có nhiều điểm không hoàn hảo như tất cả bộ chữ ghi âm khác. Ở diện mạo hiện nay, chữ Quốc ngữ vẫn tồn tại một số nhược điểm sau đây:
- Cùng một âm nhưng được ghi bằng những con chữ khác nhau. Ví dụ, 3 chữ cái “c”, “k” và “q” đều được dùng để ghi âm /k/, chữ “y” và “i” đều được dùng để ghi âm /i/;
- Âm đệm có lúc ghi là “u”, có lúc ghi là “o”;
- Các nguyên âm đôi có cách ghi lưỡng khả, phụ thuộc vào vị trí của nguyên âm đôi trong âm tiết, ví dụ: iê/yê/ia/ya, ươ/ưa, uô/ua;
- Vị trí đánh dấu thanh không theo nguyên tắc nhất quán: lúc thì đánh vào âm chính, lúc thì đánh ở giữa âm tiết cho cân đối.
Đây chính là lí do trong một thời gian dài, liên tục có những ý kiến cho rằng cần phải cải tiến chữ Quốc ngữ trên nhiều phương diện khác nhau. Năm 1902, một Uỷ ban cải cách chữ Quốc ngữ đã được thành lập (do Jean Nicholas Cheon đứng đầu). Năm 1956, ở Miền Nam, Uỷ ban Ngôn ngữ cũng đưa ra đề nghị cải tiến chữ Quốc ngữ; năm 1973 Uỷ ban Điển chế Văn tự cũng ra đời. Ở Miền Bắc, Hội thảo Cải tiến Chữ Quốc ngữ được tổ chức năm 1960. Từ đó đến nay đã có nhiều hội thảo khoa học tiếp tục đề cập đến chuyện cải tiến chữ Quốc ngữ. Gần đây nhất, trong ba cuộc hội thảo lớn về chữ Quốc ngữ (năm 2015 tại Phú Yên, năm 2016 tại Bình Định và tại Quảng Nam) đều có những tham luận nói đến những nhược điểm và ý tưởng cải tiến chữ Quốc ngữ. Như vậy, có thể khẳng định rằng, vấn đề cải cách chữ quốc ngữ đã từng được bàn đến nhiều lần, trên nhiều phương diện và đề xuất của PGS. TS Bùi Hiền không phải là một ý kiến mới trong giới ngôn ngữ học.
Tuy nhiên, ngôn ngữ nói chung và chữ viết nói riêng là một sản phẩm của cộng đồng và mang tính quy ước. Chính cộng đồng sẽ quyết định sự phát triển của chữ viết, chứ nó khó lòng bị chi phối bởi ý chí, nguyện vọng hay đề xuất của một cá nhân hoặc bị cưỡng bách thực thi bởi một mệnh lệnh hành chính.Chính vì thế, cho dù đã có những Hội nghị về cải tiến chữ Quốc ngữ với hàng loạt các đề xuất của các nhà ngôn ngữ học nhưng tất cả đều không được áp dụng vào thực tế.
Cho đến nay, đại đa số các ý kiến đều cho rằng, mặc dù có những nhược điểm như trên, chữ Quốc ngữ vẫn là một loại chữ ghi âm rất tốt, và hiện nay vẫn đang thực hiện tốt chức năng là chữ viết thống nhất của nước Việt Nam, dùng để ghi lại tiếng Việt vì những lí do sau đây:
Thứ nhất, chữ Quốc ngữ có đủ khả năng để ghi lại toàn bộ các âm có thể có trong tiếng Việt hiện đại. Không có một âm nào trong tiếng Việt lại không thể dùng chữ Quốc ngữ ghi lại.
Thứ hai, chữ Quốc ngữ đã phát triển đến giai đoạn ổn định, được cả cộng đồng chấp nhận và sử dụng một cách tự nhiên, mang tính quy ước và phổ cập.
Thứ ba, chữ viết của một ngôn ngữ không đồng nhất với ký hiệu ngữ âm quốc tế, nó còn ẩn chứa cả văn hoá nữa. Cho nên, không nhất thiết phải áp dụng nguyên tắc “một âm vị ghi bằng một kí tự và ngược lại”. Về nguyên tắc, ngôn ngữ (âm thanh) luôn biến đổi theo thời gian, trong khi chữ viết lại cố định, cho nên qua thời gian bao giờ cũng có sự vênh nhau giữa âm vị cần ghi và ký tự dùng để ghi.
Dĩ nhiên, nhằm giúp chữ Quốc ngữ thực hiện tốt chức năng của mình, giới ngôn ngữ học hiện đang rất quan tâm đến vấn đề chuẩn hóa chính tả (quy chuẩn cách viết), cách viết tên riêng gốc tiếng nước ngoài (đề nguyên dạng, phiên âm hay chuyển tự), tên riêng gốc ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Đây là những vấn đề mà việc giải quyết một cách triệt để đòi hỏi cần phải ban hành Luật Ngôn ngữ ở Việt Nam.
2.Những bất hợp lí trong đề xuất cải tiến chữ Quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiền
2.1.Về mặt pháp lí
PGS.TS Bùi Hiền coi tiếng Việt là tiếng Kinh: "Tạm thống nhất lấy tiếng Hà Nội làm cơ sở ngữ âm cho việc xác định bảng chữ cái tiếng Việt (tiếng Kinh)...(tr.3 của Bản đề xuất)". Điều này vi phạm nguyên tắc bình đẳng dân tộc bởi Hiến pháp của Nhà nước CHXHCN Việt Nam coi tiếng Việt là Ngôn ngữ Quốc gia có nghĩa là của chung toàn dân tộc (Nation) Việt Nam chứ không chỉ của một tộc người. Ngoài ra, về mặt pháp lí, hiện nay chưa có văn bản chính thức nào của Nhà nước quy định tiếng Hà Nội là tiếng chuẩn.
2.2.Về mặt khoa học
Phương án đề xuất Cải tiến chữ quốc ngữ mà PGS.TS Bùi hiền nêu ra rất lộn xộn, chắp vá và hoàn toàn không mang tính khoa học. Điều này thể hiện ở các điểm dưới đây:
- Thứ nhất, đã là nghiên cứu khoa học không thể có cách diễn đạt mơ hồ như " Tạm thống nhất ..". Việc xác định tiếng nói vùng nào của Việt Nam làm chuẩn chính âm hiện chưa đươc khẳng định.
- Thứ hai, PGS.TS Bùi Hiền đã có những nhầm lẫn cơ bản về mặt ngôn ngữ học. Trong tiếng Việt, tiếng Hà Nội không phải là tiếng có thể đại diện cho một diện mạo ngữ âm trung thực và khách quan của tiếng Việt. Trên thực tế, tiếng Việt có nhiều vùng phương ngữ, thổ ngữ khác nhau với các biến thể đặc điểm ngữ âm, từ vựng khác nhau. Như vậy, nếu chỉ dựa vào hệ thống ngữ âm tiếng Hà Nội để làm cơ sở cải tiến chữ viết thì không phản ánh trung thực và đầy đủ ngữ âm tiếng Việt. Đề nghị của PGS.TS Bùi Hiền sẽ làm tăng vọt số lượng các từ đồng âm, đồng tự, gây khó khăn cho việc đọc hiểu văn bản.
Thứ ba, PGS.TS Bùi Hiền không phân biệt được các khái niệm ngữ âm - âm vị học, không phân biệt được âm và chữ. Các con chữ mà ông đưa ra không liên quan gì tới đặc điểm ngữ âm của nó.
Ông chưa nhận diện đầy đủ về hệ thống ngữ âm – âm vị học tiếng Việt. Bảng 16 nguyên âm được đề cập trong phần 2 của Bản đề xuất là không có cơ sở khoa học khi cho rằng có các âm vị /e, ɔ, o/ dài trong đối lập với /e, ɔ, o/ ngắn. Nhiều ví dụ dẫn ra khiến người đọc băn khoăn về sự tồn tại của nó trong tiếng Việt hay tính phổ biến của nó. Tác giả liệt kê âm vị /y/ trong đối lập với /i/ cũng hoàn toàn không có cơ sở khi không đưa được các cặp đối lập tối thiểu âm vị học mà lại dẫn ra các biến thể chữ viết “ti”~ “ty”.
Điều này còn được thể hiện khi tác giả xử lí trường hợp nguyên âm đôi /uo/ và tổ hợp bán nguyên âm /w/ + một nguyên âm giống nhau (trường hợp “cuốc” và “quốc” được thống nhất ghi thành “kuok”, hay “cua” và “qua” được thống nhất ghi thành “kuô” theo phương án của tác giả). Ví dụ này cho thấy ông đã đi ngược lại với nguyên tắc “một chữ ghi một âm và ngược lại” của chính mình.
Bên cạnh đó, cách trình bày của ông trong Bản đề xuất cũng thể hiện sự thiếu hiểu biết về cách kí hiệu phiên âm quốc tế: phiên âm âm vị học được quy định chung của thế giới là trong gạch chéo /.../, và phiên âm ngữ âm học được quy định chung của thế giới là trong móc vuông [...]. Nếu đã không hiểu được các khái niệm căn bản nhất (âm tố, âm vị, ngữ âm học, âm vị học,...) thì sao có thể bàn tới việc xây dựng (hay cải tiến, cũng như sử dụng) chữ viết cho ngôn ngữ của một cộng đồng dân tộc?
Thứ tư, PGS.TS Bùi Hiền không có sự hiểu biết về từ nguyên học và ngữ âm lịch sử tiếng Việt. Các chữ cái c-k-q tuy dùng để ghi cùng một âm vị /k/, chữ cái d, gi, r để ghi cùng một âm vị /z/, ch-tr để ghi cùng một âm vị /c/ trên bình diện đồng đại (nếu theo hệ thống ngữ âm tiếng Hà Nội) song về lịch sử chúng ghi các phụ âm khác nhau trong tiếng Việt ở thời kì xuất hiện chữ Quốc ngữ (Thế kỉ 17). Sở dĩ các linh mục dùng chữ d để ghi cái âm /z/ thời đó vì khi đó đối với các từ ghi "da", "dì" trong tiếng Việt thì cái con chữ “d “này được dùng ghi một âm có đặc điểm về phát âm gần với phụ âm được ghi “d” trong nhiều ngôn ngữ ở châu Âu. Việc đập nhập ch- tr và ghi bằng con chữ “c” cũng vậy
Thứ năm, đề xuất của PGS.TS Bùi Hiền đi ngược lại hoàn toàn xu hướng chung của các nước sử dụng tự dạng Latin. Không có bất kì bộ chữ có tự dạng Latin nào sử dụng chữ cái “w” để ghi âm vị /ŋ/. Đề nghị dùng “w” thay cho “ng” sẽ phá vỡ tính hệ thống trong quan hệ giữa âm và chữ, khiến người học khó học, khó nhớ. Cách làm này khiến người nước ngoài vốn quen với các hệ chữ viết tự dạng Latin khó tiếp nhận chữ Quốc ngữ, vì thế gây khó khăn cho việc phổ biến tiếng Việt, chữ Việt (chữ Quốc ngữ) ra quốc tế.
Tương tự, không có bộ chữ có tự dạng Latin nào sử dụng con chữ “q” để ghi âm vị /tʰ/. Bên cạnh đó, việc tạo nên một con chữ mới để thể hiện phụ âm /ɲ/, không thể gõ trên bàn phím máy tính gây khó khăn lớn trong việc sử dụng trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay. Điều này vi phạm nguyên tắc tiện dụng trong xây dựng chữ viết.
Thứ sáu, tác giả còn đề xuất thêm tới 04 con chữ cái mới trong phương án cải tiến của mình. Điều này cho thấy hệ chữ viết của ông không tiết kiệm, gọn nhẹ hơn so với phương án cũ.
Thứ bảy, học tiếng Việt, chữ Việt là quyền lợi và trách nhiệm của mọi công dân Việt Nam thuộc các dân tộc khác nhau. Đề nghị cải tiến chữ Quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiền làm cho chữ Quốc ngữ trở nên khác xa chữ viết của một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số (phần lớn dựa trên tự dạng Latin), vì thế gây cho khăn cho người dân tộc thiểu số tiếp thu chữ Quốc ngữ.
2.3.Về mặt thực tiễn
Nếu cải tiến chữ Quốc ngữ theo đề xuất của PGS.TS Bùi Hiền thì nó sẽ làm vô hiệu một kho văn liệu khổng lồ với các ấn phẩm được viết bằng chữ Quốc ngữ, làm đứt gẫy sự liên tục văn hóa của cả một dân tộc. Nếu muốn lưu giữ và truyền tải khối tri thức, văn hóa của dân tộc cho các thế hệ sau, chúng ta sẽ phải tổ chức in ấn, chế bản lại. Đây là một việc làm cực kì tốn kém. Không chỉ có thế, sự thay đổi này còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh… do thay đổi toàn bộ hệ thống văn bản, giấy tờ, dữ liệu hiện hành đang được công nhận trên toàn thế giới.
Với tư cách là một loại chữ viết ghi lại ngôn ngữ dân tộc, trải qua những phát triển lịch sử, chữ Quốc ngữ ngày nay đã trở thành một tài sản văn hóa vô cùng quý giá của người Việt. Bản kiến nghị của PGS.TS Bùi Hiền chỉ là mong muốn của một cá nhân, hoàn toàn không xuất phát từ nhu cầu của xã hội. Chúng ta chưa có những điều tra về nguyện vọng của xã hội về vấn đề này nhưng những phản ứng của cộng đồng trên các phương tiện thông tin đại chúng thời gian qua đã cho thấy điều đó. Chữ viết, sau khi được xã hội thừa nhận là tài sản chung của mọi người. Xã hội chưa có nhu cầu thay đổi thì cá nhân không thể tùy tiện đề xuất thay đổi, đặc biệt là những đề xuất đó lại rất thiếu cơ sở khoa học như đã phân tích ở trên.
Mặt khác, bản thân hệ thống chữ Quốc ngữ hiện hành vẫn đang thực hiện rất tốt vai trò của mình trong đời sống của xã hội nước ta. Mặc dù có một số bất hợp lí nhưng những bất hợp lí này là có thể chấp nhận được và không cản trở đến quá trình giao tiếp bằng tiếng Việt. Vì vậy, bất cứ một sự cải tiến nào cũng sẽ làm đảo lộn mọi lĩnh vực trong xã hội.
3. Kết luận
Đề xuất cải tiến chữ Quốc ngữ của PGS.TS Bùi Hiền như đã phân tích là ý kiến của một cá nhân có thể có xuất phát từ mục đích tốt nhưng lại thiếu kiến thức chuyên môn; hiểu biết chưa toàn diện về ngữ âm học, ký tự học nên thiếu tính khoa học và thực tiễn, không có tính khả thi. Trong tình hình chữ Quốc ngữ đang vận hành hiệu quả như hiện nay, Viện Ngôn ngữ học cho rằng hoàn toàn không nên và không cần thiết có bất kì cải tiến nào đối với chữ Quốc ngữ.

Nguồn: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=288546931963902&id=100024257933167&__tn__=K-R

          Công dư tiệp ký (CDTK) của Vũ Phương Đề có vị trí như là tác phẩm “nối mạch” cho dòng văn xuôi tự sự Việt Nam sau hơn hai thế kỷ dường như bị quên lãng (Hiện nay ta chưa biết đích xác Nguyễn Dữ hoàn thành tác phẩm Truyền kỳ mạn lục vào thời điểm nào. Nhưng hiển nhiên nó phải ra đời trước năm 1547, khi Hà Thiện Hán viết lời tựa cho tác phẩm. Nếu tính từ năm 1547 đến năm 1755, khi Vũ Phương Đề đề tựa cho tác phẩm CDTK của mình thì cách nhau đến 208 năm. Trong khoảng thời gian này hiện ta chỉ thấy một tác phẩm là Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm –ra đời vào đầu thế kỷ XVIII. Tác phẩm này không những mở đầu mà còn có tác dụng thúc đẩy dòng văn học này phát triển, nở rộ, đạt đến những thành tựu rực rỡ trong giai đoạn cuối của văn học trung đại Việt Nam. Ngay từ khi ra đời, CDTK đã được dư luận chú ý, độc giả đón nhận. Và kể từ đó nó đã được người sau tục biên, tục bổ, bổ di làm cho tác phẩm ngày càng dày lên và cũng phức tạp thêm. Hơn thế nữa, người ta còn trích lục, sao chép nó thành những tập sách khác với những tên mới.

 

          Cùng với những tác phẩm như Việt điện u linh (VĐUL), Lĩnh nam chích quái (LNCQ),…CDTK đã góp phần đặt nền móng cho văn xuôi tự sự Việt Nam ở các giai đoạn tiếp sau. Điểm đặc sắc riêng của CDTK là nó không những mở ra thể loại tiệp ký (ghi nhanh) mà còn góp vào dòng văn học này một thể tài mới mẻ: loại truyện nhân vật được kể dưới màu sắc truyền thuyết, giai thoại dân gian lý thú và sinh động.

 

          Để góp phần ghi nhận công lao của tác giả CDTK, trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu thêm đôi điều về thân thế, sự nghiệp của Vũ Phương Đề với một số thông tin mới, đồng thời điểm qua những giá trị cốt lõi của tác phẩm này.

 

          1.Về tiểu sử của Vũ Phương Đề, từ trước đến nay chúng ta chỉ biết sơ lược qua một vài tài liệu đăng khoa lục, lịch sử và một số công trình nghiên cứu có đề cập đến tác phẩm CDTK.

 

          Theo Các nhà khoa bảng Việt Nam thì Vũ Phương Đề đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Bính Thìn niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (1736) đời Lê Ý Tông. Làm quan đến chức Đông các học sĩ (1).

 

          Lược truyện các tác gia Việt Nam giớit hiệu: “Vũ Phương Đề, từ Thuần Phủ, người làng Mộ Trạch, huyện Đường An (Bình Giang, tỉnh Hải Dương cũ, nay thuộc tỉnh Hải Hưng) là con của Vũ Phương Nhạc. Ông sinh năm 1697 và mất năm nào không rõ.

 

          Những thông tin như trên, chúng ta cũng thấy đề ngay sau lời tựa của tác phẩm CDTK kèm với chức quan (có thể là cao nhất) trên bước đường hoạn lộ của ông: “Tứ Bính Thìn khoa Tiến sĩ, Đông các hiệu thư, thự Sơn Nam xứ Tham chính, Vũ Thuần Phủ tự”. (Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736), Đông các hiệu thư, kiêm Tham chính xứ Sơn Nam, Vũ Thuần Phủ viết tựa).

 

          Gần đây, Nguyễn Đăng Na trong tạp chí Hán Nôm, số 1-1989 (2) và trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1 (3) cũng đã cung cấp thêm một số chi tiết mới về Vũ Phương Đề. Nhưng nhìn chung tiểu sử của ông được giới thiệu hãy còn sơ lược. May thay, hiện tại chúng ta hảy còn lưu giữ được mấy bộ gia phả viết khá công phu về họ Vũ ở Đường An. Và trong cuốn Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích do Vũ Phương Lan, Vũ Thế Nho biên tập, chúng ta có thêm được 3 trang ghi về thân thế, sự nghiệp tác giả CDTK (4).

 

          Với những dòng ghi chép về Vũ Phương Đề trong cuốn gia phả này, và tham khảo, đối chiếu thêm một số nguồn tài liệu khác, chúng tôi sơ bộ dựng lại tiểu sử Vũ Phương Đề, như sau:

 

          Vũ Phương Đề, tự là Thuần Phủ (theo gia phả, ông còn có một tên tự nữa là Trạch Hiên). Ông sinh ra trong một dòng họ có truyền thống hiếu học và có tiếng trên đường khoa hoạn của làng Mộ Trạch, Đường An – mảnh đất tương truyền là “Tiến sĩ sào” (tổ Tiến sĩ). Ông nội của Vũ Phương Điền là Vũ Quốc Trân, cũng là người xuất thân khoa hoạn. Cha ông là Vũ Phương Nhạc (1673-1745), từng giữ chức Đông các hiệu thư dưới thời Lê Ý Tông. Mẹ ông là bà Vũ Thị Đại, con gái của Vũ Đăng Hiển (người đã được Vũ Phương Đề viết về thân thế sự nghiệp trong truyện Mộ Trạch luỹ trúng ở CDTK). Bà Đại, là vợ thứ hai của ông Vũ Phương Nhạc.

 

          Theo gia phả thì Vũ Phương Đề sinh vào giờ Thìn, ngày mồng 9, tháng 10, năm Mậu Dần –1698 (các tài liệu giới thiệu về Vũ Phương Đề từ trước đến nay thường ghi ông sinh năm 1697). Riêng các nhà khoa bảng Việt Nam ghi là ông sinh năm 1698. Có lẽ các nhà nghiên cứu căn cứ vào số tuổi năm của Vũ Phương Đề đỗ Đồng tiến sĩ để truy ngược năm sinh của ông, nhưng không lưu ý rằng người xưa chỉ tính tuổi âm, nghĩa là khi sinh ra đã tính 1tuổi. Chẳng hạn, khi ghi ông đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1736), năm 39 tuổi thì thực tế ông mới 38 tuổi. Có lẽ vì thế mà có sự chênh lệch này. Ở đây chung tôi xin căn cứ theo gia phả). Năm 16 tuổi, ông thi Hương trúng Tam trường khoa Giáp Ngọ (1714), Năm Canh Tý (1720), ông 22 tuổi, lĩnh Hương tiến. Năm sau thi Hội (khoa Bảo Thái 2), ông trúng Tam trường, và sau đó được giữ chức Quốc tử giám Lễ kinh học chính giám tập. Năm At Tỵ (1725), Vũ Phương Đề nhận chức Tri huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên). Khoa Bính Thìn (1736), niên hiệu Vĩnh Hựu 2 (Lê Ý Tông) ông đỗ Đồng tiến sĩ. Sau đó nhậm chức Lại khoa cấp sự, Kỳ thi Hương khoa Mậu Ngọ (1738), Vũ Phương Đề được cử làm Đề điệu trường Nghệ An.

 

          Khoảng thời gian từ năm 1741-1744 trong gia phả không thấy ghi Vũ Phương Đề làm gì, nhưng theo Việt sử thông giám cương mục thì tháng 3, năm Tân Dậu (1741), ông được cử làm Hiệp đồng đạo Đông Triều Hải Dương. Việt sử thông giám cương mục ghi như sau: “Vì Hải Dương đã được bình định, nên chia làm bốn đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, An Lão và Đông Triều, mỗi đạo đặt một chức tuần phủ để chiếut heo địa phận vỗ về dân chúng. Bổ dụng Nhữ Đình Toản, Vũ Khâm Lân, Phạm Đình Trọng và Vũ Phương Đề đều giữ chức Hiệp đồng (5). Và vào tháng 5, năm Giáp Tý (1744), Hoàng Ngũ Phúc bao vây căn cứ Đồ Sơn thì Nguyễn Hữu Cầu phá vây tiến lên Kinh Bắc. “Trấn thủ Trần Đình Cẩm tiến quân từ Thiết Sơn đến Trai Thị, bị giặc đánh bại, tất cả quân lính đều tan vỡ. Đình Cẩm lui giữ Thị Cầu, giặc nhân thế thắng đuổi đánh, Đình Cẩm lại bị thua, giặc đuổi thao, bèn chiếm được trấn thành Kinh Bắc, tung lửa đốt phá doanh trại. Đình Cẩm cùng đốc đồng Vũ Phương Đề bỏ ấn tín chạy. Nửa đêm tin báo đến Kinh, trong Kinh thành nhốn nháo kinh sợ” (6). Những dòng ghi chép trên cho chúng ta biết đại lược là: từ tháng 3 năm 1741, Vũ Phương Đề giữ chức Hiệp Đồng đạo Đông Triều bà khoảng những năm 1744, ông làm Đốc đồng trấn Kinh Bắc. Theo Nguyễn Đăng Na thì sau khi để mất trấn thành Kinh Bắc, Vũ Phương Đề bị cách chức. Không biết ông bị cách chức bao lâu, nhưng trong gia phả lại ghi:

 

          Năm Đinh Mão (1747), Vũ Phương Đề được thăng Đông các hiệut hư. Năm Canh Ngọ (1750), lại được thăng chức Tham chính xứ Sơn Nam và tại chức 7 năm. Năm Kỷ Mão (1759), ông lại được thăng Đông các học sĩ, kiêm Kinh Bắc Tham chính.

 

          Vũ Phương Đề mất ngày 26 tháng 4 năm Tân Tụ (1761) tại nhiệm sở, thọ 63 tuổi (Các tài liệu từ trước đến nay đều để trống năm mất của Vũ Phương Đề. Chúng tôi cho đây là một thông tin mới đáng lưu ý). Sau khi mất ông được truy tặng Hàn Lâm viện thị độc, gia tặng Đông các đại học sĩ, Xuân Trạch hầu.

 

          Nguyễn Đăng Na khi giới thiệu về CDTK có đặt vấn đề rằng: “Có lẽ CDTK được sáng tác trong thời gian mất chức này (tức năm 1744). Về sau, số phận của Vũ Phương Đề ra sao, không rõ” (7). Chúng tôi nghĩ, những thông tin trên của gia phả có thể bổ sung thêm khoảng thời gian còn “không rõ” trong cuộc đời của tác giả CDKT. Chưa chắc những gì ghi trong cuốn gia phả mà chúng tôi khai thác là chính xác, nhưng dù sao đây cũng là một cuốn gia phả được biên soạn khá nghiêm túc về một dòng họ đáng gọi là “cự tộc” trong cộng đồng các dòng họ Việt Nam. Gia phả ghi rằng, năm 1747 Vũ Phương Đề được thăng Đông các hiệu thư, và năm 1750 ông lại được thăng Sơn Nam Tham chính và tại chức 7 năm, có thể hoàn toàn xác thực. Bởi như chúng ta đều biết, khi đề tựa cho CDTK (1755), họ Vũ có ghi rõ hai chức vụ mà mình đang giữ này. Hơn nữa, nếu đọc kỹ CDTK ta vẫn thấy có một vài chi tiết cho thấy khoảng thời gian nói trên Vũ Phương Đề vẫn đang tại chức. Chẳng hạn, ờ cuối truyện Bộ đầu linh từ ký, họ Vũ viết rằng:

 

          “Năm Giáp Tuất (1754), ta phụng mệnh đến trông coi việc đắp đê ở làng ấy. Đền ở nagy cạnh đê, ta vào thăm thì thấy tượng thần cũng y nguyên…”

 

          Hoặc ở truyện Xà tuyền ký, tác giả cũng để lộ một chi tiết như thế:

 

          “Năm Giáp Tuất (1754), ta phụng mệnh đi đón sứ giả [của Tàu] qua đấy, cũng có vào đền làm lễ. Nhân đó hỏi chuyện người trong ấp, người ta đã thuật lại đầu đuôi sự tích cho nghe, nên ghi chép đại lược ra đây”.

 

          Vậy, chúng ta có thể tin rằng, vào khoảng những năm 1754, 1755 Vũ Phương Đề vẫn đang tại chức, đang viết và sắp hoàn thành sách CDTK.

 

          2. Như ở trên chúng tôi đã nói, CDTK là tác phẩm có vai trò “nối mạch”, “hồi sinh” cho dòng văn xuôi tự sự Việt Nam sau hơn hai thế kỷ cơ hồ bị gián đoạn. Hơn nữa, nó còn là “tác phẩm mở đầu cho lối “ghi nhanh” –tiệp ký trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam” (8). Sau CDTK, dòng văn học này nở rộ chưa từng thấy. Có thể kể ra đây một số tác phẩm tiêu biểu như: Sơn cư tạp thuật, Kiến văn lục, Tang thương ngẫu lục, Vũ trung tuỳ bút, Mẫn Hiên thuyết loại, Đại Nam kỳ truyện, Thính văn di lục…”. Khảo sát những tác phẩm trên, ngoài thể truyền kỳ truyền thống, ta bắt gặp nhiều khái niệm mới về thể loại, tức là về hình thức thể hiện như ký sự, tiệp ký, ký văn, tuỳ bút, tạp thuật, ngẫu lục, chí… Dĩ nhiên vào thời kỳ ấy các tác giả hẳn là chưa hình dung thật chính xác và cụ thể nội hàm của từng khái niệm, thậm chí có khi dùng hai khái niệm về thể loại nhưng không có gì khác nhau về bút pháp thể hiện. Ví dụ: Phạm Đình Hổ viết Vũ trung tùy bút rồi ông và Nguyễn An lại viết Tang thương ngẫu lục. Cả hai khái niệm tùy bút và ngẫu lục mà hai ông sử dụng chỉ muốn nói một điều là “họ đã dùng ngòi bút sao lục, ghi chép một cách ngẫu nhiên, tuỳ hứng, tự do chứ không có trước một ý đồ nào cả” (9). Có thể nói, xét về phương thức sáng tác, trên đại thể là phát triển theo lối viết của CDTK. Thực chất đây là những giai thoại, những câu chuyện lạ lưu truyền trong dân gian. Những câu chuyện này được các tác giả ghi lại  dưới hình thức “nghe sao ghi vậy” (dĩ nhiên là có sự gia công gọt giũa và cả khảo cứu). Rất nhiều thiên truyện các tác giả đã “thực thà” thể hiện tính chất “sưu tầm truyện dân gian” ấy. Chẳng hạn, ở truyện Xà tuyền ký, Vũ Phương Đề viết: “Năm Giáp Tuất, ta phụng mệnh đi đón sứ giả của Tàu qua đây, cũng có vào đền làm lễ. Nhân đó hỏi chuyện người trong ấp, người ta đã thuật lại đầu đuôi sự tích cho nghe, nên ghi chép đại lược ra đây”. Hoặc cuối truyện Ông Lê Thì Hiến, Nguyễn An cũng chua thêm: “Hai thuyết trên chưa rõ thuyết nào đúng. Vậy cứ chép cả ra đây” (10). Rất có thể đấy là những lời “đưa đẩy” của người viết, nhưng dù sao tính chất ghi chuyện truyền miện, đồn đại trong dân gian vẫn thể hiện rõ ràng qua cách viết của các tác giả. So với loại chí quái, truyền kỳ thì loại ký sự như thế này đã ít hoang đường, hư huyễn, mà đã đậm đà tính “thời sự” hơn, độ xác thực nhiều hơn, và đặc biệt có khi độ xác thực khá cao, chẳng kém những thiên ký sự hiện đại. Điều này ta có thể thấy rõ ở một số thiên trong Vũ trung tùy bút, Tang thương ngẫu lục, Thượng kinh ký sự và Hoàng Lê nhất thống chí.

 

          Chúng tôi xin quay trở lại với CDTK. Với cách nhìn hôm nay, đứng ở góc độ phương thức sáng tác mà xét, có thể gọi CDTK là một công trình sưu tầm, ghi chép truyện dân gian. Chẳng cần tìm đâu xa xôi, giở trang đầu tiên của CDTK ta đã thấy tác giả bộc bạch “thực chất công việc” của mình: “Phủ này ngày thường rất thích nói, cho nên trong lúc việc công rảnh rỗi bèn đem những điều mình biết sẵn và tìm hiểu thêm các bậc nghe rộng biết nhiều, hễ được chuyện gì cũng cứ sự thực ghi lại rồi xếp thành thiên, nhan đề là “Công dư tiệp ký” (Lời tựa CDTK). Nhưng ở đây tác phẩm không chỉ giới hạn trong khuôn khổ những thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích đậm sắc thái hoang đường như LNCQ nữa, mà đã mở rộng ra, ghi chép khá nhiều những giai thoại dân gian, dã sử về các dòng họ và danh nhân lịch sử Việt Nam. Những mẩu truyện danh nhân thường đi kèm với những giai thoại văn học lý thú và sinh động. Đây là một điểm khá mới mẻ của CDTK so với các tác phẩm trước nó như VĐUL, LNCQ. Và có lẽ không phải ngẫu nhiên mà các tập truyện sao lục lại CDTK sau này (như Việt tuấn giai đàm, Lịch đ5I danh thần sự trạng…) phần lớn đều sao chép lại những truyện ký danh nhân đậm đà chất giai thoại ấy. Chúng tôi nghĩ rằng, những thiên truyện sinh động, đậm chất giai thoại này chính là linh hồn của CDTK. Chúng ta hãy đưa những thiên truyện này trở lại môi trường xã hội trước đây, khi mà hướng đi và ước mơ của một đấng “nam nhi chi chí” thường là: học hành –thi cử- đỗ đạt- làm quan, giúp vua “tề gia trị quốc”, có như thế chúng ta mới hiểu rõ hơn vì sao những câu chuyện về ông Cống, ông Nghè ấy đã cuốn hút, làm say sưa bao lớp độc giả. Đây chính là vấn đề môi trường văn hoá và tâm lý thời đại –cái mà chúng ta dễ dàng hụt hẫng nếu không lưu tâm đến khi tìm hiểu hay thưởng thức một tác phẩm của thời quá khứ.

 

          Cũng cần nói thêm, ở VĐUL, LNCQ, khi viết về các vị thần (những câu chuyện mang tính chất thần phả) thì những vị thần đó phải là những bậc “thông minh chính trực… không phải là hạng dâm thần, tà ma quỷ quái…” (Lời tựa VĐUL của Lý Tế Xuyên). Nhưng đến CDTK thì hình như tác giả không còn kén chọn quá “khắt khe” như thế nữa, và đã “cởi mở” hơn khi ghi chép một số câu chuyện về thần thánh. Ơ đây có những vị không những không được liệt vào tự điển, không được “thông minh chính trực” mà còn là “hạng dâm thần, tà ma quỷ quái” nữa. Trong CDTK ta bắt gặp một vị thần chuyên làm khổ dân chúng bằng cách phá đê, gây lụt lội, đến khi nào dân đen dựng cho các miếu thờ tự mới chịu yên (Kim Tông thuỷ thần ký); một vị thần quên cả bố mẹ, coi Ngọc hoàng Thượng đế chỉ “bé bằng hạt tiêu” như Cường Bạo Đại Vương, đã thế, khi chết rồi còn hoạnh hoẹ dân chúng, gây ôn tác dịch  cho súc loại và con người, đòi được một các đền mới chịu nghỉ (Cường Bạo Đại Vương ký). Không những thế, ở đây ta còn bắt gặp những thần thánh linh thiêng, chẳng biết linh thiêng tới đâu mà lại bị một gã lưu manh nhãi nhèp lừa cho thất điên bát đảo (Thanh Hoa linh từ ký). Bên cạnh những thần thánh uy nghiêm, những anh hùng dân tộc kỳ vĩ, ở CDTK ta đã thấy xuất hiện những con người bình thường, thế nhưng họ đã có những hành động yêu nước, mưu trí, dũng cảm phi thường. Đấy là những anh hùng vô danh như cô gái làm nghề xướng ca trong Đào nương ký, là người đàn ông không tên tuổi trong Hạ Bì dị nhân ký… Những trang sữ chính thống đã bỏ quên họ, nhưng “nghìn năm bia miệng” vẫn khắc sâu hình ảnh anh hùng cao đẹp của họ. Vũ Phương Đề là một trong những người đầu tiên đã đưa những con người bình dị nhưng không kém khí phách anh hùng ấy vào trang viết của nhà nho. Như chúng ta đều biết, ngọn bút của nhà nho dùng để “khuyến thiện, trừng ác” chứ nào phải để mua vui, họ Vũ cũng không nằm ngoài tư tưởng đó. Và tất cả chúng ta đều phải đồng ý với nhau rằng “ngay từ đầu, chiều hướng Nho hoá đã chi phối việc ghi chép truyện cổ một cách khó cưỡng, làm cho nhiều câu chuyện vốn rất ly kỳ bị đơn giản hoá, hoặc mỹ hoá, hợp lý hoá, theo kiểu sách vở nhà nho” (11). Tất nhiên, Vũ Phương Đề cũng không thoát khỏi chiều hướng đó. Nhưng nếu thử đối sánh một số câu chuyện mang tính thần phả ở CDTK với VĐUL thì ta thấy họ Vũ viết hồn nhiên và thoải mái hơn họ Lý nhiều. Đọc một số truyện như Đế Thích ký (phụ Trương Ba), Kim Tông thuỷ thần ký, Cường Bạo Đại Vương ký… ta thấy dường như dân gian kể thế nào thì tác giả chép lại như thế ấy. Có lẽ vì thế mà chúng đậm đà phong vị dân gian. Có thể nói, họ Vũ chưa “cải hoá” những “huyền thoại kỳ lạ chưa được giải mã, thành một loạt lý lịch “trong sạch”, “đẹp đẽ” nhưng cũng hết sức tẻ ngắt và nhàm chán” (12) như một số nhà nho khác đã làm. Giữ được màu sắc của huyền thoại, giai thoại dân gian, đấy là nét son đáng chú ý trên những trang viết của CDTK.

 

          Vì vậy, những câu chuyện này không những được người ta hứng thú truyền chép rộng rãi ở thời trung đại mà còn được các nhà sưu tầm, biên soạn truyện cổ diễn dịch lại bằng cả chữ Nôm (Truyện CDTK (AB.481), Vũ Xuân Tiên dịch 36/44 truyện của CDTK tiền biên; Nam Hải dị nhân liệt truyện diễn âm (AB.472), Phan Kế Bính chọn dịch Nôm 5 truyện trong CDTK tiền biên), chữ Quốc ngữ ở thời cận hiện đại. Độc giả ngày nay vẫn cảm thấy hết sức thú vị khi đọc những giai thoại về Lê Nại, Phạm Trấn, Đỗ Uông, Lương Hữu Khánh… được tuyển dịch trong cuốn Giai thoại văn học Việt Nam (13), và cũng chẳng kém phần thích thú khi đọc những truyện như Hồn Trương Ba da hàng thịt, Sự tích hồ Ba Bể, Giáp Hải, Cường Bạo Đại vương… trong bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (14).

 

          Vũ Phương Đề sinh ra và lớn lên từ một dòng họ nổi tiếng trải bao đời kế thế đăng khoa trên một vùng đất có truyền thống hiếu học và vang danh trên trường khoa hoạn, một vùng đất xứng đáng với bốn chữ “địa linh nhân kiệt”, vùng đất mà chỉ riêng huyện Đường An, tính đến năm 1851 đã có đến 108 vị đỗ đại khoa. Trong đó, riêng làng Mộ Trạch của Vũ Phương Đề đã có đến 39 vị, và trong 39 vị này đã có 30 người họ Vũ (15). Thật chẳng ngoa tí nào khi người ta gọi đó là “tổ Tiến sĩ” (Tiến sĩ sào). Và CDTK ra đời cũng chính từ niềm tự hào ấy. Vũ Phương Đề sống vào thời buổi phong kiến suy tàn, đất nước một vua hai chúa, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, cửa Khổng sân Trình đầy rẫy những hạng “sinh đồ ba quan”; ánh hào quang của một thời thịnh trị đang lùi dần vào quá vãng. Vì thế, những giai thoại về những ông Nghè, ông Cống ấy không những “ngụ nhiều điều khuyến giới, ngõ hầu để xem trong lúc thư nhàn” (Lời tựa CDTK của Vũ Phương Đề) mà còn thể hiện những đồng vọng của quá khứ, “bởi vì quá khứ luôn phục sinh, quay trở lại và trở thành nội dung thực tại của hiện tại” (16). Đấy không những là niềm tự hào về một dòng tộc vang danh, một vùng đất thần thiêng mà còn là niềm tự hào về “địa linh nhân kiệt” của một đất nước. Từ VĐUL, LNCQ, TKML đến CDTK ta luôn thấy hiện diện niềm tự hào ấy. Có thể nói, đấy là niềm cảm hứng chủ đạo, quán xuyến các tác giả trong mạch chảy của văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại. Niềm tự hào ấy không những bàng bạc trên những trang viết của các tác giả, hơn nữa còn hun đúc ngọn lửa nhiệt tình, lòng tự hào về quê hương đất nước cho những thế hệ độc giả nốit iếp sau. Quả vậy, một trong những người đọc sau đó đã thốt lên rằng: “Nước Việt ta lập quốc, sơn kỳ thuỷ tú, địa linh nhân kiệt, so với các nước trong toàn cầu, thực là anh vĩ đặc biệt, cố nhiên là không chịu nhường ai rồi […]. Cứ xem trong các sách Công dư tiệp ký, Truyền kỳ mạn lục, Lĩnh nam chích quái, Tang thương ngẫu lục thì có thể thấy rõ” (Lời bạt sách Trùng bổ VĐUL Toàn biên của Tam Thanh Quán đạo nhân). Có lẽ cũng xuất phát từ niềm tự hào đó, mà VĐUL, LNCQ và CDTK đã được các thế hệ tục biên, tục bổ, bổ di… trải dài qua các thời đại. Không những thế, chúng còn tạo ra một loạt những tập sách trích lục, sao chép lại với những tên sách mới. Điều khá lý thú là khi khảo sát những thiên chuyện trong tập sách này chúng ta thấy có một sự “hỗn dung”, “giao thoa” khá đậm đà giữa LNCQ và CDTK. Ở đây chúng tôi muốn nói đến hiện tượng người trích lục đã sao chép lẫn lộn một cách “vô tư” các thiên truyện của LNCQ và CDTK trong cùng một tập sách. Chúng ta có thể thấy điều này qua các sách Việt tuấn giai đàm (A.3006), LNCQ (A.1752), CDTK (HV.74)… Qua đó có thể thấy rằng, CDTK đã bổ sung một mảng đề tài mà LNCQ còn thiếu vắng –đấy là những truyện viết về các “nhân kiệt” chưa được “thần thánh hoá”, hãy còn hết sức phàm trần, gần gũi với các thế hệ độc giả. Ở một mức độ nào đấy có thể gọi đây là những thiên ký sự “người thật, việc thật” sinh động, hấp dẫn, vừa cung cấp thêm tư liệu về đời tư của những người nổi tiếng, vừa góp phần củng cố thêm lòng tự hào “địa linh nhân kiệt” cho dân tộc. Đấy là cái đặc biệt, là thế mạnh, là linh hồn của CDTK.

 

          Có lẽ vì tính hấp dẫn ấy của CDTK mà theo đó Trần Quý Nha đã viết thêm Tục CDTK, và sau đó không ít người đã sao chép lại những truyện trong CDTK ở những quyển sách khác. Riêng về văn bản, hiện tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Sử học, Thư viện Quốc gia Hà Nội còn lưu giữ đến 13 dị bản này của CDTK. Việc khảo sát, nhận định những dị bản này của CDTK là một vấn đề khoa học không kém lý thú.

 

 

 

CHÚ THÍCH:
(1)    Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thuý Nga, Nguyễn Hữu Mùi: Các nhà khoa bảng Việt Nam 1075-1919, NXB Văn học, Hà Nội, 1993.
(2)    Nguyễn Đăng Na: Tục Công dư tiệp ký: tác giả và tác phẩm, Tạp chí Hán Nôm, 1/1989, tr.48-50.
(3)    (7) (8) Nguyễn Đăng Na: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tập 1, NXB Giáo dục, 1997.
(4)    Vũ Phương Lan: Mộ Trạch Vũ tộc thế hệ sự tích (ký hiệu: A.3132)
(5)    Việt sử thông giám cương mục, Tập 18, NXB Sử học, Hà Nội, 1960.
(6)    (9) Hoàng Hữu Yên: Tuyển tập truyện Việt Nam thế kỷ X-XIX, NXB ĐHTHCN, Hà Nội, 1987.
(10) Phạm Đình Hổ, Nguyễn An :Tang thương ngẫu lục –Ngô Văn Triện dịch, Trần Nghĩa giới thiệu (Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, Tập II, NXB Thế giới, Hà Nội 1997).
(11) (12) (14) Nguyễn Đổng Chi: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, Tập V, NXB Văn học, 1993.
(13) Hoàng Ngọc Khánh, Kiều Thu Hoạch: Giai thoại văn học Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 1988.
(15) Vũ Băng Tú: Về một bài văn bia của Tiến sĩ Vũ Tông Phan mới được phát hiện, Tạp chí Hán Nôm 4/1997, tr. 74-82.
(16) GURÊVICH. AJA: Những phạm trù văn hoá trung cổ –Hoàng Ngọc Hiến dịch, NXB Giáo dục, 1996.

Lời người dịch

Sau khi đọc bản dịch tiếng Anh “The origin of the peculiarities of the Vietnamese alpabet” do Alexis Michaud dịch[1] từ bản tiếng Pháp “L’origine des particularités de l’alphabet vietnamien”, của André-Georges Haudricourt (đăng trong Dân Việt Nam 3:61-68, 1949), tôi tìm được một phiên bản tiếng Việt “Nguồn gốc những điểm dị biệt trong bảng chữ cái tiếng Việt” do Cao Thành Việt dịch từ bản tiếng Anhnói trên[2]. Mặc dù trong lời giới thiệu phiên bản tiếng Việt này người dịch cho biết “bản dịch có nhận được góp ý qua đối sánh với bản gốc tiếng Pháp”, song tôi thấy bản dịch chưa thật sáng rõ,khá nhiều chỗ xa với bản nguồn tiếng Anh, một số chỗ dịch chưa chính xác (trong đó có một số khái niệm, thuật ngữ), thậm chí có một số đoạn, câu bị bỏ sót. Bởi vậy, tôi thấy cần dịch lại cho mình, và để những ai quan tâm đến lịch sử chữ quốc ngữ hiểu đúng hơn bài viết rất nổi tiếng của học giả nổi tiếng A.G. Haudricourt.

Bản này được dịch từ bản dịch tiếng Anh của Alexis Michaud, có đối chiếu với bản tiếng Việt của Cao Thành Việt. Trước và trong khi dịch, tôi và dịch giả Michaud có liên lạc và trao đổi qua email để làm rõ một số diễn đạt và đính chính một lỗi sai trong bản dịch tiếng Anh. Nhân đây tôi xin cảm ơn hai dịch giả Alexis Michaud và Cao Thành Việt đã đem đến cho tôi cảm hứng khi dịch lại bài này[3].

                                                                          Võ Xuân Quế 5.2018

----------------------------

Lời giới thiệu của Alexis Michaud(trong bản dịch tiếng Anh)

Đóng góp của André-Georges Haudricourt vào Đông Nam Á học trên tầm quốc tế là không thể phủ nhận, tham khảo cuốn Haudricourt Festschrift (Suriya, Thomas and Suwilai 1985). Tuy nhiên, nhiều công trình của Haudricourt vẫn chưa được phổ biến với người đọc tiếng Anh. Một tuyển tập các công trình nghiên cứu quan trọng nhất của André-Georges Haudricourt,đang được một nhóm học giả quốc tế biên dịch và chuẩn bị xuất bản. Mục đích của nó là nhằm chia sẻ với giới học thuật các trước tác của Haudricourt mà phần nhiều trong số chúng là đề cập tới các vấn đề trong các ngôn ngữ Đông Nam Á, về ngôn ngữ học và nhân học xã hội.

Nguồn gốc những điểm đặc biệt trong bảng chữ cái tiếng Việt” không phải là một trong những bài báo nổi tiếng nhất của Haudricourt, bởi vậy, nó sẽ không được đưa vào tuyển tập các trước tác của Haudricourt nói trên. Tuy nhiên, cho tới nay, bài báo này vẫn là một trong những nghiên cứu sâu sắc và có giá trị nhất về nguồn gốc chữ viết tiếng Việt hiện đại. Nó truy tìm nguồn gốc những con chữđặc biệt có trong chính tả của ngôn ngữ này bằng cách lần theo dấu vết các thói quen chính tả của các ngôn ngữ Roman,quen thuộc với những người đã chế tác ra nó. Bài báo thể hiện niềm đam mê của Haudricourt trong việc phục dựng nguồn gốc lịch sử của những hiện tượng phức tạp, cũng như kỹ năng thu thập các bằng chứng từ nguồn tư liệu cực kì phong phú của ông.

Bài báo này rõ ràngnhằm hướng đến một phạm vi bạn đọc rộng hơn hầu hết các công trình khác của Haudricourt. Văn phong của nó mang tính đại chúng và tránh dùng các thuật ngữ chuyên môn. Bài báo đã đăng trong số thứ ba, và cũng là số cuối cùng của tập san Dân Việt Nam, do Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp ở Việt Nam xuất bản năm 1948 và 1949. Bản gốc ngày nay rất khó tìm được, hơn nữa, đa số độc giả có quan tâm đến bài báo có thể không có vốn tiếng Pháp, trong khi vào năm 1949, Haudricourt tin chắc rằng đông đảo công chúng có thể đọc được tiếng Pháp. Bản dịch này nhằm đem tài liệu này đến với tất cả những ai quan tâm đến tiếng Việt và vấn đề văn tự nói chung.

Nhà xuất bản ở Việt Nam rõ ràng đã gặp nhiều khó khăn trong việc biên tập bài báo vốn sử dụng nhiều kí tự đặc biệt này. Bản dịch này sẽ đính chính những lỗi chính tả có trong tài liệu gốc. C được thay thế bằng G ở trang 64; dấu phụ trong p‘, t‘, k‘ lần lượt thay thế cho pc, tc, kc trong nguyên bản .v.v. Các phiên âm trong bản Phiên âm Ngữ âm Quốc tế IPA cũng được thêm vào một cách hệ thống trong bản dịch. Lời chú của dịch giả được để trong ngoặc vuông hoặc đặt ở phần chú thích cuối mỗi trang.

Dịch giả xin chân thành cám ơn Michel Ferlus vì đã giới thiệu bài báo này, cám ơn Boyd Michailovsky, Martine Mazaudon đã bỏ công nhuận sắc cho bản dịch và cám ơn Jean-Michel Roynard đã giúp đỡ dịch giả trong phần minh họa.

-------------------

TÓM TẮT

Những người có công sáng tạo bảng chữ cái Latin cho tiếng Việt là những nhà truyền giáo đến từ Bồ Đào Nha, Ý và Pháp. Kết quả là bảng chữ cái này kế thừa một số điểm đặc biệt có nguyên nhân từ hệ thống chính tả các ngôn ngữ Roman.

Các phụ âm bật hơi (aspirated) H, PH, TH, KH [IPA: /h/, /pʰ/, /tʰ/, /kʰ/] không có trong các ngôn ngữ Roman. Nhưng, trong các ngôn ngữ này, các tổ hợp chữ cái PH, TH, KH xuất hiện trong những từ gốc Hy Lạp, như những từ có phụ âm đầu trong tiếng Hy Lạp phi, theta, khi (φ, θ, χ), vốn là những phụ âm bật hơi trong ngôn ngữ này. Vì vậy những tổ hợp này đã được sử dụng để ghi các phụ âm tắc bật hơi tiếng Việt.

Các âm tắc mặt lưỡi (dorsal stop) C, G chỉ được sử dụng trước các nguyên âm /a/, /o/ và /u/. Lí do là trong các ngôn ngữ Roman đó là vị trí duy nhất mà những phụ âm này còn giữ được cách phát âm tắc (obstruent) mà chúng có trong tiếng Latin; GHE, GHI được dùng với giá trị ngữ âm mà chúng có trong tiếng Ý; tổ hợp KE và KI cần được lí giải từ chữ cái K được dùng trong tiếng Hy Lạp (kappa, κ) và trong các tiếng German.

Âm tắc môingạc mềm (labiovelar) QU và GU được mượn từ chính tả tiếng Ý và tiếng Latin.

Trong số những âm tiền ngạc (prepalatal), âm tắc vô thanh CH được lấy từ chữ viết Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, những chữ viết mượn tổ hợp đó từ chữ viết tiếng Pháp cổ, nơi nó được tạo ra để ghi một âm mới không có trong tiếng Latin.

Âm tắc hữu thanh D được dùng như một ký hiệu gần đúng để ghi một âm không có trong các ngôn ngữ châu Âu, nơi D là một âm hữu thanh tương ứng của T. Trong tiếng Việt, một chữ cái mới, Đ, được tạo ra [để ghi một âm tắc lợi-tiền thanh hầu hóa (preglottalized alveolar stop): /ɗ/], với nét ngang gợi lên một sự tương tự với chữ cái T.

Âm xáthữu thanh được viết là GI, như trong chữ Bồ Đào Nha và chữ Pháp (bấy giờ J vẫn chưa được sử dụng ở châu Âu).

Âm xát vô thanh X được mượn từ tiếng Bồ Đào Nha và các phương ngữ Bắc của tiếng Tây Ban Nha: trong các ngôn ngữ này, S được phát âm ở sau miệng [IPA: âm quặt lưỡi /ʂ/] như trong tiếng Việt, trong khi ở các ngôn ngữ châu Âu khác, S chỉ là một âm xuýt lợi(anterior sibilant) như trong tiếng Pháp [IPA: âm lợi /s/].

NH [ghi âm mũi ngạc cứng /ɲ/] được mượn từ tiếng Bồ Đào Nha; TR là một kí tự tương ứng ghi một âm không tìm thấy trong các tiếng châu Âu [IPA: /ʈ/].

Ô, Ê được mượn từ tiếng Bồ Đào Nha và đó là lí do tại sao cặp Ê, E không có được giá trị ngữ âm như trong tiếng Pháp. [Trong tiếng Pháp, Ê dùng cho /ɛ/, E dùng cho /e/, nhưng trong chữ Quốc Ngữ tình hình lại ngược lại, Ê dùng cho /e/ và E dùng cho /ɛ/.]

Y được dùng trong chữ Quốc Ngữ giống như được tìm thấy trong tiếng Tây Ban Nha, nơi nó thay I khi đi giữa các nguyên âm hoặc ở cuối các từ. Chữ cái Y bắt nguồn từ bảng chữ cái Hy Lạp (upsilon, v).

Ơ và Ư được tạo ra để ghi các nguyên âm tiếng Việt không có âm tương đương trong các ngôn ngữ châu Âu [IPA: /ɤ/, /ɯ/].

GIỚI THIỆU

Hệ thống chữ viết “alphabet” dùng để ghi lại phát âm của các từ. Trên lí thuyết, mỗi chữ cái ghi một âm [một âm vị], tức một chữ cái đã cho luôn luôn ghi một và chỉ một âm; và một âm đã cho chỉ được ghi bởi một và chỉ một chữ cái. Điều lí tưởng này không được tìm thấy trong một bộ chữ “alphabet” nào của các ngôn ngữ có lịch sử và truyền thống văn chương lâu đời. Bởi vì theo thời gian, hệ thống chữ viết của chúng giữ nguyên trong khi cách phát âm thì thay đổi. Các văn bản viết được truyền từ thế hệ người nói này tới thế hệ khác mà không có sự thay đổi (hoặc thay đổi rất ít, dẫn đến “lạc hậu” so với sự thay đổi của ngôn ngữ nói). Vì vậy, mối tương quan giữa các kí hiệu (chữ viết) và các âm (nói) thay đổi theo sự thay đổi của ngôn ngữ nói. Cái tôi gọi là những điểm đặc biệt của một bảng chữ cái bao gồm sự bất tương xứng một đối một giữa các chữ cái với các âm: một và cùng một chữ cái dùng cho nhiều âm, hoặc cùng một âm được ghi bằng nhiều chữ cái khác nhau. Những điểm đặc biệt này bắt nguồn trong tiến trình lịch sử phát âm của ngôn ngữ đang thảo luận.

Khi một ngôn ngữ được ghi lại bằng chữ viết lần đầu tiên, hệ thống chữ viết dùng để ghi lại ngôn ngữ đó thường dựa trên hệ thống chữ viết của một ngôn ngữ khác và hệ thống chữ viết mới kế thừa những điểm đặc biệt từ hệ thống chữ viết nó dựa vào. Như vậy, do được xây dựng dựa trên hệ thống chính tả của một số ngôn ngữ Roman mà chữ Quốc ngữ của tiếng Việt cũng thừa hưởng những điểm đặc biệt [có trong cácchữ viết này], có thể được giải thích căn cứ trên diễn tiến phát âm của tiếng Latin ở châu Âu. Vào thế kỉ thứ III trước CN, như chúng ta đều biết, tiếng Latin chỉ được nói ở thành Rome, rồi lan rộng ra khắp châu Âu vào thời kỳ đế chế Roman cho tới thế kỷ thứ V sau CN, trừ một ít vùng không nói tiếng Latin, ví dụ như một vùng nhỏ phía Tây Pyrénées, nơi tiếng Basque vẫn được lưu giữ. Về sau những biến thể tiếng Latin nói ở các vùng khác nhau thay đổi theo những cách khác nhau: tiếng Latin vùng Florence trở thành tiếng Ý, tiếng Latin vùng Paris trở thành tiếng Pháp và tiếng Latin vùng Burgos trở thành tiếng Tây Ban Nha. Tuy nhiên, trên toàn cõi Roman tiếng Latin cổ tiếp tục được dùng như là ngôn ngữ của tôn giáo và khoa học, cho dù cách phát âm nguyên gốc chính xác của nó đã thay đổi. Cho tới nay, tiếng Latin cổ vẫn là ngôn ngữ của Giáo hội Công giáo Roman và các nhà nghiên cứu lịch sử tự nhiên nói đến các cây trồng và vật nuôi bằng các tên Latin. Các ngôn ngữ như tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha ngày nay được gọi là “các ngôn ngữ Latin”, “các ngôn ngữ Latin Mới” hay “các ngôn ngữ Roman”. Bảng chữ cái tiếng Latin được dùng cho các ngôn ngữ khác của châu Âu (tiếng Celtic, các tiếng German và các tiếng Slav) bởi các học giả biết cách phiên âm Latin các từ tiếng Hy Lạp (tiếng Hy Lạp là ngôn ngữ văn hóa của thời kì Tiền Trung Cổ (Antiquity)).

Trong bài báo này, tôi sẽ chỉ ra những điểm đặc biệt mà bảng chữ cái tiếng Việt [hiện nay gọi là Quốc ngữ] đã thừa hưởng từ các ngôn ngữ Roman; vì sao nó khác với bảng chữ cái tiếng Pháp mặc dù tiếng Pháp cũng là một ngôn ngữ Roman; và hai bảng chữ cái tiếng Việt và tiếng Pháp khác với các bảng phiên âm của các nhà ngôn ngữ học như thế nào.

Trật tự sắp xếp các chữ cái trong một hệ thống chữ viết có một lịch sử lâu đời. Chúng ta biết rằng bảng chữ cái “alphabet” là phát minh của người Phoenicia (Tây-Bắc Palestine ngày nay) và từ đây lan đi khắp cộng đồng nói tiếng Hy Lạp. Ở Đông Hy Lạp, người ta đã cải tiến nó để cho ra đời bảng chữ cái tiếng Hy Lạp như ngày nay. Ở Tây Hy Lạp nó chuyểnsang một dạng thức hơi khác và lan truyền tới Ý, nơi người ta đã cải tiến nó để cho ra đời bảng chữ cái Latin (Roman). Thứ tự các chữ cái ngày nay trong bảng chữ cái Roman, chẳng hạn - thứ tự mà chúng ta dùng trong từ điển - là giống với thứ tự trong bảng chữ cái tiếng Hy Lạp và tiếng Hebrew (ngôn ngữ của các cư dân sống ở khu vực Palestine cổ). Nólà một thứ tự truyền thống đơn thuần màta không thể giải thích hay chứng minh. Thứ tự này khác hẳn với thứ tự trong bảng chữ cái tiếng Hindu cổ, được sắp xếp một cách khoa học, phân chia các phụ âm và nguyên âm, và phân loại các phụ âm theo vị trí cấu âm của chúng, bắt đầu từ vị trí sâu trong miệng sau tiến dần ra đến môi.

[Các phụ âm sẽ được trình bày đầu tiên (mục 1 của phần I) sau đến nguyên âm (mục 2); phần II sẽ bao gồm một số ghi chép về thanh điệu.]

Phần I: Các phụ âm và nguyên âm

Bảng chữ cái tiếng Hy Lạp và tiếng Latin được thiết lập rất tốt theo phát âm của tiếng Hy Lạp và tiếng Latin. Mỗi chữ cái ghi một âm.

1. Phụ âm

Tiếng Latin gồm hai loạt phụ âm tắc (phụ âm khi phát ra bị cản trở hoàn toàn tại một vị trí nào đó trong miệng) loạt hữu thanh (tức dây thanh rung), /b/, /d/, /g/, viết là B, D, G, và loạt vô thanh (tức dây thanh không rung), /p/, /t/, /k/, viết là P, T, C, Q. Hệ thống hai loạt phụ âm này vẫn còn tìm thấy trong tiếng Pháp. Trái lại, trong tiếng Hy Lạp cổ đại có tới 3 loạt phụ âm tắc: loạt hữu thanh (/b/, /d/, /g/, viết là Β, Δ, Γ), loạt vô thanh, không bật hơi (/p/, /t/, /k/, viết là Π, Τ, Κ), và loạt vô thanh bật hơi (/pʰ/, /tʰ/, /kʰ/, viết là Φ, Θ, Χ). Giới trí thức Latin ghi lại loạt phụ âm thứ ba này bằng cách thêm chữ H vào sau phụ âm tắc tạo thành các tổ hợp PH, TH, KH. Nhưngtrước khi thời kì Tiền Trung Cổ kết thúc, cách phát âm tiếng Hy Lạp biến đổi: tất cả các phụ âm tắc đều bị xát hóa, tức thay vì bị ngăn trở toàn bộ, luồng hơi vẫn thoát ra được từ một kẽ hở nào đó trên đường đi. Do vậy, khi bảng chữ cái Roman được dùng để phiên âm các ngôn ngữ German vào giai đoạn bắt đầu thời kì Trung Cổ, các tổ hợp PH, TH, KH vẫn còn được sử dụng nhưngcác từ chứa chúng bây giờ đã bị xát hóa. Kết quả là PH, TH, KH được các học giả sử dụng với giá trị ngữ âm mới, khác với giá trị của chúng trong tiếng Latin cổ: chúng được dùng để ghi các âm xát. Đây là lí do vì sao cho đến ngày nay, TH được dùng cho âm xát trong tiếng Anh và CH dùng cho âm xát trong tiếng Đức. Trong tiếng Latin PH (/pʰ/) phải được phát âm giống F (như /f/) và TH phải được phát âm giống T (/t/). Chính vì thế mà tiếng Pháp phát âm: /t/ cho TH và /f/ cho PH. Trong tiếng Việt, tình hình tương tự với tiếng Hy Lạp: TH vẫn là một âm tắc bật hơi giống như của tiếng Hy Lạp cổ; PH là một âm xát giống trong tiếng Hy Lạp hiện đại. Trong phiên âm khoa học, các âm xát cần phải được phân biệt một cách thận trọng với các âm tắc bật hơi. Âm xát thường được thể hiện bằng các con chữ Hy Lạp ɸ, Θ, χ cho loạt vô thanh (hai môi: /ɸ/, răng: /Θ/, ngạc mềm: /χ/) và β, δ, γ cho loạt hữu thanh (hai môi: /β/, răng: /δ/, ngạc mềm: /γ/). Các âm tắc bật hơi là ph, th, kh [IPA: /pʰ/, /tʰ/, /kʰ/], một sốtác giả phiên âm chúng là p‘, t‘, k‘, với một dấu móc nhỏ mà phần lõm hướng về bên phải: dấu “thở hắt” (spiritus asper) trong chữ viết tiếng Hy Lạp, được sáng tạo bởi người Hy Lạp thời Alexandria để miêu tả tính chất bật hơi có trong một số biến thể phương ngữ tiếng Hy Lạp (chứ không phải tiếng Hy Lạp vùng Athen), nơi mà chữ H đã được dùng để ghi một nguyên âm [viết hoa là H, viết thường là η]. Để ghi các âm trên, các nhà Anh Điêng học (Indianists) dùng chữ ph, th, bh, dh còn các nhà Hán học thì dùng p‘, t‘, b‘, d‘ để ghi chúng.

Tiếng Latin có bốn loại âm tắc: âm tắc môi (labials) B, P (/b/, /p/), được tạo ra với hai môi chạm nhau; âm tắc đầu lưỡi (apicals) - (dentals-âm răng) T, D (/t/, /d/), được tạo nên với đầu lưỡi (tên Latin là: apex) áp vào chân răng; âm tắc mặt lưỡi (dorsals, cũng gọi là âm vòm - palatals): C, G (/c/, /ɟ/), được tạo ra với gốc lưỡi tiếp xúc với ngạc cứng - vòm miệng (palate). Chữ cái Q ghi một âm tắc vòm mềm (velar stop), được tạo nên bằng gốc lưỡi tiếp xúc với phần ngạc mềm (velum); trong tiếng Latin, âm này luôn bị môi hóa [IPA /kʷ/], tức là khi phát âm phải tròn môi (như trong nguyên âm U [IPA: /u/] của tiếng Việt). Bởi vậy, trong hệ thống chữ viết Latin, Q có thêm chữ cái U theo sau. QU [IPA: /kʷ/] là một âm tắc vô thanh tương liên với âm tắc hữu thanh GU [IPA: /gʷ/]. Sự đối lập này được bảo lưu trong tiếng Rumani, nơi mà từ Latin AQUA “nước” chuyển thành apa trong khi LINGUA “lưỡi” lại chuyển thành limba [tức là, sự đối lập giữa /kʷ/ và /gʷ/ trước đây trong tiếng Latin vẫn còn giữ nét đối lập về tính thanh trong tiếng Rumani, giữa /p/ và /b/]. Trong tiếng Latin, QUI là một âm tiết đơn /kʷi/], trong khi CUI lại là một kết cấu hai âm tiết [IPA: /ku.i/].

Cách phát âm tiếng Latin cổ của cặp đối lập QU và GU chỉ được bảo lưu trong tiếng Ý, và chính từ tiếng Ý mà cách đọc này được mượn để dùng trong chữ viết tiếng Việt [nơi QU viết cho /kʷ/]. Trong tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha các âm môi ngạc mềm (labiovelar) biến thành âm mặt lưỡi (dorsal) (trừ khi đứng trước A). Vì vậy, từ Latin QUAMQUAM được phát âm là CANCAN [IPA: /kɑ͂kɑ͂/, với phụ âm đầu là /k/, chứ không phải /kʷ/] trong các trường học ở Paris thế kỉ XVI.

C, G

Lịch sử của C rất phức tạp. Để bắt đầu, bằng việc so sánh bảng chữ cái tiếng Latin và bảng chữ cái tiếng Hy Lạp, người ta thấy rằng chữ cái thứ ba của bảng chữ cái Hy Lạp là một âm mặt lưỡi hữu thanh (voiced dorsal), Γ (viết thường: γ), chứ không phải âm mặt lưỡi vô thanh (unvoiced dorsal) như trong tiếng Latin (C). Sở dĩ như vậy là vì bảng chữ cái tiếng Latin chịu ảnh hưởng bởi người “hàng xóm” của mình - người Etruscan, người phân biệt các âm tắc bật hơi và không bật hơi [ví dụ: /tʰ/ và /t/] nhưng không phân biệt các âm tắc hữu thanh và tắc vô thanh [ví dụ: /d/ và /t/]. (Người Trung Quốc ở Bắc Kinh và Quảng Đông cũng vậy). Vì vậy, người Etruscan đã dùng chữ cái thứ ba của bảng chữ cái để ghi một âm mặt lưỡi vô thanh.Người Latin, trái lại, có sự phân biệt giữa âm tắc vô thanh và hữu thanh nên việc dùng cùng một chữ cái cho cả hai loại âm tắc này là không hợp lí. Vì vậy, họ đã thêm một dấu ngang để phân biệt chữ G với chữ C. C vẫn ở vị trí thứ ba trong bảng chữ cái, trong khi G rơi xuống vị trí ban đầu thuộc về Z [viết thường: ξ] trong bảng chữ cái tiếng Hy Lạp, kí tự mà lúc bấy giờ không được dùng trong tiếng Latin. (Hai chữ cái tiếng Hy Lạp là Y và Z nằm ở những vị trí cuối cùng trong bảng chữ cái tiếng Latin, bởi vì, như chúng ta sẽ thấy ở dưới, mãi về sau chúng mới được vay mượn).

Trong tiếng Latin, C có cùng một cách phát âm trong âm tiết CE cũng như trong âm tiết CO. Điều này vẫn còn được bảo lưu trong các ngôn ngữ Celtic của các đảo nhỏ thuộc Anh (Ai-len và xứ Wale), những ngôn ngữ không phải Roman (non-Romance) đầu tiên vay mượn bảng chữ cái Latin. Nhưng, trong tiếng Latin, từ thế kỉ thứ IV trở đi, khi phụ âm mặt lưỡi đi trước các nguyên âm E, I (/e/, /i/) - những âm đòi hỏi vị trí trước của lưỡi, nó trở thành một phụ âm tiền ngạc (prepalatal), trong khi phát âm nó phần trước và sau của lưỡi đều đồng thời tiếp xúc với phần trước ngạc. Những phụ âm như thế có mặt trong hệ thống âm vị các ngôn ngữ Đông Dương trong một thời gian rất dàivà giữ vị trí vững chắc trong các ngôn ngữ này. Trái lại, ở châu Âu, những âm mới này rất khó thẩm âm và điều nổi bật dễ nhận ra là khi phát âm chúng, lưỡi phải có hình dạng giống như một cái “máng”(channel-like form): nếu như “máng” nghiêng về phía cuống lưỡi, ta được âm xuýt sau (non-anterior sibilant stop)[4] [kí hiệu IPA ngày nay là /ʧ/, một âm tắc xát-lợi], như CI, CE trong tiếng Ý; nếu máng nghiêng về phía đầu lưỡi, ta được âm tắcxuýt trước (anterior sibilant stop) [IPA: /ʦ/, âm tắc xát-lợi (alveolar affricate)]: đây là cách CI, CE được phát âm trong tiếng Pháp cổ và tiếng Tây Ban Nha cổ. Âm sau cùng này hiện còn tìm thấy trong tiếng Bắc Kinh và tiếng Quảng Đông, song không có ở Đông Dương.

Trong khi đó, các phụ âm trong các âm tiết tiếng Latin như TIA, TIO đã trở thành những âm tắcxuýt trước [tức là âm xát /ʦ/] trong tiếng Ý cũng như các ngôn ngữ Roman khác. Chữ Z của tiếng Hy Lạp được vay mượn để ghi âm tắcxuýt trước hữu thanh [tức âm /ʣ/]. Trong tiếng Ý, Z biểu thị cho cả âm hữu thanh lẫn vô thanh [tức cả /ʣ/ and /ʦ/].

K, KH, GH

Khi bảng chữ cái Latin được dùng để ghi các ngôn ngữ Germanic (vào thế kỉ thứ VII), sau đó là các ngôn ngữ Slav, những ngôn ngữ có các âm tắc này, Z và C được sử dụng. Người ta đã phải mượn chữ cái K của tiếng Hy Lạp (kí tự trong bảng chữ cái tiếng Latin vẫn giữ nguyên vị trí gốc như trong bảng chữ cái tiếng Hy Lạp) để biểu thị âm tắc-mặt lưỡi (dorsal stop).

Điều này giải thích cho chính tả chữ Quốc ngữ, trong đó người ta viết CA, CÔ, CU [cho /ka/, /ko/, /ku/] nhưng KÊ, KI [cho /ke/, /ki/].Trong tiếng Việt, QU không thể sử dụng theo cách mà nó được sử dụng trong tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha [tức cho /k/] vì QU đã được dùng để biểu thị một âm khác của tiếng Việt [IPA /kʷ/]; âm /k/ tiếng Việt cũng không thể được viết là CH (như nó được dùng trong tiếng Ý) vì CH đã được dùng để biểu thị âm tắcvô thanhtiền ngạc, như ta sẽ thấy dưới đây.  Điều này cũng loại bỏ việc dùng CH như một kí hiệu cho âm tắc bật hơi [IPA: /kʰ/]. Từ đó dẫn tới việc sử dụng KH để biểu thị âm tắc bật hơi này [IPA: /kʰ/], trước mọi nguyên âm. Tính mặt lưỡi hữu thanh cũng tạo ra một vấn đề tương tự: GA, GÔ, GU [cho các âm tiếng Việt /ɣa/, /ɣo/, /ɣu/], nhưng GHÊ và GHI [cho các âm /ge/ và /gi/, hiện nay là /ɣe/ và /ɣi/] chứ không phải là GÊ và GI; người ta cũng không thể dùng tổ hợp GUÊ và GUI, vốn được dùng trong trường hợpphụ âm đầu là một âm môi ngạc mềm, như cách ghi trong tiếng Ý, vì thế phải viết là GHÊ, GHI.

Trong ghi âm khoa học thì kí hiệu k vẫn thường được dùng cho âm tắcmặt lưỡivô thanh (unvoiced dorsal stop), và g được dùng cho âm tắcmặt lưỡivang (sonorant dorsal top).

CH

Trong các ngôn ngữ Tây Roman xuất hiện một âm tắc tiền ngạc (prepalatal stop) mới và sau đó chuyển thành một âm tắc xuýt sau (non-anterior sibilant stop) [IPA: âm xát sau lợi (postalveolar affricate), /ʧ/]. Trong tiếng Pháp, nó bắt nguồn từ âm tiết CA của tiếng Latin: ví dụ, calidum “nóng” thành chaud (tiếng Pháp), caballum “ngựa” thành cheval (tiếng Pháp). Âm tắc xuýt sau [IPA: âm xát sau lợi (postalveolar affricate), /ʧ/] được viết là CH, trong đó chức năng của H chỉ là báo hiệu rằng âm C này được phát âm khác với C trong CO và CE. Trong thời kì Charle Đại đế (Charlemagne) - thế kỉ thứ VIII, âm này vẫn là một âm tắc tiền ngạc (prepalatal stop); trong tiếng Pháp cổ (thế kỉ thứ IX), nó đã biến thành một âm tắc xuýt sau [IPA: /ʧ/] - một nét được bảo lưu trong tiếng Anh. Trong tiếng Bồ Đào Nha, nó lại bắt nguồn từ tổ hợp phụ âm đầu PL, CL; còn trong tiếng Tây Ban Nha, nó bắt nguồn từ tổ hợp CT nằm giữa từ (word-medial), ví dụ: tiếng Latin là noctem “đêm” ban đầu chuyển thành noite, như đang còn giữ trong tiếng Bồ Đào Nha, sau chuyển thành noche. Trong tiếng Basque, âm tắc tiền ngạc này vẫn còn tồn tại, ví dụ trong từ éche“ngôi nhà”.

Vận dụng tình hình đó trong các ngôn ngữ mà họ quen thuộc, thật dễ hiểu là những người sáng tạo ra chữ Quốc ngữ ghi âm tắc tiền ngạc trong tiếng Việt bằng CH.

Kí hiệu khoa học của âm tắc ngạc (palatal stop), một âm ít gặp ở châu Âu, chưa thực sự thống nhất [IPA chuẩn hiện nay: /c/]; đôi khi nó được kí hiệu là kˈ hoặc tˈ trong đó dấu ˈ chỉ tính chất mềm hóa, một hiện tượng được đề cập đến trong tiếng Pháp là mouillure, nghĩa đen là ‘làm ướt’, vì khi phát âm âm này vị trí nằm ngang của mặt dưới lưỡi chạm vào ‘làm ướt’ ngạc. Kí hiệu này được mượn từ một ngôn ngữ Slav, tiếng Séc, và nó quen thuộc với công chúng châu Âu qua thương hiệu giầy Batˈa nổi tiếng. Các nhà ngữ âm học Anh và Trung Quốc phản đối cách thêm dấu phụ ở bên cạnh chữ cái và họ thêm một dấu lượn ở bên dưới con chữ. Các nhà Anh Điêng học ghi nó bằng C. Thực ra, âm tắc tiền ngạc này của tiếng Sanskrit chỉ đượclưu giữ ở Đông Dương, trong việc vay mượn chữ Sanskrit để ghi âm tiếng Khmer và tiếng Lào. Ở Ấn Độ, âm này đã chuyển thành một âm tắc xuýt sau [IPA: âm xát sau lợi (postalveolar affricate), /ʧ/]. Với những âm tắc xuýt (sibilant stop), các kí hiệu được dùng phổ biến trong tiếng Séc: C dùng cho âm tắc xuýt trước [tức /ʦ/], Č cho âm tắc non-anterior [tức /ʧ/] (vì vậy “Czech” được ghi là česky). Kí hiệu Č là một cách viết tắt của CZ, một tổ hợp vẫn còn được sử dụng trong tiếng Ba Lan. Tiếng Séc không có âm tắc xuýt trước hữu thanh (voiced anterior sibilant stop) nào, và Z được sử dụng để ghi một âm xát hữu thanh [tức âm xát /z/] như trong tiếng Pháp.

Tiếng Pháp cổ có những âm tắc như thế [IPA: tắc xát (affricate)]; vào thế kỉ thứ XIII chúng yếu dần thành những âm xát (sprirant). Âm tắcxuýt trước trở thành âm xát xuýtanterior. Kể từ đó, CE và CI được phát âm giống như SE và SI. Đồng thời, âm hữu thanh tương ứng biến thành âm hữu thanh tương ứng với /s/, tức /z/. Âm tắc xuýt sau[tức âm tắc xát /ʧ/] biến thành một âm xátnon-anterior: trong tiếng Pháp, CH không còn phát âm giống CH trong tiếng Anh [tức /ʧ/] nữa, mà phát âm giống SH trong tiếng Anh [tức /ʃ/]. Một âm đầu từ I của tiếng Latin theo sau bởi một nguyên âm cũng theo cách trên mà chuyển thành một âm tắcngạchữu thanh (voiced palatal stop) (giống như G trong GE, GI /ge/, /gi/), sau đó lại chuyển thành một âm tắc non-anterior hữu thanh (voiced non-anterior sibilant stop) [IPA /ʤ/] (âm đầu từ J, nguyên gốc trong tiếng Latin là I, vẫn có giá trị này trong tiếng Anh), và cuối cùng, vào thế kỉ thứ XIII chuyển thành một âm xátnon-anterior hữu thanh (voiced non-anterior spirant) như trong tiếng Pháp [IPA: /ʒ/].

GI, D, Đ

Kí hiệu của âm xát (/ʒ/) nói đến ở trên, như J trong tiếng Pháp, chỉ xuất hiện từ thế kỉ thứ XVII. Trước đó, J chỉ đơn giản là hình thức mà I biểu thị khi nằm ở vị trí đầu từ. Vì thế người ta từng viết jnde (trong tiếng Pháp hiện nay là Inde “Ấn Độ”), jure (hiện nay là ivre, “nói”), jean (cho danh từ riêng vẫn viết như Jeanngày nay; tương đương với “John” trong tiếng Anh).v.v. Trong tiếng Ý, tổ hợp GI từng được sử dụng trong tất cả các trường hợp mà âm tương ứng với nó là một phụ âm, ví dụ: Giovannis “John”. Như vậy, vào thế kỉ thứ XVII, khi một hệ thống chữ viết Roman được áp dụng cho tiếng Việt, J không tồn tại như một chữ cái riêng đối lập với I; cho nên ta có thể dễ dàng hiểu được vì sao GI sau đó được dùng để ghi âm xát hữu thanh tiền ngạc (/ʒ/). Khi nó trở thành kí hiệu ghi âm tắc tiền ngạc hữu thanh (voiced prepalatal stop)[5], mà người châu Âu nghe tựa như một âm ngạc hóa /d/ thì một chữ cái D đơn giản được dùng, không có thêm dấu phụ. Trong tiếng Việt cũng có một âm tắc răng [và tiền thanh hầu hóa - preglottalized] hữu thanh [IPA: âm khép hữu thanh (voiced implosive) /ɗ/] nên để ghi âm nó, những người sáng chế ra bộ chữ cái tiếng Việt đã nghĩ ra một chữ cái mới, Đ, bằng cách thêm vào chữ D một dấu ngang tương tự như cái trong chữ T, vốn là âm đối lập tính thanh với Đ.

S, TR

Âm tắcxuýt trước (anterior sibilant stop) của tiếng Tây Ban Nha cổ, được viết là C và Z khi phát âm nhẹ đi, nhưng không trở nên bị lẫn lộn với S giống như trong tiếng Pháp. Nó đã trở thành một âm xát răng (dental spirant) giống như TH trong tiếng Anh [IPA: /θ/]. Vì thế, khi phát âm nó lưỡi sẽ nhích ra trước hơn so với âm S tiếng Pháp. Ở một số vùng (đặc biệt là vùng Soule Basque), Z tương ứng với S tiếng Pháp: nó là một âm xát răng [IPA: /s/], trong khi S được phát âm lùi về sau hơn trong miệng và trở thành một âm xát quặt lưỡi (cacuminal/retroflex spirant) [IPA: /ʂ/]. “Cacuminal” có nghĩa là nó được phát âm ở đầu – tiếng Latin cacumen - vòm miệng, nó cũng có thể được gọi “quặt”, nghĩa là lưỡi quặt về sau. Tiếng Việt có một âm xát quặt lưỡi, nó được ghi bằng chỉ một chữ S đơn giản vì có sự tương đồng với âm S vừa nhắc đến ở trên, trong khi âm tắc tương ứng [IPA: /ʈ/] được ghi bằng kết hợp TR. Những phụ âm này hiếm gặp trong các ngôn ngữ châu Âu và người châu Âu thường nhầm chúng với những phụ âm xuýt sau (non-anterior sibilant). Chẳng hạn, tiếng Trung có một phụ âm được phiên âm là TCH trong hệ thống Latin hóa của EFEO (Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp), CH trong hệ thống Wade-Giles. Những kí tự này xuất hiện gợi ý rằng đây là một phụ âm tắcxuýt sau [IPA: /ʧ/], được phát âm với cuống lưỡi đồng thời chu môi ra trước, trong khi thực ra nó chỉ là một âm quặt lưỡi [IPA: /tʂ/], được phát âm với đầu lưỡi uốn cong lên chạm ngạc cứng. Những phụ âm như thế [IPA: âm quặt lưỡi (retroflex)] rất hay gặp ở Ấn Độ; các nhà Anh Điêng học phiên âm chúng bằng cách thêm một dấu chấm ở dưới: ṣ ṭ ḍ. Còn các nhà ngữ âm học Anh và Trung Quốclại thêm một dấu móc hướng về sau vào dưới chữ cái: ʂ ʈ ɖ [điều này đã trở thành chuẩn của IPA]. Những âm này hiếm gặp ở Đông Dương: ở đồng bằng Bắc bộ, chúng đã chuyển thành những phụ âm tiềnngạc (prepalatals).

X

Trong tiếng Latin, chữ cái X được dùng để ghi 2 âm: nó là chữ viết tắt cho CS. Trong các ngôn ngữ Roman, nhóm phụ âm này biến đổi theo cách giống nhóm CT: nó chuyển thành IS (vd: tiếng Latincoxa, tiếng Pháp cuisse [/kɥis/] “đùi”). Tuy nhiên vào thời Trung Cổ, xảy ra một thói quen chính tả liên kết các tổ hợp US và IS thành một kí hiệu đơn, kí hiệu phần nào nhìn qua giống với chữ X của tiếng Latin; thêm vào đó, từ có tổ hợp IS trong tiếng Pháp thường tương ứng với những từ có chữ X trong tiếng Latin; vì vậy, X trở nên được sử dụng thay thế cho S sau U hoặc I. Đó là lí do tại sao tiếng Pháp phát âm soixante ‘sáu mươi’ y như soissante [IPA: /swasɑ̃t/], Auxerre (tên một địa danh) y như Ausserre [IPA: /osɛʁ/], và Bruxelles (Brussels) y như Brusselles [IPA: /bʁysɛl/]; điều này cũng giải thích tại sao số nhiều của cheval‘ngựa’ là chevaux, số nhiều của genou ‘đầu gối’ là genoux. Đây đơn giản là một thói quen chính tả. Nhưng khi các từ được vay mượn từ tiếng Hy Lạp vào tiếng Pháp vào thế kỷ thứ XVI, chữ cái X lại được phát âm như KS, GZ [IPA: /ks/, /gz/].

Chúng ta đã thấy rằng trong tiếng Tây Ban Nha, tổ hợp IT đã biến đổi thành một âm tắctiền ngạc và điều tương tự cũng xảy ra với tổ hợp IS, được viết là X. Vì vậy, trong tiếng Tây Ban Nha cổ, X đại diện cho một âm xát tiềnngạc; song nó được người Pháp nghe như một âm xuýt sau(non-anterior sibilant): Don Quixotevà Ximena được người Pháp viết là Don Quichotte và Chimène [cả hai đều được phát âm với một /ʃ/]. Nhưng, tên của nhà truyền giáo nổi tiếng Xavier (một tên theo tiếng Tây Ban Nha xứ Basque, tương đương với tiếng Pháp vùng Basque là echeverry, ‘nhà mới’) lại được xem như một từ đã biết và được phát âm là Gzavié [IPA: /gzavje/].

Những dữ liệu này giải thích vì sao âm xát tiền ngạc (prepalatal spiral) trong tiếng Việt được ghi là X.

Kí hiệu của âm xát này trong bảng IPA là ç (chữ cái c với dấu móc câu nhỏ bên dưới), nhưng nếu nó được phát âm gần giống với một âm xuýt (trước, như trong tiếng Việt, hoặc không phải trước), thì dấu phụ biểu thị sự ngạc hóa được thêm vào phụ âm xuýt tương ứng (như được dùng trong tiếng Ba Lan: s’, c’). Những âm xát xuýt hàng trước luôn được ghi là S, Z [IPA: /s/, /z/]. (…)[6] Theo các nhà ngữ âm học Anhvà Trung Quốc, các âm tắc xuýt cần được ghi bằng hai kí hiệu, theo thứ tự tắc + xát: /ts/, /dz/ cho những âm xuýt trước lưỡi(anterior sibilants) và /ʧ/, /ʤ/ cho những âm xuýt sau (non-anterior sibilants). (…) Các âm tắc uốn lưỡi trong tiếng Việt và tiếng Hán đều được ghi là ṭṣ, ḍẓ hay ʈʂ, ɖʐ. Những âm tắc được các nhà ngữ âm học ghi với hai chữ cái được coi là bị tắcxát hóa (affricatived).

N, NH, NG

Các âm mũi (âm tắc hữu thanh với vòm mềm hạ thấp, khiến luồng khí từ phổi thoát ra một phần theo mũi) N, M có giá trị như nhau trong tất cả các ngôn ngữ. Nhưng trong tiếng Pháp, khi N, M ở vị trí cuối của một âm tiết, chúng không còn được phát âm như thế nữa: thay vào đó nguyên âm bị mũi hóa (vòm mềm hạ thấp trong khi phát âm nguyên âm). Trong tiếng Bồ Đào Nha, hiện tượng tương tự cũng xảy ra, nhưng N được viết thành dấu   ̃, viết trên đầu nguyên âm. Các nhà ngôn ngữ học sau này dùng kí hiệu này để chỉ các nguyên âm mũi, ví dụ /ɑ̃/. Trong tiếng Tây Ban Nha, chữ N kép (hai chữ N) viết thêm dấu   ̃, tức ñ; sau này chữ N kép này chuyển thành một âm mũitiền ngạc (prepalatal nasal); các nhà Anh Điêng học (Indianists)[7] đã mượn kí hiệu ñ này cho âm mũi-tiền ngạc. Trong tiếng Pháp và tiếng Ý, âm mũi-tiền ngạc bắt nguồn từ tổ hợp phụ âm GN của tiếng Latin; quy tắc chính tả này được bảo lưu trong tiếng Pháp và tiếng Ý, trong khi, trong phương ngữ Provençal và Gascon của tiếng Bồ Đào Nha, âm này được ghi là NH vì sự tương đồng với âm tắc tương ứng, CH. Cách viết NH này đã được vay mượn cho chính tả tiếng Việt. Các nhà ngữ âm học Anh ngữ và Hán ngữ học kéo dài và uốn cong nét đầu của N thành một nét cong: /ɲ/.

Cuối cùng, trong các ngôn ngữ Roman âm mũi mặt lưỡi (dorsal nasal) chỉ thỉnh thoảng mới gặp, khi N đi trước C hay G; âm này chỉ xuất hiện ở cuối từ trong tiếng Anh và tiếng Đức, và được viết là NG. Vì vậy thật tự nhiên để ghi âm này là NG trong tiếng Việt. Các nhà ngữ âm học Anh và Trung Quốckết hợp 2 kí tự này bằng cách kéo dài nét thứ hai của n như với chữ g, vì thế có: ŋ. Các nhà Anh Điêng học ghi âm này với một dấu chấm trên đỉnh n, tức ṅ.

V

Giờ chúng ta tìm hiểu nguồn gốc của V. Trong tiếng Latin, V và U không phân biệt nhau: V là kí tự dùng để ghi nguyên âm môi-ngạc mềm (labiovelar), còn U chỉ là dạng viết thảo của V. Khi theo sau U là một nguyên âm, nó trở thành một phụ âm môingạc mềm [IPA: /w/], rồi một phụ âm môirăng (tương ứng hữu thanh với F [IPA: /v/, đối lập với /f/]); sự biến đổi này xảy ra vào khoảng thế kỉ thứ VI sau Công nguyên. Trong khi đó không có sự thay đổi chính tả nào xảy ra cho đến tận thế kỉ thứ XVII, nên hai âm khác nhau này được viết như nhau. Chữ cái V được dùng ở vị trí đầu từ, khi nó biểu thị một nguyên âm (giống như trong vn “một” [trong tiếng Pháp hiện nay được viết là un]) cũng như khi nó biểu thị một phụ âm (như trong vent“gió” [vẫn được viết là vent trong tiếng Pháp hiện nay]). Ở vị trí giữa từ, U được dùng, như trong chanure “sợi gai dầu” [trong tiếng Pháp hiện giờ là chanvre] hay mur [tiếng Pháp hiện nay: mur]. Tuy nhiên, trong các ngôn ngữ khác, một kí tự khác được dùng sớm hơn thế kỉ thứ XVII: vì phụ âm môi ngạc mềm này đã chuyển thành một âm môirăng trong các ngôn ngữ Roman vào thế kỉ thứ VI, nên các học giả nói tiếng Roman, những người đã chế tác hệ thống chính tả cho các ngôn ngữ German, đã sáng tạo ra một kí tự mới cho phụ âm môingạc mềm mà họ bắt gặp trong các ngôn ngữ này: một chữ cái “double U” (trong tiếng Anh vẫn gọi như vậy), chữ cái đưa đến hình dạng ngày nay là W (được gọi là “double V” trong tiếng Pháp). Các phương ngữ của tiếng Anh và tiếng Pháp miền Bắc (Picard, Wallon) ngày này vẫn giữ một âm môingạc mềm này, bởi vậy cách phát âm từ Wallon [/walɔ̃/, chứ không phải /valɔ̃/]. Trong khi đó, trong tiếng Đức, Hà Lan và Ba Lan, W được dùng để ghi một âm môirăng (vì vậy mà phụ âm đầu Wagram, Würtenberg được phát âm như một âm môirăng [/v/]). Các nhà ngôn ngữ học phân biệt V môi-răng với W môingạc mềm.

H

Điểm cuối cùng cần chú ý về phụ âm, chúng ta biết rằng trong tiếng Pháp có một phụ âm có chữ viết nhưng không được phát âm: đó là âm “H bật hơi” (aspirated H) nhằm tránh việc đọc nuốt quán từ [vì vậy phải viết là la hache, le hibou “cái rìu”, “con cú” chứ không ghi là l’hache, l’hibou], song nó không còn được phát âm nữa, ngoại trừ ở một số khu vực (như Lorraine hay Normandie). Trái lại, tiếng Việt có một phụ âm được phát âm nhưng lại không có chữ viết: âm tắc thanh hầu (đột ngột mở thanh quản) đứng đầu các từ bắt đầu bằng nguyên âm. Trong phiên âm khoa học, âm này được ghi bằng một kí tự gọi là “spiritus lenis” của hệ thống chữ viết Hy Lạp, một dấu móc câu với phần lõm uốn về sau: ˁ.

Các nhà ngữ âm học Anh và Trung Quốc dùng dấu nghi vấn để ghi phụ âm này:? [IPA hiện thời: ʔ]

2. Nguyên âm

A, E, I, O, U

Tiếng Latin có 5 nguyên âm:

(i) A: một nguyên âm mở (tức với khoảng cách lớn nhất giữa lưỡi và vòm miệng)

(ii) và (iii): hai nguyên âm khép cực đại (maximally closed). I, một nguyên âm tiền ngạc (prepalatal), miêu tả chính xác hơn là một nguyên âm trước (anterior vowel), căn cứ vào vị trí lưỡi; I không phải là âm tròn môi, tức khi phát âm môi không mở rộng. U, một nguyên âm ngạc mềm, chính xác hơn là một nguyên âm sau (posterior vowel) (xét theo vị trí lưỡi) và là một âm tròn môi: môi chúm lại và tròn.

(iv) và (v): hai nguyên âm trung bình (nửa mở): E nằm giữa I và A; O nằm giữa U và A.

U, vào khoảng thế kỉ thứ 10, thay đổi giá trị ngữ âm trong tiếng Pháp cổ, trở thành một nguyên âm trước, tròn môi [IPA: /y/]. Phiên âm khoa học của nguyên âm tiếng Pháp này là ü (còn ö thì được dùng để kí hiệu cho nguyên âm nằm giữa ü và A); Phiên âm này bắt nguồn từ tiếng Đức, nơi xuất hiện dấu hai chấm (Tréma, hay Umlaut trong tiếng Đức) dùng cho E rút gọn: ü cho ue và ö cho oe. Trong khi đó, các nhà ngữ âm học Anh thích dùng cách phiên âm Y của Scandinavia hơn.

Y

Trong tiếng Hy Lạp cổ, nguyên âm khép dòng sau tròn môi [IPA: /u/], được ghi là Y, đã chuyển thành một phụ âm trước tròn môi (anterior rounded consonant). Các học giả Latin đã mượn chữ cái Y của Hy Lạp để kí hiệu cho nguyên âm này, hiện không còn trong tiếng Latin. Trong tiếng Hy Lạp, nguyên âm này sau đó bị lẫn lộn với I, và cả trong tiếng Latin nó trở nên được phát âm như I. Do đó mà người Pháp ngày này vẫn gọi chữ cái Y bằng cái tên “I Hy Lạp” (Greek I). Về vai trò của nó trong bảng chữ cái tiếng Việt: trong tiếng Pháp, Y thường được dùng để kí hiệu âm xát tiền ngạc hữu thanh (voiced prepalatal spirant) và liên hệ giữa Y với I giống như liên hệ giữa W với U; đây là cách ghi mà các nhà Anh Điêng học [và Phi-châu học] sử dụng. Song, các nhà ngữ âm học Anh lại ưa dung j để kí hiệu cho âm này hơn. [cách ghi là /j/ nay đã trở thành cách ghi chuẩn trong IPA].

Tiếng Latin phân biệt các nguyên âm ngắn và nguyên âm dài. Các kí hiệu là: a cho nguyên âm dài, ă cho nguyên âm ngắn; Kí hiệu thứ hai đã được dùng trong tiếng Việt. Các nhà Anh Điêng học thì chỉ ghi nguyên âm dài mà bỏ sót các nguyên âm ngắn. Các nhà ngữ âm học Anh và Trung Quốc thì biểu thị độ dài của các nguyên âm bằng dấu hai chấm viết sau nguyên âm hoặc viết kép “double” nguyên âm: a: hoặc aa. [IPA: /aː/]

Ê, Ô, Â

Trong các ngôn ngữ Roman, các nguyên âm dài xuất hiện khi hai nguyên âm đi cùng nhau; chúng được ghi tắt bằng cách chỉ ghi một nguyên âm đồng thời thêm dấu mũ ^ vào bên trên nó, ví dụ: trong tiếng Pháp aage được viết là âge, meur viết là mûr. (Trong tiếng Pháp, ^ thường thể hiện một âm vốn là s trước đây, ví dụ:fête “lễ mừng” có hình thức trước đây là feste, pâte “hồ dán” là từ paste.) Tình hình tương tự cũng xảy ra trong tiếng Bồ Đào Nha, khi oo viết thành ôee[8] viết thành ê. Trong tiếng Bồ Đào Nha, các nguyên âm mới có cách phát âm khép nhiều hơn: ô nằm ở vị trí trung gian giữa và u, và ê nằm giữa e và i. Đây chính là nguồn gốc các cách ghi được sử dụng cho các nguyên âm tiếng Việt. Trong tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ý hay tiếng vùng Provence (Pháp) đều không có những phương tiện để phân biệt hai nguyên âm elẫn hai nguyên âm o khác nhau này.

Trong tiếng Pháp, ô [IPA: /o/] khép nhiều hơn so với o [IPA: /ɔ/], và ê [IPA: /e/] cũng khép nhiều hơn so với e [IPA: /ɛ/]; theo tiêu chí này, một số nhà ngôn ngữ học đã sử dụng dấu sắc: ó, é để biểu thị mức độ khép hơn của các nguyên âm, và dấu huyền, tức ò, è để biểu thị mức độ mở hơn của các nguyên âm. Một cách khác là dùng dấu chấm vào bên dưới để chỉ các nguyên âm khép hơn và dấu móc vào bên dưới để chỉ các nguyên âm mở hơn. Cuối cùng, các nhà ngữ âm học Anh ngữ sử dụng e, o cho các nguyên âm đóng hơn và ɔ, ɛ (tức chữ C ngược và chữ epsilon của tiếng Hy Lạp) cho các nguyên âm mở hơn. Kí hiệu æ được dùng cho nguyên âm nằm giữa a và ɛ, giống như nguyên âm trong từ cat của tiếng Anh. Một chữ a nghiêng (i.e., ɑ) được dùng cho nguyên âm của từ pâte tiếng Pháp.

Trong tiếng Việt có một số nguyên âm sau không tròn môi [IPA: /ɯ/, /ɤ/]. Chúng được viết là ư và ơ, có thể là do lấy cảm hứng từ kí hiệu ü, ö đã nhắc đến ở trên, cho dù trên thực tế ư đối lập hẳn với ü xét về vị trí môi và lưỡi: ư [IPA: /ɯ/] là một nguyên âm sau và không tròn môi, trong khi ü [IPA: /y/] lại là một nguyên âm trước và tròn môi. Những nguyên âm này không có trong các ngôn ngữ Roman phía Tây, tuy nhiên chúng lại có trong các ngôn ngữ Roman phía Đông châu Âu: ví dụ: trong tiếng Rumani, từ “chó” có thể được ghi theo chính tả tiếng Việt là cưn. Các nguyên âm này thỉnh thoảng được ghi với hai dấu chấm (Tréma): ï, ë hoặc là với một dấu tròn phía dưới. Các nhà ngữ âm học Anh ghi chúng là /ɯ/, /ə/ [IPA /ə/ ngày nay được coi là một nguyên âm hàng giữa thực thụ, còn /ɤ/ được dùng cho một nguyên âm hàng sau, không tròn môi, độ mở trung bình], và /ʌ/, tức lần lượt viết ngược m, e và v. Nguyên âm cuối cùng (/ʌ/) tương ứng với âm â trong tiếng Việt.

Phần hai: Thanh điệu

Cuối cùng, chúng ta hãy tìm hiểu cách ghi các thanh điệu được mượn từ tiếng Hy Lạp cổ. Tiếng Hy Lạp cổ có hai thanh, được ghi là ´ và ῀, và một dấu thứ ba được dùng để ghi thanh điệu của những từ không có trọng âm: `. Những kí hiệu này được bổ sung thêm với các kí hiệu đánh dấu câu. Quả thực, trong các ngôn ngữ Roman, thanh điệu không thể được dùng để phân biệt các từ, song nó có thể phân biệt các câu, chẳng hạn, trong tiếng Pháp, câu nghi vấn C’est vrai? “Việc đó thật à?” nhờ dấu câu mà phân biệt với và câu trần thuật C’est vrai “Đây là sự thật.” Vì vậy, người ta đặt một dấu chấm nhỏ (giống với dấu chấm câu) dưới nguyên âm và một dấu hỏi trên nguyên âm để biểu thị thanh điệu [ở đây minh họa cho hệ thống 6 thanh trên nguyên âm A là: a à á ạ ả ã].

Các nhà ngữ âm học Anhvà Trung Quốc dùng một dấu thẳng đứng đặt bên phải từ kèm theo một dấu nhỏ mô tả đường nét và âm vực và tuyến điệu (modulation) của thanh điệu để kí hiệu chúng [ví dụ: ˥ ghi thanh cao, ˧ cho một thanh trung bình.v.v.].

Kết luận

Như vậy bảng chữ cái tiếng Việt là một sản phẩm có những cứ liệu lịch sử được xác định rõ ràng.

Những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến vùng Viễn Đông bằng đường biển đều đến từ bán đảo Iberia: họ là người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và xứ Basque. Trong số họ, những học giả đã sử dụng bảng chữ cái tiếng Latin để ghi âm tiếng Việt chính là các nhà truyền giáo đạo Thiên chúa - những người tinh thông tiếng Latin, tiếng Ý và tiếng Hy Lạp. Tất cả những điểm đặc biệt của bảng chữ cái tiếng Việt vì vậy mà có thể được giải thích trên cơ sở của những cứ liệu này.

Nhìn vào những bảng phiên âm khoa học dựa trên bảng chữ cái Roman đã được trình bày và thảo luận ở trên, ta thấy rằng chúng thuộc vào hai nhóm sau: (i) những bộ chữ được sử dụng cho các ngôn ngữ Phương Đông đã có chữ viết Latin hóa riêng trước đó của mình, trong trường hợp này việc phiên âm tiếng Latin cơ bản chỉ là việc chuyển tự, tức thay thế một chữ cái của bảng chữ cái bản địa bằng một chữ cái Latin nhằm tạo điều kiện dễ dàng nhất cho việc in ấn của các nhà in châu Âu; (ii) những bộ chữ được các nhà ngữ âm học, những người có mục đích phiên âm tất cả những sắc thái phát âm. Loại bảng chữ cái thứ hai này chủ yếu được dùng ở các nước không có bộ chữ cái Latin hóa (ví dụ: Trung Quốc) hoặc các nước mà chính tả khác xa với phát âm (ví dụ như Anh: rất khó có thể đoán được âm nguyên đích thực trong từ tiếng Anh, cho dù trên thực tế tiếng Anh dùng bảng chữ cái Latin). Nhưng, bảng chữ cái ngữ âm được thiết kế ra cho việc viết tay và rất khó cho việc in ấn.

Tài liệu tham khảo

1. Alexandre de Rhode (1991), Từ điển Annam - Lusitan -Latin (bản dịch của Hoàng Xuân Việt, Thanh Lãng, Đỗ Quang Chính), NXB Khoa học xã hội, TP. Hồ Chí Minh.

2. André Martinet (1956), La Description phonologique avec application au parler franco provençal d'Hauteville (Savoie), Genève: Droz.

3. André Martinet (1981), “Fricatives and spirants”, Suniti Kumar Chatterji commemoration volume ed. by B. P. Mallik, Burdwan, West Bengal, India: Burdwan University Press, pp. 145-151.

4. André Martinet (1985), “Two proposals”, The Study of Sounds (Onsei no Kenkyuu), Commemorative volume for the 50th anniversary of the Phonetic Society of Japan XXI, pp. 67-72.

5. Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng (2005), Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu Anh Việt - Việt Anh, NXB Khoa học Xã hội.

6. Haudricourt, A.G. (1949), “L’origine des particularités de l’alphabet vietnamien”, Dân Việt Nam (3), pp. 61-68.

7. Haudricourt, A.G. (1953), “La place du vietnamien dan les langues austroasiatique” (Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á), BSLP (49), pp. 122-128.

8. Haudricourt, A.G. (1954), “De L’origine Des Tons En Vietnamien” (Nguồn gốc thanh điệu tiếng Việt), Journal Asiatique (242), pp. 69–82.

9. Haudricourt, A.G. (2010), “The origin of the peculiarities of the Vietnamese alphabet” (Alexis Michaud trans.), Mon-Khmer Studies (39), pp. 89–104.

10. Jacqueline Thomas, Luc Bouquiaux and France Cloarec-Heiss (1976), Initiation à la phonétique: phonétique articulatoire et phonétique distinctive, Presses Universitaires de France, Paris.

11. Michel Ferlus (1982), “Spirantisation des obstruantes médiales et formation du système consonantique du vietnamien”, Cahiers de linguistique - Asie Orientale (11:1), pp. 83-106.

12. Michel Ferlus (2001), “Les hypercorrections dans le thổ de Làng Lỡ (Nghệ An, Vietnam) ou les pièges du comparatisme”, Paper presented at the Quinzièmes Journées de Linguistique de l'Asie Orientale, Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales, Paris.

13. Ratanakul Suriya, David Thomas and Premsrirat Suwilai, Eds. (1985), Southeast Asian Linguistic Studies presented to André-G. Haudricourt, Mahidol University, Bangkok.

Hình 1: Từ bảng chữ cái tiếng Hebrew và tiếng Hy Lạp đến bảng chữ cái tiếng Latin.

Hình 2: Những tương ứng qua bảng chữ cái tiếng Việt, tiếng Pháp và bảng phiên âm khoa học



[1]http://sealang.net/archives/mksj/pdf/MKSJ-39.89.pdf

[2]https://vnu-vn.academia.edu/VietCao

[3]Các thuật ngữ ngữ âm trong bản tiếng Anh được để trong ngoặc đơn để người đọc tiện đối chiếu.

[4]“non-anterior sibilant stop” đượcCao Thành Việt dịch là “tắc-xuýt-phi tiền” và “anterior sibilant stop” là “tắc-xuýt-tiền”. PGS. TS Phạm văn Hảo cho biết trong “Từ điển Thuật ngữ Ngôn ngữ học đối chiếu Anh-Việt, Việt-Anh” (2005) của Cao Xuân Hạo & Hoàng Dũng, hai thuật ngữ này trong tiếng Việt là: “tắc xuýt không hàng trước” và “xuýt hàng trước”. Tôi e cả hai thuật ngữ trên chỉ mới dịch theo nghĩa đen của từ “anterior” (trước), song trong ngữ âm học “anterior sounds” được hiểu là: “những âmđược cấu âm từ phía trước ổ răng (alveolar ridge)” (http://sites.fas.harvard.edu/~interns/eng101quiz/definitions.html). Ở đây tôi tạm dùng “tắc xuýt trước” cho (anterior sibilant stop) và “tắc xuýt sau” cho (non-anterior sibilant stop), và để nguyên từ của bản nguồn tiếng Anh trong ngoặc đơn (chú thích của VXQ). 

[5]Vào thời gian bài báo của Haudricourt được xuất bản (1949), người ta cho rằng dựa trên cơ sở việc phục nguyên âm và sự vay mượn của tiếng Việt từ các ngôn ngữ láng giềng, âm vị được viết là D trong chữ Quốc ngữ không phải là một âm tắc tiền ngạc-hữu thanh (voiced prepalatal stop) (tương ứng nhất trong IPA là /ɟ/) khi chữ Quốc ngữ mới ra đời, mà là một âm xát răng (dental sprirant), được Ferlus 1982 ghi là δ (Xem thêm Ferlus 2001). Tương ứng nhất trong IPA của âm này là /ð/. Tuy nhiên, Ferlus phân biệt rạch ròi giữa âm xát “spirant” và âm xát “fricative” dựa theo quan điểm của Martinet 1956:24-25. Martinet cho rằng, “spirant” và “fricative” là hai nhóm âm khác nhau: “Cần thiết phải minh định sự khác biệt giữa phương thức cấu âm lơi (relaxed) - có xu hướng gần với phương thức nguyên âm mà chúng tôi gọi là “sprirant” - với các phụ âm được cấu âm theo phương thức phụ âm đúng nghĩa, đặc trưng bởi sự cọ xát khi luồng hơi thoát qua vị trí cản trở: loại này chính là những âm “fricative” đúng nghĩa.”[trong bản dịch của chúng tôi]; xem thêmMartinet 1981, 1985 và Thomas, Bouquiaux and Cloarec-Heiss 1976:29-31. Tuy nhiên, Haudricourt không đưa ra sự phân biệt giữa hai thuật ngữ trên trong bài báo này: ông dùng “spirant” trong cả bài (Chú thích của Alexis Michaud).

[6]Trong bản dịch tiếng Anh có hai câu bị xóa được kí hiệu bằng (…), (chú thích của Alexis Michaud).

[7]Những người nghiên cứu ngôn ngữ các bộ tộc da đỏ ở châu Mỹ (ND).

[8]Trong bản dịch tiếng Anh ee bị nhầm thành ec (Alexis Michaud đã kiểm tra và khẳng định điều này với tôi qua trao đổi email - VXQ chú thích)

Nguồn: Tạp chí Văn hóa Nghệ An, ngày 06.8.2018.

Thông tin truy cập

45176063
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
1437
9404
45176063

Thành viên trực tuyến

Đang có 118 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá: 80.000đ

    Giá: 80.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website