Có người cho rằng Triết học và Khoa học chẳng những khác nhau mà còn đối lập nhau nữa.

TRIẾT HỌC

KHOA HỌC

Theo chữ Hán,từ triết gồm hai chữ chiết là bẻ gãy và khẩu là miệng hội ý lại có nghĩa lời nói lí luận chặt chẻ để tìm hiểu thấu đáo một đối tượng nào đó.

 

Triết học là một bộ môn gồm có bốn môn: luận lý học, tâm lý học, đạo đức học và siêu hình học. Nhưng luận lý là môn chủ đạo vì phải suy luận sâu xa mới đạt đến triết được. Luận lý có hai phần lý thuyết và thực hành

Những nguyên lý của lý trí, đồng nhất nhân quả khởi thủy cứu cánh định mệnh tạo thành các phương pháp suy tưởng diễn dịch quy nạp trực giác và suy luận phân tích và tổng hợp thuộc lý thuyết

Áp dụng lý thuyêt vào những môn thực tế như vũ trụ học, vật lý học, sinh vật học là phần luận lý thực hành

Luận lý lý thuyết tạo nên một phương pháp nhận thức khách quan hệ thống tiến đến sự thật.Phương pháp này mệnh danh phương pháp Khoa học

Thông thường từ khoa học chỉ khoa học thực nghiệm như vật lý, hóa học, sinh vật…Toán học, một môn lí trí trừu tượng nhưng  rất chuẩn xác được xếp  vào hàng  ngũ khoa học.

Con số trong Số học áp dụng  vào thực tế rất đúng đắn.Trong Hình học đường thẳng đường cong hình vuông hình tròn rất chính xác.

Thành ngữ Hán có cụm từ:Thập phần hoàn mĩ nói lên kết quả hoàn toàn tốt đẹp

Trong DTTT Nguyễn Du dùng số10 để tả vẻ đẹp hoàn toàn của hai chị em Kiều:

 

“Một người một vẻ mười phân vẹn mười”

 

Cũng trong sách này,Thúc Sinh vì muốn cùng Kiều kết hợp trăm năm nên đã lấy hình vuông hình tròn tiêu biểu cho mối tình trường cữu ấy:

 

“Trăm năm tính cuộc vuông tròn

Phải dò cho được ngọn nguồn lạch song”

 

Môn nào xử dụng phương pháp Khoa học mới đáng được gọi là một Khoa học

 

Phương pháp khoa học hay Khoa học thực nghiệm có liên quan mật thiết với Triết học.Khoa học nằm trong luận lý Triêt học

Một giáo sư triết học Tây phương đã nói:

 

Thượng Đế là vua của các vua

God is the king of kings

Triết học là Khoa học của các Khoa học

Philosophy is the science of sciences

 

 

  

 

Được xây dựng vào năm 1774 và trở thành một Tổ đình nổi tiếng của Phật giáo ở Nam Bộ từ thế kỷ XVIII, chùa Giác Lâm (hiện tọa lạc ở đường Lạc Long Quân quận Tân Bình thành phố Hồ Chí Minh) là một địa điểm bước vào lịch sử phát triển văn hóa của cộng đồng Việt Nam tại địa phương từ rất sớm. Hiện nay ngoài việc thu hút đông đảo tín đồ cả trong nước lẫn Việt kiều tới dâng hương, hành lễ - nhất là vào các dịp lễ lớn của Phật giáo; nó còn lôi cuốn nhiều khách du lịch văn hóa tới tìm hiểu, tham quan. Đặc biệt, đối với những người nghiên cứu, chùa Giác Lâm với bề dày lịch sử của nó còn là một hệ thống tư liệu khoa học quý báu về lịch sử và văn hóa, tôn giáo và văn chương, điêu khắc và kiến trúc... Trong những tư liệu ấy có một đôi câu đối hiện treo ở hàng cột thứ nhất từ ngoài vào và đối diện với chính điện, một đôi câu đối thuộc loại độc đáo bậc nhất trong thơ văn chữ Hán ở Việt Nam

 

Bước sang thế kỷ XX, đối với Việt Nam không chỉ bước qua một cột mốc thời gian, đi thêm một quãng đường lịch sử mà còn là rẽ sang một con đường khác trong lịch sử phát triển. Nếu từ thế kỷ XIX trở về trước, Việt Nam và các nước láng giềng Đông Á sống thành một vùng văn hóa độc lập, xa lạ với thế giới, thì từ đây, nhiều mối liên hệ thắt chặt nó với thế giới, bắt nó hòa vào cuộc sống chung, đưa nó ra nhập quĩ đạo chung của sự vận động lịch sử cả thế giới. Sự thay đổi từ trung cổ sang cận hiện đại, ở đây đồng thời có nội dung thay đổi từ truyền thống văn hóa này sang truyền thống văn hóa khác, từ nên văn hóa có vùng gốc Hán đến truyền thống văn hóa Châu Âu, có nguồn gốc Hy lạp, với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản chiếm  vị trí chi phối cả văn hóa thế giới cận hiện đại. Trong lịch sử Việt Nam, sự thay đổi lần này là sự thay đổi rất sâu sắc, có lẽ cũng tương đương với bước chuyển từ nền văn hóa bản địa mà tiếp nhận Phật giáo, từ nền văn hóa Phật giáo mà tiếp nhận Nho giáo xảy ra từ trước. Mỗi lần thay đổi như vậy, không phải cái mới thay thế cái cũ, không phải hai cái cộng lại, mà thực chất thực chất là một quá trình dài nhào nặn cái cũ với cái mới để thành một sản phẩm khác, thay đổi cốt cách của cái đã thành truyền thống dân tộc. Điiều kiện xảy ra sự thay đổi là việc nước ta mất độc lập, trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Mong muốn xúc tiến sự thay đổi là thực dân Pháp trong tay có chính quyền, nhà trường, báo chí,… và nhằm mục đích rõ ràng là làm cho thuộc quốc đoạn tuyệt với văn hóa dân tộc, ly khai với ảnh hưởng của Trung Quốc, trở thành nô lệ, sùng bái văn hóa Phương tây. Thế nhưng thay đổi như vậy cũng là một tất yếu trong hoàn cảnh thế giới cận đại. Bên cạnh con đường Âu hóa theo thực dân, còn có con đường Âu hóa của các nhà Nho yêu nước. Trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, chính các nhà Nho yêu nước cũng đã vận động cải cách văn hóa, chủ động giải quyết vấn đề tiếp nhận văn hóa Châu Âu để tự cường, giành độc lập và hiện đại hóa đất nước.

Chú thích ảnh: Trần Chánh Chiếu, chí sĩ Đông du Nam Kỳ tiêu biểu.

THAM LUẬN TẠI HỘI THẢO QUỐC TẾ “NHẬT BẢN VÀ TIỂU VÙNG MEKONG – MỐI QUAN HỆ LỊCH SỬ” (JAPAN AND MEKONG SUBREGION – HISTORICAL RELATIONS) DO TRƯỜNG ĐH KHXH & NV – ĐHQG TP.HCM TỔ CHỨC NGÀY 29-30/ 10/2010  

ĐOÀN LÊ GIANG (*)

Nói đến “Đông du” người ta nghĩ ngay đến Phan Bội Châu và các đồng chí của ông  ở vùng Thanh Nghệ và Bắc Bộ. Thế nhưng thực ra phong trào Đông du lại thu hút thanh niên và các chí sĩ Nam Kỳ đông đảo hơn nhiều so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Các chí sĩ Nam Kỳ tham gia Đông du rất hăng hái, nhiều người bị tù đày, có người hy sinh trong tù ngục hay ở những đất nước xa xôi. Những trí thức như Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Thần Hiến, Trương Duy Toản, Nguyễn Háo Vĩnh…rất nổi tiếng trong làng văn, làng báo Nam Kỳ, nhưng đồng thời cũng là những chí sĩ Đông du hàng đầu. Trong bài viết này chúng tôi thử tìm hiểu những chí sĩ Đông du Nam Kỳ nào đã từng đến Nhật Bản và những hoạt động của họ trước, trong và sau khi đến Nhật Bản, nhằm làm rõ hơn một vấn đề lịch sử còn ít được giới nghiên cứu quan tâm. 

10 năm ngày mất Trịnh Công Sơn
Ngày Trịnh Công Sơn ra đi, khi chiếc xe tang rời con hẻm 47 (đường Phạm Ngọc Thạch, Quận 1, TP HCM), nhiều người đưa tiễn còn nấn ná thu nhặt những bông hoa trên những vòng hoa để lại bên đường. Cùng với độ lùi của thời gian, người ta càng nhận ra cái di sản mà người nhạc sĩ để lại lớn hơn rất nhiều so với những gì đã hình dung cũng như càng cảm thấy sự hiện diện tròn đầy của ông trong đời sống này.

Khi bàn về cách thức tiếp nhận nền văn minh bên ngoài của người Nhật, GS. Vĩnh Sính viết rằng: “Có thể nói rằng không có dân tộc nào nhạy bén về văn hóa nước ngoài cho bằng người Nhật. Họ không ngừng theo dõi những diễn tiến trên thế giới bên ngoài, đánh giá và cân nhắc ảnh hưởng của những trào lưu và xu hướng chính đối với Nhật Bản. Một điều đáng chú ý khác là khi họ biết trào lưu nào đang thắng thế thì họ có khuynh hướng chấp nhận, học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó, không để mất thời cơ”.

Thông tin Đại học Quốc gia TP.HCM đề xuất miễn học phí, cấp học bổng cho sinh viên, học viên sau đại học theo học các ngành khoa học cơ bản đã thu hút sự quan tâm và ủng hộ.

20250420

Sinh viên khoa văn học Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM) đến tham quan tòa soạn báo Tuổi Trẻ chiều 3-4 - Ảnh: TRẦN TIẾN DŨNG

 

Nhiều ý kiến cho rằng chính sách này sẽ là cơ hội thúc đẩy phát triển các ngành khoa học cơ bản.

 

* PGS.TS Đoàn Lê Giang (nguyên trưởng khoa Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia TP.HCM):

Khuyến khích bằng học bổng cho sinh viên

ĐH Quốc gia TP.HCM đề xuất miễn học phí, cấp học bổng cho sinh viên theo học các ngành khoa học cơ bản là tin vui lớn đối với nhiều học sinh, sinh viên và những người hoạt động trong các ngành giáo dục, văn hóa, truyền thông. 

Ý tưởng ấy hòa điệu với lời nhắc nhở của Thủ tướng Phạm Minh Chính về việc hai ĐH quốc gia (Hà Nội và TP.HCM) phải chú ý đến khoa học cơ bản, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, khi ông đến thăm ĐH Quốc gia Hà Nội. 

Khoa học cơ bản là các ngành nghiên cứu lý thuyết, hơi xa những mục tiêu thực dụng. Nhưng các khoa học này là hết sức cần thiết. Nó không cần nhiều người học nhưng cần những người thông minh, chịu khó và có tình yêu nghiên cứu khám phá theo học. Đó là toán, vật lý, hóa học, văn học, lịch sử, triết học, địa lý, địa chất, vật lý địa cầu, thiên văn học, hải dương học, khảo cổ, ngôn ngữ học, Hán Nôm... 

Thường chỉ những ĐH đẳng cấp cao (ĐH nghiên cứu) mới đào tạo khoa học cơ bản. Nhưng thực tế hiện nay tuyển sinh các ngành khoa học cơ bản rất khó vì đầu ra khá hẹp.

Từ góc nhìn của người giảng dạy một trong những ngành khoa học cơ bản ở Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM) chúng tôi mong ước chính sách này không nên quay trở lại thời ĐH bao cấp "miễn học phí", rồi bù vào đó là ngân sách nhà nước cấp phát một cách eo hẹp mà dùng chế độ học bổng.

Tùy ngành, tùy nhu cầu xã hội về ngành ấy mà khuyến khích bằng học bổng cho sinh viên: 1- Có loại học bổng cao, đủ cho sinh viên đóng học phí, trả tiền sinh hoạt và mua tài liệu sách vở…; 2- Có loại học bổng toàn phần bằng học phí, sinh viên chỉ lo các khoản còn lại; 3- Có loại học bổng bán phần, hay 30%, 20% - tùy nhà trường quyết định dựa vào học lực của sinh viên khi tuyển sinh. Như vậy có những ngành 100% được học bổng, có những ngành ít hơn.

Đối với học viên cao học cũng tương tự, còn nghiên cứu sinh thì cố gắng dành tỉ lệ cao học bổng, học bổng với mức cao để họ có thể toàn tâm toàn ý cho học tập, nghiên cứu mà không phải lo đến học phí và sinh hoạt. Hiện nay cũng có học bổng cho nghiên cứu nhưng quá ít và quá thấp.

 

* TS Trần Thanh Long (phó hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM):

Cần quan tâm đến xã hội hóa 

Miễn học phí cho sinh viên các ngành khoa học cơ bản có thể là một giải pháp để khuyến khích sự phát triển của các ngành này nhưng cũng cần xem xét các yếu tố khác để đạt được hiệu quả tốt nhất.

Theo đó, Nhà nước cần có chính sách đầu tư đặc biệt cho các trường đào tạo các ngành khoa học cơ bản, hỗ trợ người học. Từ đó các trường sẽ cung cấp học bổng và hỗ trợ tài chính cho sinh viên tài năng và có nhu cầu. Đầu tư cho cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại để hỗ trợ nghiên cứu và đào tạo. 

Cần quan tâm đến xã hội hóa và thu hút từ nguồn lực của doanh nghiệp khi triển khai nghiên cứu khoa học cơ bản. Bên cạnh đó, các trường cần tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để tạo ra cơ hội thực tập, nghiên cứu và việc làm cho sinh viên.

 

* PGS.TS Nguyễn Tuyết Phương (trưởng khoa khoa học liên ngành Trường ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia TP.HCM):

Giúp người học yên tâm

Tôi hoàn toàn ủng hộ việc miễn học phí cho sinh viên ngành khoa học cơ bản trong chương trình đào tạo tài năng. Điều này sẽ giúp tất cả người học ở bậc ĐH và sau ĐH (thạc sĩ và tiến sĩ) các ngành khoa học cơ bản được miễn học phí, tạo điều kiện thuận lợi cho họ tập trung vào việc học và nghiên cứu. Hiện nay nhiều nước trên thế giới đã áp dụng chính sách này để đầu tư phát triển cho các ngành khoa học cơ bản.

Theo đó, các trường ĐH sẽ cấp học bổng cho người học sau ĐH, giúp họ không chỉ được miễn học phí mà còn nhận được tiền học bổng để trang trải cho các chi phí ăn ở, chi tiêu hằng tháng. Chính sách này sẽ giúp người học yên tâm đầu tư cho việc học và nghiên cứu khoa học, từ đó tạo ra các tài năng trong lĩnh vực khoa học cơ bản. 

Thực tế cho thấy nhiều học viên ở Việt Nam hiện nay phải vừa đi học vừa đi làm để trang trải kinh phí và cuộc sống, dẫn đến việc họ không thể tập trung vào việc học và nghiên cứu, ảnh hưởng đến chất lượng.

Để đạt được các kết quả nghiên cứu mới, tiên tiến và thúc đẩy các ngành khoa học, Việt Nam cần có một chương trình tương tự, đặc biệt là ở bậc sau ĐH. Vì vậy cần có các chính sách hỗ trợ về mặt kinh phí để giúp các ngành khoa học phát triển. Tôi cũng nhận thấy rằng các trường ĐH cần đóng vai trò dẫn dắt và định hướng xã hội. Như ĐH Harvard (Mỹ) đã từng nói: "Các trường ĐH phải đóng vai trò dẫn dắt xã hội".

Điều này có nghĩa là sự phát triển của các trường ĐH phải đóng vai trò dẫn dắt và định hướng. Do đó các trường phải dẫn dắt và định hướng xã hội, hướng dẫn học sinh trong việc chọn lựa các ngành học cho tương lai. Chỉ như vậy chúng ta mới hy vọng nguồn nhân lực của Việt Nam sẽ tập trung phát triển các lĩnh vực khoa học, từ đó đẩy mạnh các mũi nhọn về khoa học và công nghệ trong tương lai ở Việt Nam.

 

* Ngô Lê Ngọc Ánh (sinh viên khóa 22 chuyên ngành kinh tế học Trường ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP.HCM):

Cái nhìn khác với các ngành khoa học cơ bản

Thực tế hiện nay hầu hết các bạn học sinh đều chọn các ngành "hot" khoa học máy tính, thương mại điện tử, y khoa… Bản thân tôi lúc chọn ngành học này cũng rất phân vân vì các yếu tố như học phí, cơ hội việc làm của mình sau này.

Tôi mong muốn sinh viên học các ngành khoa học cơ bản trong thời gian tới sẽ được hưởng các chính sách như miễn học phí, tăng học bổng, hỗ trợ nghiên cứu khoa học và đặc biệt việc làm sau khi ra trường... Nếu có chính sách này học sinh sẽ an tâm theo đuổi ngành học mình yêu thích và có cái nhìn khác với các ngành khoa học cơ bản.

 

Trần Huỳnh

Nguồn: Báo Tuổi trẻ, ngày 04.4.2025

Về phương diện chính trị văn hóa có thể khẳng định ngay thành phố Sài Gòn là trung tâm của miền Nam, giống như Huế ở miền Trung hay Hà Nội ở miền Bắc. Cái gọi là triết học phần lớn phát xuất từ các trí thức Nam bộ có may mắn được đi học trường Tây và hấp thu văn hóa Pháp, chẳng hạn Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Trần Văn Giàu, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long. Mặc dù tất cả những người này không ai được đào tạo chính qui trong ngành triết, nhưng do tình hình lịch sử khách quan đã tập trung sự chú ý của họ (tôi muốn nói Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, và Trần Văn Giàu) vào triết học, chủ yếu là triết học Marx. Do đó ngay từ đầu triết học đã gắn liền với giai cấp trí thức cao cấp nhất trong xã hội thời đó: những người do học vấn hay khả năng tài chính có thể du học bên Pháp, sử dụng tiếng Pháp, và có bằng cấp cao về luật, văn chương, hay toán học. Chính vì vậy việc thảo luận triết học giữa các trí thức nói trên ngay từ đầu đã mang tính chất “tinh hoa”, “quý tộc”, mà người thường (không thông thạo Pháp văn) hoàn toàn bị loại ra khỏi vòng chiến. Có thể nói mà không sợ quá lời rằng giỏi tiếng Pháp trong những thập niên 40 là được coi gần như một loại “thiên tài” hoặc ít ra cũng thuộc về môn thứ câu lạc bộ thu hẹp chỉ gồm các phần tử tinh hoa, ưu tú nhất của dân tộc. Di sản của quan niệm này đã di cư vào các chương trình trung học và đại học Văn Khoa được thành lập tại miền Nam sau năm 1954. Hai đặc trưng của di sản này là: học nổi triết học tức là “thiên tài” và “thiên tài” thì phải nói tiếng Pháp “như gió.” Hoàn cảnh khách quan là những người đầu tiên xây dựng chương trình cho đại học Văn Khoa chủ yếu bao gồm hai lực lượng trí thức chính: giới cựu học (giỏi Hán văn) và lớp tân học (giỏi Pháp văn), nhưng dĩ nhiên lớp tân học đóng vai trò quan trọng hơn trong công tác điều hành, quản lý, và soạn thảo chương trình. Bộ phận triết học hoàn toàn được mô phỏng theo chương trình giảng dạy của Pháp, ngay ở cấp trung học cũng thế: căn bản triết học bao gồm tâm lý học, đạo đức học, luận lý học, và siêu hình học. Các danh từ triết học trong sách giáo khoa trong giai đoạn đầu chỉ là những cố gắng phiên dịch từ các thuật ngữ Pháp văn tương đương cho nên càng củng cố tính chất “quý tộc” sẵn có trong bộ môn triết vì đó là những thuật ngữ Hán Việt nghe hết sức “cao sang”, “huyền bí,” chẳng hạn như: tiên thiên, hậu nghiệm, siêu hình, tam đoạn luận, diễn dịch, quy nạp, v.v… Tôi còn nhớ khi học lớp Đệ Nhất (tức lớp 12 bây giờ) rất nể phục các học sinh học luôn siêu hình học (métaphysique) trong chương trình ban C (Văn chương, sinh ngữ), vì nếu theo ban A (Lý, hóa vạn vật) hay B (Toán, lý, hóa) thì môn triết chỉ bao gồm ba môn tâm lý, đạo đức, và luận lý mà thôi. Tôi cũng chẳng biết siêu hình học là cái gì, nhưng nội nghe ba chữ “siêu hình học” là đã thấy hết sức tâm phục khẩu phục rồi, cho rằng phải tài ba xuất chúng lắm mới học nổi một môn học cao siêu như vậy. Những sinh viên học triết ở bậc đại học thì càng được tôi sùng bái kính cẩn hơn nữa, nói gì đến các bậc giáo sư có bằng cấp triết học từ tận Pháp quốc trở về. Đối với đầu óc của tôi bấy giờ (những thập niên 60 và 70) các bậc giáo sư đó không phải đơn thuần chỉ là “thiên tài” mà chính họ là hiện thân của “chân lý tuyệt đối”. Tôi muốn nói đến các giáo sư Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Lê Thành Trị, Lê Tôn Nghiêm, những “ngôi sao” của đại học Văn Khoa thời bấy giờ.

Chính do sự sùng bái đó mà tôi vô cùng chấn động khi đọc tác phẩm Hố Thẳm Tư Tưởng (hình như xuất bản năm 1966) của Phạm Công Thiện, trong đó tác giả mạt sát giáo sư triết học Nguyễn Văn Trung không tiếc lời và phê phán luận án tiến sĩ của vị giáo sư này một cách hết sức gay gắt, tàn nhẫn, có thể gom lại trong hai mệnh đề chính: “Hoàn toàn dốt nát về tư tưởng triết học phương Tây” và “hoàn toàn dốt nát về tư tưởng Phật giáo”. Dĩ nhiên những nhận xét này của họ Phạm giờ đây đọc lại tôi cũng chỉ thấy toàn là những khẳng định suông, chẳng có chứng minh gì cụ thể là giáo sư Nguyễn Văn Trung “dốt” ở những điểm nào. Nhưng dù sao Phạm Công Thiện đã làm sống lại truyền thống bút chiến trong văn học miền Nam trước đây, nhưng chỉ tiếc giáo sư Nguyễn Văn Trung im lặng không trả lời gì cả khiến tôi vô cùng thất vọng, kết luận: “Vậy là Phạm Công Thiện nói đúng rồi”! Bản thân giáo sư Nguyễn Văn Trung cũng góp phần củng cố nhận định này, vì ông hầu như chẳng viết gì về triết học mà chủ yếu viết về văn học, thơ ca (thậm chí viết cả bài ca ngợi ca sĩ Thanh Thúy), tục ngữ, câu đố, và gần đây nhất là viết về tôn giáo Cao Đài. Sở dĩ Phạm Công Thiện có thể gây được một chấn động lớn như vậy vì giáo sư Nguyễn Văn Trung đang ở trên một ngôi vị quá cao, quá “quý tộc,” do bốn chữ “tiến sĩ triết học” thường đi kèm theo tên ông đã tạo ra một hào quang thiêng liêng đến mức việc tấn công vào chính bản thân ông đã trở thành sự tấn công vào chính tầng lớp tinh hoa triết học. Kể từ đây các giáo sư tiến sĩ triết học khác phải được nhìn bằng con mắt hoài nghi.

Nhưng huyền thoại Nguyễn Văn Trung sụp đổ để nhường vị trí lại cho hai huyền thoại khác đang lên ngôi: Bùi GiángPhạm Công Thiện. Khi một giáo sư triết tại đại học không thể trả lời được một sự công kích trực tiếp như vậy từ một người đứng ngoài hệ thống hàn lâm thì hậu quả tất nhiên sẽ là uy tín học thuật phải chuyển từ hệ thống hàn lâm đó sang cho những thiên tài khác đang đứng bên lề đại học. Bùi Giáng là một nhà thơ thiên về triết học, nổi tiếng về các hành vi lập dị theo kiểu “đứng đái giữa đường”, thể hiện một thái độ phản kháng, thách đố đối với tất cả những gì công ước, hình thức, chuẩn mực, ngay ngắn trong đời sống xã hội. Mặc dù thực ra chỉ do bộ óc “mát điện” và bị “cà tửng” của nhà thơ tạo ra mà thôi. Bùi Giáng đã trở thành biểu tượng cho một đấng minh triết theo đúng truyền thống Đông phương: sống vượt ngoài qui ước xã hội, có tâm hồn thi sĩ, và học vấn quảng bác (như Trúc Lâm thất hiền đời Tây Tấn bên Trung Hoa hay Cao Bá Quát trong truyền thống Việt Nam). Phạm Công Thiện thì hoàn toàn tỉnh táo. Sau những bài viết hết sức gay gắt, ông cũng trở thành một trí thức hàn lâm, giảng dạy và làm khoa trưởng tại đại học Vạn Hạnh, thế là kết hợp được cả hai yếu tố thoạt nhìn có vẻ mâu thuẫn nhau trong truyền thống Việt Nam: não trạng sùng bái các trí thức cao cấp, chủ yếu là giáo sư đại học (nhờ giỏi ngoại ngữ) và việc thần tượng các “thiên tài” phản kháng đứng ngoài hệ thống hàn lâm. Cần lưu ý ngay là mặc dù không sản xuất ra một khối lượng thơ phong phú như Bùi Giáng, Phạm Công Thiện luôn luôn tư xưng là “thi sĩ” và cũng sáng tác khá nhiều thơ (thí dụ tập Ngày sinh của rắn), nghĩa là ông vẫn thuộc về truyền thống văn hóa phương Đông, xem việc làm thơ là nhãn hiệu chủ yếu của minh triết vĩnh cửu, chứ không phải các lý luận trừu tượng, chi ly, chẻ sợi tóc ra làm tư, của triết học Tây phương. Kim Định, một giáo sư đại học Văn Khoa về triết Đông, cũng có một luận điểm tương tự khi phê phán triết học phương Tây và đề cao Nho giáo mà ông cho là xây dựng trên ba trục chính: Hưng ư thi, Thành ư nhạc, và Lập ư lễ.

Do tâm lý văn hóa như tôi vừa mô tả ở trên, các sách vở bàn chuyện triết học thực sự không bao giờ thấm nhập trong não trạng quần chúng có học thức. Chẳng hạn các sách bàn về tư tưởng Kant, Descartes, Sartre, Marcel, biện chứng pháp, của giáo sư Trần Thái Đỉnh, hay bộ Lịch sử triết học Tây Phương (2 cuốn) của giáo sư Lê Tôn Nghiêm, hay Hiện tượng luận về hiện sinh của giáo sư Lê Thành Trị, không bao giờ xuất hiện trong những cuộc thảo luận trí thức, không bao giờ trở thành một ảnh hưởng thâm nhập sâu đậm trong não trạng giới có học, vốn thích những gì thơ mộng, lãng mạn, phản kháng công ước xã hội, theo kiểu thơ Đường, hay “trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật” theo kiểu Thiền tông. Cho nên một hiện tượng hết sức nghịch lý là trong văn hóa Việt Nam giới có học rất “nể” các giáo sư triết hay “thiên tài triết học” thông thạo ngoại ngữ Tây phương nhưng trong thực tế vẫn thích thảo luận những đề tài truyền thống (thơ Đường, Kinh Dịch, Thiền Tông). Nói rộng ra là văn chương, triết Đông, và Phật giáo, vì đối với họ tinh thần triết học phương Tây (duy lý, phân tích, trừu tượng, lý luận tỉ mỉ, dài dòng) là một thực thể văn hóa xa lạ, nếu dùng để trang điểm trí tuệ thì tốt, chứ không phải là những món ăn thực sự cần thiết cho đời sống tinh thần Việt Nam.

Một điều hiển nhiên là khi nhìn lại gia tài văn hóa Việt Nam, chúng ta thấy lực lượng chủ yếu là thơ (chẳng hạn chỉ riêng thơ văn Lý, Trần gom lại đã được ba cuốn dày cộm), còn các đề mục xa gần có liên quan đến tư tưởng thì sơ sài ngắn gọn, chẳng hạn Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông hay Thiền Uyển Tập Anh, ngay cả khi dịch sang Việt ngữ rồi, cũng chỉ là hai cuốn sách mỏng lét. Phạm Công Thiện, người trước đây được nhóm Văn (Trần Phong Giao, Trần Thiện Đạo) và bây giờ được cộng đồng trí thức Việt Nam tại California xưng tụng là “triết gia” cũng chẳng bao giờ sáng tác được một tác phẩm triết học nào cả. Các tác phẩm của ông ( Tư tưởng hố thẳm, Hố thẳm tư tưởng, Ý thức mới trong văn nghệ và triết học, Ý thức bùng vỡ…) chỉ là tập hợp những bài viết ngắn theo kiểu tùy bút, bút ký, phiếm luận, không có nội dung gì xuyên suốt từ đầu đến cuối. Chính do áp lực qui định của truyền thống, hoàn cảnh xã hội luôn luôn thiếu ổn định do chiến tranh, cộng thêm khí hậu nóng bức, người Việt Nam khó có cơ hội và thời gian ngồi yên một nơi để tư duy triết học nghiêm chỉnh lâu dài, hoặc biên khảo những tác phẩm dài hơi (vốn đòi hỏi việc tham khảo nhiều tư liệu liên quan). Không nói đâu cho xa, ngay cả vào thời Phạm Công Thiện, việc tiếp cận với tư liệu, sách vở triết học cũng không phải dễ dàng. Dĩ nhiên giới có tiền vẫn có thể đặt mua tận bên Pháp thông qua nhà sách Xuân Thu (Sài Gòn) hoặc săn lùng những cửa hiệu sách cũ. Giới được may mắn sang du học bên Pháp thì có cơ hội nhiều hơn trong việc kiếm “bửu bối”, nhưng tất cả đều hoàn toàn ngẫu nhiên, không có hệ thống, hơn nữa sách bên Pháp rất mắc, ngay cả bây giờ cũng thế, cho nên việc thử trong tay những tác phẩm hay tư liệu triết học cần thiết chính là ưu thế rất lớn trong việc biên khảo hay bút chiến. Khi đối phương trích dẫn toàn tư liệu mà mình không thể tiếp cận thì chỉ có nước giơ mặt cho đối phương tha hồ tạt nước vào mà thôi. Đó cũng là lý do giải thích được tại sao thường là các sách biên khảo Việt Nam rất lôi thôi, bầy hầy, ít khi ghi chú, chú thích cẩn thận đầy đủ như các sách cùng loại của phương Tây, vì khi viết tác giả chỉ nhớ có đọc cuốn sách đó, của tác giả đó, nhưng lại không có tác phẩm đó ngay trước mắt, một vấn đề giải quyết hết sức dễ dàng trong các thư viện phương Tây. Cũng chính vì vậy mà truyền thống văn hóa Việt Nam đặt trọng tâm vào việc nhớ nhiều, một khả năng tuy vẫn cần thiết hiện nay nhưng đã được hỗ trợ rất nhiều bằng cách hệ thống ký ức nhân tạo (bách khoa, tự điển, thư mục, tự điển, thư mục, sách dẫn, CD- ROM, Internet). Việc trích dẫn nhiều sách vở chẳng hề gây “ấn tượng” cho giới trí thức như ngày xưa nữa vì đó là tác thao tác mà ai được huấn luyện và đào tạo đều có thể thực hiện được một cách dễ dàng.

Kết luận: “thiên tài” trong văn hóa Việt Nam từ xưa đến nay chỉ là sản phẩm của bốn nhân tố chính: 1- Khan hiếm sách vở và tư liệu; 2- Não trạng thích thơ ca lãng mạn; 3- Hoàn cảnh khách quan (xã hội loạn lạc, khí hậu nóng bức, việc đi lại trong nước khó khăn, việc xuất dương du học càng hiếm hoi hành 4- Sùng bái bằng cấp và ngoại ngữ (trước thì chữ Nho, sau thì chữ Tây).

Nguồn:  Đường vào Triết học - NXB Tổng hợp TP HCM

 

http://www.chungta.com.vn/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Nhan-Thuc/Khai_niem_triet_hoc_tai_Sai_Gon_truoc_1975

Tháng ba năm nay tôi trở lại Đà Lạt vào những ngày thiên nhiên ban tặng cho vùng đất này màu nắng vàng óng ả và những ngọn gió bát ngát bay dọc các triền đồi. Mùa rét đã qua, mùa mưa chưa tới, Đà Lạt im nghe đất trời luân chuyển.

Giữa xuân, không còn hoa dã quỳ và mai anh đào, bù lại là những hàng phượng tím đua nở trên những ngả đường thành phố.

Tròn 30 năm, thường vào dịp đầu hạ và cuối đông, tôi đi dạy học và chấm thi ở Đà Lạt. Lần đầu tiên đi xe đò, rồi chuyển sang máy bay, từ ATR 72, Fokker 70 đến Airbus A321, không thể nhớ đã bao nhiêu chuyến. Chuyến đi này vào trung tuần tháng 3, như một lần chia tay, Khoa Ngữ văn và Lịch sử Trường ĐH Đà Lạt có nhã ý phối hợp với Khoa Sư phạm tổ chức cho tôi hai buổi giao lưu với giảng viên và sinh viên về chủ đề "Những kỷ niệm và ước vọng cho học đường".

Đà Lạt - gặp gỡ và chia tay - Ảnh 1.

Khuôn viên Trường ĐH Đà Lạt - ảnh: Bá Duy

Lần đầu gặp gỡ Đà Lạt

Cảm xúc lần này khác hẳn những chuyến đi trước, ngồi trên máy bay, nhìn xuống thung lũng xa mờ khói núi với con suối thảnh thơi chảy giữa những cánh rừng đang kiên trì chống chọi với tốc độ đô thị hóa, ký ức tôi hiện về hình ảnh thời niên thiếu lần đầu gặp gỡ với Đà Lạt.

Đó là năm 1972, năm diễn ra những trận đánh khốc liệt trong "mùa hè đỏ lửa". 17 tuổi, tôi vừa thi đậu tú tài phần thứ nhất, được hoãn dịch vì lý do học vấn, đang hưởng những ngày thong thả chờ lên lớp 12. Cậu tôi là Lê Anh Tuấn làm ở nhà xuất bản Trí Đăng, mua tặng tôi cuốn tiểu thuyết "Giờ ra chơi" của Nguyễn Đình Toàn. Cuốn sách kể câu chuyện của Thục, cô nữ sinh cũng vừa đậu tú tài, được gia đình cho đi theo một nhóm bạn du lịch Đà Lạt, say đắm vẻ đẹp của thành phố cao nguyên với những kỷ niệm khó phai được lưu giữ trong những ngày ngắn ngủi trôi nhanh như những khoảnh khắc ở sân chơi giữa buổi học.

20250331

Tác giả lần đầu đến Đà Lạt vào năm 1972 - ảnh: NVCC

Mượn lời nhân vật - người kể chuyện, Nguyễn Đình Toàn viết một đoạn văn thật gợi cảm: "Đứng trên những sườn núi nhìn xuống cả một cánh rừng mận và dâu với những cành thưa lá, tôi có cảm tưởng mùa xuân ẩn nấp đâu đó, chỉ nhờ một ngày, một trận gió thoáng qua, là sẽ hiện ra bằng những búp nõn, hoa nụ. Ở Đà Lạt sung sướng nhất là thời tiết làm cho người ta không biết mệt. Không khí trở thành một thứ mật bổ dưỡng, chúng tôi đã bơi trong biển mật đó. Có những buổi chiều, mặt trời vàng chiếu trên các cánh rừng xa, trông tưởng như là tất cả lá đều biến thành hoa cả. Cũng có hôm trời chuyển mưa bất chợt, những cơn mưa làm cho trời thấp xuống, chúng tôi đạp thuyền vội vàng trên mặt hồ để trở về bờ vì đã ra quá xa, nhưng có khi ngồi chán chê ở trong quán, mưa vẫn chưa đổ xuống. Mặt hồ như tấm gương soi nhan sắc của Đà Lạt…".

Nghe tôi nói Đà Lạt hấp dẫn quá, ước gì mình được đặt chân đến đó, cậu tôi hào phóng thưởng cho tôi một chuyến đi nhớ mãi cả đời. Năm đó đường Sài Gòn - Đà Lạt không thật bình yên, chúng tôi mua vé đi xe Traction, một loại xe nhỏ chở khách như taxi, nghĩ rằng nếu gặp đường bị đắp mô đất thì an toàn hơn đi xe đò (!). Khi xe vừa qua đèo Bảo Lộc, tôi sững sờ trước một cảnh giới kỳ diệu chưa bao giờ được thấy: hai bên đường là những hồ sen, những những hàng phượng vĩ, những khu vườn rau nối tiếp; càng lên cao dần về phía đèo Prenn, xe chạy giữa rừng thông, thời tiết mát dịu thấm vào da thịt, thấm vào lòng mình một nỗi xôn xao thật khó diễn tả.

Mấy ngày ở Đà Lạt, cậu cháu tôi đi lang thang khắp các ngõ phố, dạo quanh hồ Xuân Hương còn vắng bóng người, thăm thác Cam Ly, đồi Cù, đứng bên ngoài ngẩn ngơ nhìn vào Viện đại học Đà Lạt và Trường Bùi Thị Xuân. Tôi mong được trở lại Đà Lạt, thầm ước lớn lên có một ngôi nhà trồng hoa mimosa trước sân vườn.

Tái ngộ với Đà Lạt

Vậy mà mãi đến 23 năm sau, tôi mới có cơ duyên tái ngộ với Đà Lạt. Năm 1995, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM và Trường ĐH Tổng hợp TP.HCM (nay là Trường ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn và Trường ĐH Khoa học tự nhiên - ĐH Quốc gia TP.HCM) liên kết mở hai lớp cao học ngành văn học ở Trường CĐ Sư phạm và Trường ĐH Đà Lạt, nhờ đó tôi được làm quen với các thầy, cô giáo dạy văn ở đây, về sau đều là những người có nhiều đóng góp cho nghiên cứu và giảng dạy văn học.

Đà Lạt - gặp gỡ và chia tay - Ảnh 3.

Tác giả vào năm 2024, uống cà phê ở nhà Thủy Tạ khi trở lại Đà Lạt - ảnh: NVCC

Năm đó, vừa được bầu làm Trưởng khoa Ngữ văn và Báo chí, tôi nghĩ mình phải góp phần tổ chức thành công lớp cao học mà học viên chủ yếu là giảng viên của Khoa Ngữ văn Trường ĐH Đà Lạt. Tôi đã mời được các thầy giáo cao niên nổi tiếng, không quản ngại đường xa, nhiều khi phải đi xe đò lên giảng dạy và hướng dẫn luận văn: đó là các GS Hoàng Như Mai, Lê Trí Viễn, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Đăng Mạnh, Trần Thanh Đạm, Lương Duy Thứ, Mai Cao Chương, Trần Hữu Tá, Hoàng Hữu Yên, Nguyễn Lộc, Chu Xuân Diên, Lê Ngọc Trà… Cuối khóa, cả lớp bảo vệ luận văn xuất sắc, nhiều người học tiếp tiến sĩ và đảm nhận việc đào tạo các thế hệ học viên mới. TS Lê Hồng Phong, nguyên Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, đã viết bài kể lại những kỷ niệm cảm động trong những ngày đầu tiên đó.

Hôm giao lưu ở giảng đường mới của trường vào tháng 3 năm nay, trước khi chiếu những tấm ảnh cũ mà tôi chụp ở Đà Lạt 53 năm trước, tôi đã mở loa cho quý thầy cô và các bạn sinh viên nghe lại ca khúc "Kỷ niệm" của Phạm Duy qua giọng hát Thái Thanh. Tôi nói, Đà Lạt không chỉ là kỷ niệm về một chỗ dừng chân, Đà Lạt là khoảng lặng mà mình có thể nghe lại tiếng nói của ký ức trên đường đời vội vã.

Bao ân tình qua 30 năm

Lần nào lên thành phố này, tôi cũng ngồi uống cà phê một mình ở nhà Thủy Tạ để viết vài trang văn, đến nghe nhạc trong phòng trà Căn Nhà Xưa ấm cúng, tối về lại nhà khách vắng lặng của trường luôn thoảng mùi cỏ thơm, mùi nhựa thông và vọng tiếng lá khô rơi trong tĩnh mịch. Thấy mình may mắn biết bao so với những người thầy, người anh đã từng gắn bó với thành phố này mà chưa có dịp quay về, tôi thường gửi tặng những bưu ảnh Đà Lạt cho Nguyễn Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Biên, Đặng Tiến ở nơi xa. 

Buổi giao lưu có đông những người bạn trẻ tuổi đôi mươi tràn đầy khát vọng. Đã xa rồi các khóa học viên những năm trước từ Nha Trang, Phan Rang, Tuy Hòa, Buôn Đôn, Bảo Lộc, Di Linh, Đơn Dương, Lâm Hà, Đức Trọng… vượt bao khó nhọc về đây với những bài thuyết trình, bài thi cuối kỳ, những bản luận văn vừa đóng quyển. Bận rộn với trường lớp, chương trình mới, sách giáo khoa mới và cuộc mưu sinh vất vả, bỗng một ngày nhớ lại lớp học năm xưa, có lúc nào họ mỉm cười với một câu nói trong bài giảng, hay cau mày khó chịu vì một lời nhận xét, một điểm số khắt khe?

Đà Lạt - gặp gỡ và chia tay - Ảnh 4.

Giao lưu với giảng viên, sinh viên Khoa Ngữ văn và Lịch sử, Khoa Sư phạm Trường ĐH Đà Lạt vào giữa tháng 3 năm 2025 - ảnh: NVCC

Các bạn - những người đang tới và sẽ tới. Chúng tôi - những người đang dần qua trong cuộc diễu hành bất tận của thời gian. Và đã qua là qua hẳn. Lần này tôi không còn gặp những người đồng nghiệp quý mến đã một thời chung sức nơi đây, đã cùng đối thoại, sẻ chia những nỗi niềm băn khoăn về văn chương, thời cuộc: Lê Chí Dũng, Phạm Quốc Ca, Nguyễn Khắc Huấn, Cao Thế Trình, Lê Đình Bá, Nguyễn Tuấn Tài… Biết bao ân tình để lại qua 30 năm cộng tác với 5 đời hiệu trưởng, 6 đời trưởng khoa.

Trước khi tạm biệt Đà Lạt, tôi được hai người học trò cũ đưa đi lại con đường tàu từ ga Đà Lạt đến ga Trại Mát một chiều nắng muộn, rồi thăm Rừng Thông Mơ một sáng trời xanh, nơi vẻ đẹp dịu dàng của Đà Lạt xưa còn chưa mất dấu. Tôi nghĩ, dù ngày mai Đà Lạt còn là tên gọi của một thành phố hay chỉ của một phường xã, thì mảnh đất này, mảnh đất Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem (Cho người này niềm vui, cho người khác sự tươi mát) mà A.Yersin có công phát hiện, vẫn là hình ảnh vĩnh cửu ăn sâu trong tâm thức những người đã mang theo kỷ niệm trên dấu chân mình khi bước qua đây.

Giã từ Đà Lạt trong một ngày nắng dịu, tôi không ném đồng xu nào xuống mặt nước hồ Xuân Hương, nhưng tôi biết mình sẽ có ngày trở lại.

Huỳnh Như Phương

Nguồn: Thanh niên, ngày 26.3.2025.

PGS.TS. NGUYỄN CÔNG LÝ

(Khoa Văn học và Ngôn ngữ,

Trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG TP. HCM)

   1. Nhờ bản lĩnh độc lập tự cường kết hợp truyền thống chống ngoại xâm, kể cả chống về mặt tư tưởng, cùng tính uyển chuyển, linh hoạt của cư dân lúa nước phương Nam nên bất cứ một học thuyết nào từ nước ngoài một khi đã vào Việt Nam đều phải phục vụ cho cái đạo yêu nước yêu dân của dân tộc, phục vụ những yêu cầu cuộc sống của dân tộc. Phật giáo khi vào Việt Nam cũng chịu sự chi phối của quy luật đó. Với tinh thần phá chấp triệt để và khả năng dung hợp rộng mở, với tính phóng khoáng và dân chủ của mình, Phật giáo Thiền tông đã bắt gặp tinh thần bình đẳng, dân chủ, lòng nhân ái của người dân ở đây nên nó đã dễ dàng hòa hợp và bắt rễ nhanh chóng, đã ảnh hưởng sâu rộng trong đòi sống con người Việt Nam. Mặt khác, Phật giáo Thiền tông khi vào Việt Nam đã biết kết hợp với tín ngưỡng dân gian bản địa, dung hợp với các hệ tư tưởng khác, mà chủ yếu là Nho và Lão - Trang cùng Đạo giáo, kết hợp với các tông phái khác (Tịnh độ tông, Mật tông) nên Phật giáo Thiền tông Việt Nam thời Lý - Trần có những nét khác nếu so với Thiền học Ấn Độ, Thiền học Trung Quốc.

Giáo dục cảm xúc là một trong những mục tiêu cần thiết của nền giáo dục tiên tiến. Cảm xúc đóng một vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục và hòa nhập xã hội của một cá nhân. Việc phát hiện ra những văn bản và ngữ cảnh của văn bản có tác dụng giáo dục cảm xúc là điều các nhà soạn sách giáo khoa và các thầy cô giáo cần quan tâm. Môn Ngữ văn là môn học quan trọng bậc nhất trong việc giúp người học đắp bồi những cảm xúc tích cực, hòa giải những cảm xúc tiêu cực, hình thành những cảm xúc nhân văn, nhân ái như sự chia sẻ, lòng yêu thương, niềm trắc ẩn, tinh thần trách nhiệm,…

Bài viết tập trung giới thiệu những nét chính về giáo dục cảm xúc trong môn Ngữ văn. Đưa ra môt số ngữ liệu tiêu biểu trong chương trình ngữ văn phổ thông để làm ví dụ minh họa. Từ đó thầy cô giáo có cơ sở chọn lựa các ngữ liệu khác phù hợp.

1. Lý thuyết về giáo dục cảm xúc thông qua tác phẩm văn chương

Chỉ cần tra từ khóa “giáo dục cảm xúc” (emotional education/emotional learning), chúng ta sẽ thấy thế giới nghiên cứu vấn đề này từ lâu, và ở Việt Nam không phải là không có người quan tâm. Giáo dục cảm xúc đi liền với giáo dục xã hội (social and emotional learning – SEL). Từ xưa đến nay, người ta thường chỉ chú ý đến IQ (chỉ số thông minh) và xem nó như là thước đo quan trọng. Còn Howard Gardner trong Frame of Mind: The Theory of Multiple Intelligences đã chỉ ra tầm quan trọng của giáo dục toàn diện. Là một nhà tâm lý học, ông cho rằng trí tuệ có rất nhiều loại, và trong giáo dục hiện đại, cần giúp trẻ em tiếp cận một cách đa dạng nhiều loại trí tuệ. Ông đưa ra nhiều loại trí tuệ khác nhau: trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ toán logic, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ không gian, trí tuệ cơ thể, trí tuệ cá nhân (với hai dạng, một là hướng nội, hai là hướng ngoại), v. v. Trong đó trí tuệ cá nhân có liên quan chặt chẽ đến cảm xúc.Việc giáo dục cảm xúc trong giáo dục xã hội thậm chí còn trở thành một kỹ năng quan trọng của thế kỷ 21, khi mà trong báo cáo của WHO (tổ chức y tế thế giới) năm 2015 cho rằng những vấn đề liên quan đến sức khỏe tinh thần của giới trẻ đang gia tăng nhanh chóng.

Giáo dục cảm xúc được chú ý từ cấp mẫu giáo cho đến hết trung học, và các lý thuyết chung được giới thiệu trong một cuốn sách căn bản là Emotional Intelligence Why It Can Matter More Than IQ của Daniel Goleman. Tác giả lý giải tại sao trí thông minh về mặt cảm xúc lại còn quan trọng hơn cả trí tuệ (IQ), và từ đó, việc dạy về cảm xúc trong nhà trường là rất quan trọng (emotional learning). Ví dụ, ở Hoa Kỳ việc giáo dục cảm xúc ở những năm đầu tiểu học, học sinh học cách nhận biết và gọi tên chính xác cảm xúc của họ và điều khiển chúng như thế nào. Năm cuối tiểu học là những bài học về sự cảm thông với cảm xúc người khác. Ở trung học cơ sở, học sinh sẽ học cách phân tích nguyên nhân gây ra stress (căng thẳng) và cách thức vượt qua. Ở trung học phổ thông, việc dạy kỹ năng cảm xúc sẽ bao gồm việc lắng nghe và nói chuyện về cách thức giải quyết xung đột thay vì để nó leo thang và ảnh hưởng, cách thức thương thuyết để ra một giải pháp hai bên cùng có lợi.

Trên thế giới, Singapore là quốc gia đã có những đột phá trong việc giảng dạy về cảm xúc. Một số trường học tại Malaysia, HongKong, Nhật và Hàn Quốc cũng vậy. Đó là chưa kể sự phát triển của giáo dục cảm xúc tại Anh, New Zealand và Úc. Năm 2002, UNESCO bắt đầu một chiến dịch toàn cầu để phát triển việc giáo dục cảm xúc, một tuyên bố gồm 10 điều căn bản cho giáo dục cảm xúc đến 140 nước trên thế giới.

Giáo dục cảm xúc thông qua văn học nghệ thuật cũng được chú trọng từ rất sớm. Văn học, hội họa, âm nhạc, điện ảnh thường được sử dụng như những liệu pháp điều trị các triệu chứng tâm lý, tâm thần. Ví dụ theo một khảo sát của sinh viên Y khoa, họ đã thử áp dụng cho các bệnh nhân tâm thần xem phim, đọc thơ trong hai giờ, các triệu chứng bất ổn và bạo lực giảm mạnh[1]. Hay ở cấp tiểu học, cha mẹ và giáo viên có thể sử dụng sách hình (picture books-phân biệt với truyện tranh, comic books) để giáo dục cảm xúc xã hội cho trẻ, ví dụ như sự cảm thông, tình bạn, giải quyết xung đột, đối diện với sự mất mát, sự sợ hãi, dạy về lòng dũng cảm, lòng tự trọng, v.v.[2]Trong nhà trường phổ thông, việc giảng dạy văn học nhằm mục đích giáo dục cảm xúc được áp dụng rất nhiều. Vì các nhà nghiên cứu cho rằng cảm xúc trong các tác phẩm truyện, thơ luôn đầy ắp[3]. Willie van Peer cũng chỉ ra rằng, trong tác phẩm văn học, nhân vật văn học cũng là những hình mẫu để giáo dục cảm xúc cho học sinh (tác giả lấy ví dụ Tội ác và trừng phạt của Dostoievsky). Thông qua những câu chuyện văn học, việc giáo dục cảm xúc và xã hội sẽ gia tăng sức khỏe tinh thần, giảm áp lực, giảm sự lo lắng, giảm trầm cảm cho học sinh, cải thiện năng lực học và hành vi trong lớp. Bằng ngôn ngữ, tác phẩm văn học cũng có khả năng miêu tả và diễn tả cảm xúc. Khi một học sinh phân tích cảm xúc của nhân vật văn học mà họ đọc, họ không chỉ hiểu sâu hơn về tác phẩm và còn có thể hiểu cảm xúc của chính họ tốt hơn, phong phú hơn, vì cảm xúc là đa dạng và khác nhau giữa mọi người.

Vì thế, khi dạy một tác phẩm văn học theo hướng giáo dục cảm xúc- xã hội, không nên đặt những câu hỏi theo kiểu truyền thống. Hãy quan tâm đến những câu hỏi tập trung vào cảm xúc. Ví dụ: những động từ như “em cảm thấy nhân vật X như thế nào, làm cách nào nhân vật kiểm soát được hành vi của mình, nhân vật cảm thấy thế nào về sự kiện A, B, C, nhân vật đã thể hiện cảm xúc ra sao? v.v.

Tác giả Tom McSheehy trong bài “Developing Social-Emotional Skills Through Literature” đã chỉ ra quá trình dạy một tiết học văn học hướng tới giáo dục cảm xúc như sau:

Trước khi đọc:

Sau khi học sinh chọn một tiểu thuyết hay truyện ngắn, hãy để học sinh xem trước văn bản bằng cách đọc lướt qua vài trang đầu tiên. Tập trung vài câu hỏi vào cảm xúc và khuyến khích học sinh trích dẫn dẫn chứng cho mỗi câu trả lời. Dưới đây là một số ví dụ:

– Dựa trên trang bìa, cảm xúc nào của nhân vật sẽ là mạnh mẽ nhất trong suốt câu chuyện? Hạnh phúc? Nỗi buồn? Lo sợ? Đau đớn? Yêu thương? Phẫn nộ?

– Bạn học được gì về trạng thái cảm xúc của các nhân vật bằng cách lướt qua vài trang đầu tiên?

Trong khi đọc:

Cứ đọc một đoạn, nên định kỳ tạm dừng và để học sinh nói hoặc viết về cảm xúc của các nhân vật.

– Bạn có thể xác định (các) cảm xúc mà nhân vật chính đang cảm nhận không?

– Sự kiện/nhiều sự kiện nào khiến anh ấy/cô ấy cảm thấy theo cách này?

– Cảm xúc này giống hoặc khác với cảm xúc trước đó của nhân vật chính trong câu chuyện không?

– Làm cách nào mà nhân vật chính bộc lộ cảm xúc của mình?

– Những cảm xúc này có được bộc lộ theo một cách lành mạnh và tích cực không?

Sau một vài buổi tập trung vào cảm xúc của nhân vật, hãy yêu cầu học sinh suy nghĩ về cảm xúc của chính họ.

Tạm dừng việc đọc của học sinh và hỏi:

– Bạn cảm thấy thế nào về những gì đang xảy ra trong câu chuyện? Tại sao bạn nghĩ bạn đang cảm thấy cảm xúc đó?

– Bạn sẽ cảm thấy thế nào nếu ở trong hoàn cảnh giống như nhân vật chính? Tại sao?

– Cảm xúc bạn đã thay đổi như thế nào trong suốt quá trình của câu chuyện?

Nếu đang đọc lớn câu chuyện cho cả lớp nghe, cũng có thể biểu hiện nhanh một cách trực tiếp về 6 cảm xúc chính: giơ tay nếu thấy hạnh phúc. Sau đó, giơ tay nếu thấy đang buồn. Và tiếp tục với những cảm xúc khác như giận dữ, sợ hãi, tổn thương, yêu thương, v.v. Sau đó, dành thời gian để học sinh giải thích những cảm xúc mà họ cảm thấy.

Sau khi đọc:

Sau khi học sinh kết thúc câu chuyện, hãy viết ra những gợi ý để học sinh suy ngẫm về sự phát triển cảm xúc của nhân vật cũng như của chính họ. Ví dụ như:

– Cảm xúc của nhân vật chính thay đổi như thế nào trong suốt câu chuyện? Dẫn chứng để chỉ ra sự phát triển đó.

– Những cảm xúc nào rõ nhất mà bạn thấy được sau khi đọc xong truyện? Tại sao lại cảm thấy như vậy?

– Bạn có nghĩ những độc giả khác sẽ cảm thấy những cảm xúc khác về kết thúc của câu chuyện không? Tại sao vậy?

Đặt những câu hỏi liên quan đến giáo dục cảm xúc-xã hội trong quá trình đọc sẽ làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hành động và cảm xúc trong đời thực và tác phẩm văn học. Các tác phẩm văn học chắc chắn mở ra cánh cửa cho việc giáo dục cảm xúc xã hội sâu sắc hơn. Dĩ nhiên cách ứng dụng của mỗi giáo viên trong lớp học của mình sẽ khác nhau. Quá trình trên chỉ là một gợi ý.

Sau đây là những gợi ý của chúng tôi khi dạy hai văn bản văn học Việt Nam hướng tới việc giáo dục cảm xúc.

2. Trường hợp Cuộc chia tay của những con búp bê cho chương trình ngữ văn cấp hai

Cuộc chia tay của những con búp bê là tác phẩm đã được đưa vào chương trình Ngữ văn lớp 7. Chúng tôi cho rằng đưa vào cấp lớp này là phù hợp nhưng nên ở lớp 8 hoặc lớp 9, vì với độ tuổi cấp hai, mục tiêu của giáo dục cảm xúc là giúp trẻ tìm hiểu những cảm xúc tiêu cực của bản thân và cách thức vượt qua trở ngại đó. Đừng lo ngại là câu chuyện quá buồn, không phù hợp với trẻ cấp hai.

Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài được đưa vào đầu chương trình lớp 7. Mở đầu câu chuyện là việc phân chia đồ chơi của Thành và Thủy, hai đứa trẻ. Tình cảm anh em của Thành và Thủy rất khắng khít, khi bố mẹ chia tay nhau, hai đứa trẻ cảm thấy bàng hoàng, đau đớn, không thiết một thứ gì, nhưng khi chia đồ chơi, chúng nhất quyết không chịu để cho hai con búp bê là Vệ sĩ và Em nhỏ xa nhau.

Câu chuyện dành cho trẻ lớp 7 nên khá đơn giản, tác giả không tập trung vào những chi tiết như: tại sao bố mẹ Thành và Thủy chia tay? Tại sao hai anh em lại không cùng theo mẹ hoặc theo bố? Rồi sau này hai anh em sẽ ra sao? Mạch truyện bám sát vào trọng tâm: cảm xúc của những đứa trẻ khi rơi vào tình trạng bố mẹ chia tay.

Khi dạy Cuộc chia tay của những con búp bê, người dạy cần chú ý những điểm gì?

– Nên bắt đầu bằng nhan đề của truyện. Và đây phải là câu hỏi đầu tiên (như trong chỉ dẫn mà chúng tôi đã dịch ở phía trên bài viết). Búp bê gắn với ký ức của tuổi thơ, là món đồ không thể thiếu của trẻ em, khi nói đến búp bê là nói đến niềm vui, hạnh phúc. Vậy khi nói cuộc chia tay của những con búp bê, có thể hiểu tình huống và dụng ý của tác giả.

– Các câu hỏi trong sách giáo khoa hiện nay chưa tập trung vào quá trình phát triển cảm xúc, chủ yếu vẫn là mô tả, diễn lại câu chuyện, ví dụ như: tóm tắt câu chuyện, hai anh em thân thiết nhau như thế nào? Câu chuyện được kể theo ngôi kể của ai? Ý nghĩa tên truyện? Chi tiết nào trong câu chuyện làm em cảm động nhất? Điều mà tác giả muốn nhắn nhủ là gì? Những câu hỏi này chưa bộc lộ thế mạnh của câu chuyện dưới góc độ giáo dục cảm xúc.

– Người dạy cần bám sát vào việc phân tích quá trình phát triển cảm xúc của hai đứa trẻ: Thành và Thủy gắn bó nhau như thế nào? Những chi tiết nào thể hiện điều đó? Khi biết tin bố mẹ chia tay, anh em mỗi người mỗi ngả thì phản ứng của hai anh em ra sao? Trong hai anh em, ai là người biểu hiện cảm xúc rõ nhất, những chi tiết nào? Và cuối cùng, hai anh em đã hành động như thế nào?

– Sau khi phân tích quá trình phát triển cảm xúc của hai đứa trẻ trong một cảnh ngộ đặc biệt, hướng học sinh quay về tìm hiểu cảm xúc của chính mình trong những cảm ngộ không như ý khác, không nhất thiết phải là cha mẹ chia tay, mà là bất cứ tình huống, cảm xúc nào học sinh thấy buồn bã, thất vọng, tuyệt vọng, đau khổ. Học sinh phân tích cảm xúc của chính mình, đồng thời người dạy cần giúp học sinh tìm ra cách giải quyết trong những tình huống gặp phải cảm xúc tiêu cực đó. Khi dạy truyện này, không nên xoáy vào nội dung câu chuyện và tình huống buồn bã mà câu chuyện chỉ ra, mà tình huống này chỉ là cái cớ để giáo viên triển khai ý đồ giáo dục cảm xúc cho học sinh, từ đó, học sinh nên làm gì, nên có thái độ như thế nào. Nói cho cùng, câu chuyện này được viết ra là để cho người lớn đọc.

– Vì thế, chúng tôi cho rằng, thông điệp mà câu chuyện đem lại không nên là: tổ ấm gia đình là thứ vô cùng quý giá, quan trọng, cha mẹ hay con cái không nên làm tổn thương đến tình cảm thiêng liêng và trong sáng đó. Đừng bao giờ để gia đình đổ vỡ, kéo theo sự chia tay đau đớn của trẻ em. Kết luận này không sai, nhưng không nên, trong tình huống giáo dục cảm xúc.

Khi phân tích quá trình phát triển cảm xúc của hai đứa trẻ, đừng quên phân tích cảm xúc của người mẹ trong câu chuyện (người bố được nhắc đến chỉ một dòng duy nhất). Người mẹ cũng đau khổ, cũng không mong muốn kết thúc này (giọng người mẹ khản đặc, cách thức giải quyết mất bình tĩnh). Phân tích như vậy để trẻ học cách quan sát cảm xúc người khác và thông cảm với hoàn cảnh người khác, nhất là người thân của mình.

– Cho trẻ học cách đóng vai (play role): nếu trẻ là một trong hai anh em, cảm xúc của trẻ sẽ như thế nào? Cách giải quyết ra sao? Việc học cách chấp nhận tình huống và tìm ra giải pháp tốt nhất trong hoàn cảnh bất lợi là một kỹ năng cần thiết để trẻ trưởng thành. Ví dụ: hai anh em bắt buộc phải xa nhau thì các em sẽ làm có cách nào để gặp nhau, để giữ liên lạc, để giúp người kia trong cuộc sống và học tập?…

-Đừng quên một câu quan trọng trong truyện: “mọi người vẫn đi lại bình thường và nắng vẫn vàng ươm trùm lên cảnh vật”. “Mặt trời vẫn mọc” là một quy luật, bài học mà chúng ta cần rút ra là học cách chấp nhận và làm cách nào sống tốt nhất có thể trong tình huống đó. Vì cuộc sống không phải màu hồng, cuộc chia tay không phải chỉ là của những con búp bê, mà còn là chia tay với tuổi thơ để trưởng thành, để sống cuộc sống với tất cả hương vị buồn, vui, hạnh phúc và đau khổ.

Trên đây là một số gợi ý khi dạy Cuộc chia tay của những con búp bê dưới góc độ giáo dục cảm xúc.

3. Trường hợp Hai đứa trẻ trong chương trình ngữ văn cấp ba

20250302 2

Hai đứa trẻ được dạy trong chương trình Ngữ văn 11. Truyện ngắn này không khó dạy, nhưng dạy cho hay, gắn với mục tiêu giáo dục cảm xúc, cho học sinh “thấu cảm” tác phẩm thì không dễ.

Như đã nói trên, mục tiêu của giáo dục cảm xúc cho học sinh lứa tuổi trung học phổ thông là biết lắng nghe, chia sẻ, thấu hiểu, học cách thương thuyết, giải quyết xung đột. Vì thế, cần phải tìm những ngữ liệu văn học đáp ứng mục tiêu trên. Hai đứa trẻ theo tôi là một ngữ liệu tốt và tiêu biểu.

Tôi từng hỏi học sinh có thích Hai đứa trẻ không, rất ít em nói thích, vì sao vậy? Vì Hai đứa trẻ là một truyện ngắn không có cốt truyện, giọng văn đều đều, khó lôi cuốn, chậm rãi, nội dung xa lạ, không liên quan với học trò thành phố,… Thầy cô có khả năng bám sát vào hai đặc điểm hiện thực và lãng mạn của truyện ngắn mà phân tích, nhất là nói đến số phận nghèo khổ và ước mơ đổi đời mơ hồ của hai đứa trẻ. Những điều này không sai, nhưng có lẽ còn thiếu, còn ít và còn đơn giản hóa khi nhìn Thạch Lam.

Khi đọc và khi phân tích cho học sinh, người dạy nên xoáy vào một số ý chính quan trọng mà mình phát hiện ra khi đọc tác phẩm. Nên khuyên học sinh phải “đọc” tác phẩm, đừng đọc các lời bình, các ghi nhớ. Sau khi đọc, các bạn ghi ra giấy những gì mình cảm nhận đã, rồi nếu cần, mới đọc các bài giảng, bài bình luận. Hãy tôn trọng và đi theo cảm xúc của chính mình khi đọc tác phẩm, đó mới là những gì quan trọng nhất trong quá trình đọc văn.

Dạy và đọc Hai đứa trẻ dưới góc độ giáo dục cảm xúc thì như thế nào?

Những luận điểm sau đây có thể phát triển cảm xúc của học sinh khi dạy Hai đứa trẻ:

1. Thạch Lam là người Hà Nội, có tấm lòng yêu mến Hà Nội một cách đặc biệt. Người dạy cần nhắc đến một số tác phẩm khác của Thạch Lam viết về Hà Nội đẹp, thơ, với những trầm tích văn hóa như Hà Nội 36 phố phường. Như vậy, mới hiểu hết khát khao của hai chị em Liên – An khi chờ đợi chuyến tàu “họ ở Hà Nội về!”. Hà Nội như một địa danh vừa thực, vừa ảo trong tâm trí của Liên – An, đó là ánh sáng của tuổi thơ, của khát khao tuổi trẻ, của cái đẹp đã mất, của ước vọng tương lai,… Từ đó, giáo viên có thể đặt câu hỏi cho học sinh về những kỷ niệm của các em về một vùng đất nào đó trong quá khứ đối với các em là vùng đất lý tưởng, vùng đất các em yêu mến. Cảm xúc tích cực về quê hương (nếu địa danh đó ở trong nước), về thế giới (nếu địa danh đó ở nước ngoài) sẽ giúp học sinh định hình thái độ và thế giới quan trong tương lai- điều cần thiết cho học sinh trung học phổ thông. Điều này quả đúng khi tôi hỏi một học sinh: các con muốn cô dạy gì khi học Hai đứa trẻ? Một em đã nói rằng: con muốn cô hỏi về một vùng đất nào đó mà tụi con đã từng đi qua để lại ấn tượng nhất?

2. Đoàn tàu là một nhân vật. Nhân vật quan trọng trong truyện ngắn không kém các nhân vật khác. Giữa câu chuyện không có cốt truyện, văn phong chậm rãi, hình ảnh đoàn tàu đi ngang vào giữa đêm chính là dấu mốc khơi gợi tất cả những cảm xúc của hai đứa trẻ. Từ việc chờ tàu, tàu đến, tàu đi, giáo viên để học sinh của mình ghi lại những biến chuyển cảm xúc của Liên (và An, nếu cần), ghi lại cả những miêu tả tinh tế của Thạch Lam về thời gian, từ buổi chiều tà đến đêm tối. Hướng dẫn học sinh học cách quan sát thiên nhiên, quan sát nội tâm của chính mình. Một trong những yêu cầu của việc kiểm soát cảm xúc bản thân là cần soi rọi và nhìn rõ bản thân.

3. Song song với một số bài văn trong chương trình giai đoạn này, học sinh còn được học thao tác lập luận so sánh. Với Hai đứa trẻ, chúng ta có thể so sánh với Ôi, Hương tuyết của nhà văn Thiết Ngưng. Những ai quan tâm đến văn học Trung Quốc không thể không biết đến Thiết Ngưng và truyện ngắn khá giống với Hai đứa trẻ. Cũng là miêu tả thân phận những em bé ở các phố huyện xa xôi, khao khát ánh sáng văn minh. Hoặc, có thể so sánh với bút pháp của Nam Cao, cùng hướng đến những người cùng khổ, nhưng ngòi bút Nam Cao sắc lạnh, cay độc, có chút gì đó nhẫn tâm, trong khi Thạch Lam thì lại xót xa, khẽ khàng, thông cảm. Nam Cao hướng đến sự tha hóa, hoàn cảnh làm bần cùng hóa con người, còn Thạch Lam thì tìm kiếm những nét đẹp ẩn khuất trong tâm hồn con người. Thạch Lam khá giống với Thẩm Tòng Văn của Trung Quốc. Nếu ai đã đọc Biên thành của Thẩm Tòng Văn sẽ thấy điều này.

4. Câu hỏi cuối cùng mà người dạy có thể đặt ra cho học sinh khi học bài này là: nếu các em đã từng đi du lịch bằng tàu hỏa hay xe hơi, đi ngang qua những vùng quê hẻo lánh, xa xôi, nhìn những đứa trẻ ngơ ngác, lam lũ ở những vùng quê đó, cảm giác các em thế nào? Có phải những truyện ngắn như Hai đứa trẻ giúp các em hình dung rõ hơn về tâm trạng và cảnh đời của những trẻ em ở vùng sâu, vùng xa không? Các em sẽ hiểu những khao khát đổi đời, động lực vươn lên của các em ấy. Các em sẽ hiểu mỗi con người đều có những mơ ước thầm kín mà mãnh liệt muốn vươn tới thế giới văn minh (có thể sau này họ sẽ vỡ mộng đấy, biết đâu!), nhưng thế giới đó là động lực để họ tồn tại và tiếp tục sống, phấn đấu. Câu chuyện sẽ đem lại một tác dụng xa hơn là sự thấu hiểu và thông cảm với người khác.

Từng đó điều cũng khiến Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một ví dụ thật xứng đáng cho chương trình Ngữ văn trong việc hình thành và phát triển những cảm xúc tích cực đối với học sinh: sự cảm thông, lòng trắc ẩn, ý thức soi chiếu nội tâm chính mình, và trên hết, là lòng nhân ái giữa người và người.

Và những gợi ý về giáo dục cảm xúc thông qua hai ngữ liệu trên đây chắc cũng giúp các giáo viên tìm kiếm thêm nhiều ngữ liệu khác.

Trần Lê Hoa Tranh

Nguồn: Khoa Văn học (2024). Lý luận - phê bình văn học: tìm hiểu và ứng dụng. TPHCM: Nxb. Đại học Quốc gia TPHCM, tr.115-123.

______________________

Tài liệu tham khảo:

  1. Susan Elswick. (2018). Using Picture Books to Enhance Children’s Social and Emotional Literacy, Jessica Kingsley Publishers, London and Philadelphia.
  2. Howard Gardner. Frame of Mind: The Theory of Multiple Intelligences, Basic Books, New York. Library of Congress Cataloging-in- Publication Data.
  3. Christina Gil. “Teach Empathy with Literature”: https://www.edutopia.org/discussion/teach-empathy-literature
  4. Daniel Goleman. (2005). Emotional Intelligence Why It Can Matter More Than IQ, Bantam Books.
  5. Phạm Phương Hoài. “Giáo dục trí tuệ cảm xúc trong giờ dạy học văn như thế nào?”, Báo Giáo dục & Thời đại 25/8/2018
  6. Tom McSheehy. “Developing Social-Emotional Skills Through Literature”: https://k12.thoughtfullearning.com/blogpost/developing-social-emotional-skills-through-literature
  7. Lenahan Patracia, Shapiro Johanna. “Facilitating the emotional education of medical students: using literature and film in training about intimate partner violence”: https://cloudfront.escholarship.org/dist/prd/content/qt4q22x6wf/qt4q22x6wf.pdf
  8. Willie van Peer. (1994) “Emotional Functions of Reading Literature”, trong cuốn Literature and the New Interdisciplinarity: Poetics, Linguistics, History, Roger D.Sell và Peter Verdonk biên tập, Rodopi, Amsterdam, Atlanta, GA.
  9. Sách giáo khoa Ngữ văn 7, tập 1. NXB Giáo dục Việt Nam 2014.
  10. Sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam 2014.

                                                                                 PGS.TS. NGUYỄN CÔNG LÝ

                 Khoa Văn học và Ngôn ngữ, trường ĐHKHXH&NV – ĐHQG TP. HCM

1. Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, sinh năm Canh Thân (1380) tại dinh thự của ông ngoại ở Thăng Long và mất ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (19 – 9 – 1442) bởi vụ án Lệ Chi viên oan nghiệt, thảm khốc; nguyên quán ở làng Chi Ngại (làng Ngái), huyện Phượng Nhỡn (nay là huyện Chí Linh), Hải Dương; trước đó vài đời, một chi họ Nguyễn ở Chi Ngại đã dời về định cư tại làng Ngọc Ổi, huyện Thượng Phúc, Hà Đông (sau đổi thành làng Nhị Khê, xã Quốc Tuấn, huyện Thường Tín, Hà Tây; nay thuộc Hà Nội). Làng Nhị Khê là một làng quê nằm bên tả ngạn sông Tô Lịch phía Hà Nội chảy về, trù phú, thuần nông và có nhiều nghề thủ công đặc sắc.

 

Những năm 1960 tại miền Nam Việt Nam, một lớp thanh niên được cử đi du học ở các nước tiên tiến trên thế giới.

Sau này, họ trở thành những người có tên tuổi và có nhiều đóng góp cho đất nước.

Họ đã bay hơn nửa vòng trái đất để đến những nơi xa xôi như Mỹ, Pháp, Anh, Đức, Ý, Bỉ… với kỳ vọng sẽ được đào tạo thành nhân tài. Một số người khác, trong đó có Trần Văn Thọ, chọn đi con đường ngắn hơn - sang Nhật Bản, cũng với lòng tin về một nền giáo dục hiện đại sẽ được thụ hưởng.

Đi Nhật Bản mà học về kinh tế như Trần Văn Thọ thì quá hợp "thiên thời, địa lợi, nhân hòa". Bại trận sau Chiến tranh Thế giới lần thứ hai, bị tàn phá về vật chất và thương tổn về tinh thần, song nước Nhật đã nén nỗi đau và vết nhục, vực dậy tinh thần dân tộc để phục hưng đất nước, trở thành một nền kinh tế thị trường phát triển hàng đầu thế giới, khiến nhân loại kính nể.

Nhật Bản và Việt Nam ở cùng khu vực "văn minh Đông Á". Hai nước từng có mối liên hệ về giáo dục từ đầu thế kỷ 20, khi phong trào Đông Du do cụ Phan Bội Châu khởi xướng đã đưa 200 thanh niên Việt Nam đầu tiên sang Nhật du học.

Được đào tạo và tự đào tạo thành một nhà kinh tế học uyên bác, GS Trần Văn Thọ không dừng lại ở những kiến thức lý thuyết mà luôn tìm cách vận dụng vào những lĩnh vực quan yếu của đời sống xã hội.

Sau ngày Việt Nam thống nhất, GS Trần Văn Thọ về nước, tham gia nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm và được thỉnh giảng ở một số trường đại học. Ông đã đề xuất nhiều kiến nghị, giải pháp cho sự phát triển kinh tế của đất nước từ sự tiếp thu có sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Nhật Bản và thế giới.

Theo GS Trần Văn Thọ, hai nhân tố then chốt dẫn đến sự tiến bộ thần kỳ của đất nước mặt trời mọc là năng lực xã hội - trong đó bao gồm tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm - và thể chế với tư cách một nhà nước kiến tạo phát triển. Sống trong lòng xã hội Nhật Bản 56 năm, ông tận mắt chứng kiến và suy ngẫm về những vấn đề cụ thể, như khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao, xây dựng đường sắt cao tốc, giải pháp thi tuyển công chức…

Tuy vậy, GS Trần Văn Thọ không phải là người ủng hộ thuyết duy kinh tế hay chủ nghĩa tự do trong kinh tế. Bàn về những vấn đề kinh tế, bao giờ ông cũng gắn với nền tảng văn hóa và con người, trong đó văn hóa là động lực của sự phát triển, còn giáo dục thì định hướng cho tương lai của văn hóa.

Thật ra, nhiều năm qua, không chỉ riêng GS Trần Văn Thọ mà nhiều trí thức ưu thời mẫn thế, dù chuyên sâu và thành đạt trong lĩnh vực nào, cũng đều quan tâm suy nghĩ và hiến kế cho giáo dục Việt Nam. Bởi lẽ, họ ý thức rằng giáo dục là lĩnh vực liên quan đến tất cả các lĩnh vực khác. Hơn thế, một nền giáo dục có thực chất mới giải quyết được căn bản những vấn nạn về nhân sự, tri thức sáng tạo và thị trường lao động.

20250128 2

Tác giả (GS Huỳnh Như Phương) trong một dịp gặp gỡ, trao đổi với GS Trần Văn Thọ (bên trái) tại TP HCM.

(Ảnh do tác giả cung cấp)

Trên tinh thần đó, những ý kiến của GS Trần Văn Thọ về hệ thống đại học công lập và tư thục, tổ chức đào tạo và cấp bằng tiến sĩ, việc chọn ngành học phục vụ chiến lược công nghiệp hóa… đều rất đáng suy ngẫm.

Đọc những cuốn sách và bài viết của GS Trần Văn Thọ, chúng ta có thể thấy rằng hướng đi trong cuộc đời mỗi người vừa là kết quả tác động từ hoàn cảnh khách quan, vừa là sự kết tinh từ phẩm chất, năng lực và hoài bão của chính người đó.

Theo tâm sự của tác giả, sau khi đỗ tú tài toàn phần Ban Triết, chàng trai Hội An - Quảng Nam vào Sài Gòn với ý định theo học năm dự bị Văn Khoa ở Ban Văn chương Việt Nam, rồi sẽ chuyển sang học Trường Đại học Sư phạm để trở thành một thầy giáo trung học. Một hôm, tình cờ đi ngang cổng Bộ Quốc gia Giáo dục trên đường Lê Thánh Tôn, đọc thấy thông báo tuyển sinh du học theo học bổng của chính phủ Nhật Bản, ông nộp hồ sơ, dự thi và trúng tuyển. 

Đặt chân đến Tokyo năm 1968, mãi hơn nửa thế kỷ sau, GS Trần Văn Thọ mới về thăm lại Trường Đại học Văn khoa - nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM. Đây là nơi ông từng nghe những bài giảng văn chương trong niên khóa đầu tiên.

Hôm GS Trần Văn Thọ về thăm trường cũ, chúng tôi ngồi với nhau quanh bàn cà phê trên sân thượng Văn Khoa, nhớ lại những thầy giáo nay đã ra người thiên cổ: Nguyễn Khắc Hoạch, Phạm Việt Tuyền, Lưu Khôn. Cảm động nhất là khi nhắc đến nhà giáo Huỳnh Ngọc Hòa, tức Huỳnh Phan, người anh kết nghĩa đã giúp đỡ Trần Văn Thọ trong những ngày tháng đầu tiên vào đại học.

Huỳnh Phan, tác giả cuốn sách "Câu chuyện thầy trò", là người đã tổ chức một cuộc phỏng vấn sâu rộng vể cải tổ giáo dục khi mới là sinh viên sư phạm. Đây là một trong những cuốn sách tâm đắc mà tôi đã trích dẫn trong bài báo viết năm 1972 ở Trường Trung học Trần Quốc Tuấn (Quảng Ngãi) và trong cuốn "Ước vọng cho học đường" xuất bản gần đây.

Cũng như Huỳnh Phan và Trần Văn Thọ, những sinh viên Việt Nam dù đi đến chân trời nào vẫn luôn ghi nhớ lời dặn dò của cụ Phan Châu Trinh: "Chi bằng học". Học để nên người và để góp một phần khiêm tốn cho đời. Họ có thể khác nhau cả về hoàn cảnh lẫn tuổi tác, có thể chưa hề quen biết, mà vẫn gặp nhau trong chí hướng, trong ước vọng và hoài bão về một nền giáo dục nhân bản, khai phóng mang tinh thần dân tộc và hiện đại.

Cũng như GS Trần Văn Thọ, sinh viên Việt Nam dù đi đến chân trời nào vẫn luôn ghi nhớ lời dặn dò của cụ Phan Châu Trinh: "Chi bằng học". Học để nên người và để góp một phần khiêm tốn cho đời.

Huỳnh Như Phương

Nguồn: Người lao động, ngày 26.01.2025.

Trần Trọng Dương

 

Viện NC Hán Nôm

Sự luân chuyển quyền lực qua các đời Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Hậu Ngô Vương, loạn 12 sứ quân, cho đến Đinh Liễn, Lê Hoàn  trong quãng thời gian từ năm 907 đến 980 (dài 73 năm) có thể coi là một biểu hiện cát cứ địa phương theo hình mẫu động loạn thời Ngũ đại bên thiên triều (kéo dài 53 năm). Các thế lực chính trị khá ngắn ngủi và liên tục thay đổi bằng các hình thức bạo lực khác nhau (như binh biến, đảo chính, thích khách…) và đôi khi có cả sự trao truyền quyền lực một cách hòa bình êm đẹp nhờ những quan hệ hôn nhân huyết tộc ràng rịt của tầng lớp cầm quyền phía trên.  Cục diện ổn định nhanh chóng bị phá vỡ rồi sau đó lại được tái lập bằng sự xuất hiện và biến lướt của các anh hùng hào trưởng có nguồn gốc phương Bắc. Tuy nhiên, điểm lại vài khuôn mặt trí thức của giai đoạn này thì rõ ràng các nhà nghiên cứu bao giờ cũng nêu ra một số vị thiền sư bác học, trong đó người để lại hình tích nhiều nhất, người có ảnh hưởng nhất đối với xã hội cũng như các vương triều trên chính là nhân vật mang tên Khuông Việt thiền sư, tức Ngô Chân Lưu.

Tôi không theo chuyên ngành Hán - Nôm nên không có diễm phúc làm truyền nhân của thầy theo chuyên ngành.

20241126 3

Khoa Văn học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia TPHCM tổ chức lễ mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 và Khánh chúc sinh nhật tuổi 90 của nhà giáo, nhà nghiên cứu Nguyễn Khuê.

Nhưng may mắn, tôi được thọ giáo thầy không ít, cả trong trường tri thức lẫn trường đời, để sống và để học.

Hồi năm thứ nhất và thứ hai đại học, thầy Nguyễn Khuê dạy tôi môn Hán cổ trên lớp chính khóa. Năm thứ ba, thầy dạy nhập môn chữ Nôm. Hồi đó chính khóa, tôi học tiếng Nga. Năm thứ hai, chuyển KTX từ Thủ Đức về Quận I, buổi tối tôi đi học thêm tiếng Anh. Đứng lớp nhập môn tiếng Anh cho chúng tôi cũng là thầy. Ngặt nỗi không có tiền đóng học phí, tôi chỉ theo thầy học được 1 khóa hai tháng rưỡi, sau đó thì về ôm giáo trình tự học.

Giáo trình tiếng Anh sơ khai là bộ New English 900, cũng do sư phụ Nguyễn Khuê soạn. Lên cao học, sư phụ lại dạy tôi 2 môn Phân tích dữ liệu văn bản và Tư tưởng Nho giáo. Cả bộ Nho giáo bà bộ Tứ thư tôi đang giữ cũng do thầy san định, trong đó bộ Nho giáo, tôi được thầy ký tặng.

Hồi mẹ thầy tạ thế, tôi đến viếng, vì kính bậc đại trưởng lão - mẫu thân của sư phụ, thắp hương xong thì tôi dập đầu lạy. Thầy mặc áo xô đứng đáp lễ, đỡ học trò dậy ngay, nói nhỏ: “Em không phải lạy”.

Sau đó, xong phần lễ, ra ngồi thăm, thầy mới giải thích: “Em đi viếng mẹ thầy, nếu thân mẫu của em đã tạ thế thì em mới lạy thân mẫu thầy, coi như lạy mẹ mình. Thầy biết em còn mẹ, thầy không thể nhận lễ đó của em được. Vì nếu em quỳ lạy, thầy cũng sẽ phải qùy lạy đáp lễ, coi như gửi lễ đến thân mẫu của em. Mẹ của thầy như mẹ của em. Vậy là không đúng lễ!”.

Hồi đó, đã gần 40 tuổi, tôi mới được lão sư khai thị cho một lễ cử trong đời. Và cảm động, trong tang lễ, người thầy lớn tuổi đã giải thích cho học trò về chuyện cùng vai trước mẹ!

Ki cóp mãi, thầy đồ Nho Nguyễn Văn Hoài, bạn tôi mới mua được căn nhà nhỏ ở Thủ Đức. Hôm vào nhà mới chỉ có mấy thầy dạy Hán Nôm trong khoa Ngữ văn: Thầy Nguyễn Khuê, TS Nguyễn Ngọc Quận, PGS.TS Đoàn Lê Giang và tôi. Đi xem khắp nhà - nhanh thôi, vì nhà bé tí - thầy cứ tấm tắc: “Đời chúng mình, được thế này là mãn nguyện lắm rồi thầy Hoài ạ”.

Gã học trò là tôi đứng khoanh tay, nghe mà cay mắt. Hoài là một trong những truyền nhân đắc ý ngành Hán Nôm của thầy. Thầy Khuê gọi tên học trò như gọi tên đồng nghiệp, đầy tôn trọng. Và lời mừng của thầy là rất chân thành, làm tôi nhớ căn nhà đơn sơ của chính thầy sau một đời phấn đấu, nằm trong hẻm nhỏ, bề ngang cũng chỉ chưa đầy 3m, dài chỉ 8m.

Thầy Nguyễn Khuê sinh ra ở làng Dương Nỗ, Phú Vang, Thừa Thiên - Huế, lấy Tú tài năm 1959, tốt nghiệp Cử nhân giáo khoa Việt Hán năm 1966. Cùng năm đó, thầy được học bổng sang Đài Loan làm Thạc sĩ và Tiến sĩ.

Vì gia cảnh, thầy không thể xa nhà, ở lại Sài Gòn vừa làm Giáo sư dạy trung học, vừa nghiên cứu, học tiếp và lấy bằng Thạc sĩ văn chương Việt Hán (1969). Đầu năm 1975, thầy hoàn tất luận án Tiến sĩ chuyên ngành Hán văn. Chưa kịp bảo vệ để lấy bằng Tiến sĩ thì giải phóng, đường khoa cử của thầy bị chững lại.

Nhưng đường khoa học, sự nghiệp nghiên cứu của thầy thì không gì có thể làm đứt đoạn. Sau 1975, thầy là giảng viên rồi Trưởng bộ môn Hán Nôm Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, cũng là giảng sư quen thuộc ở những trường Cao đẳng Phật học, Học viện Phật giáo và hàng chục khóa cao học.

Buổi tối, thầy cũng không được nghỉ ngơi, còn phải đi dạy tiếng Anh, tiếng Pháp ở các trung tâm. Bộ giáo trình Anh văn nổi tiếng “New English 900” do thầy biên soạn được sử dụng như một giáo trình cơ bản tại các trung tâm ngoại ngữ lớn ở TP Hồ Chí Minh suốt hàng chục năm liền...

Cả gia đình thầy trông cậy vào mỗi mình thầy. Cho đến tận tuổi bát tuần, thầy vẫn phải làm việc không ngơi nghỉ, ngày cũng như đêm. Nhưng thầy không thể rời đi đâu xa nhà dù chỉ một ngày. Trong căn nhà nhỏ bé, vợ của thầy lâm trọng bệnh, sống đời sống thực vật hàng chục năm. Một tay thầy kiêm luôn vai trò hộ lý, chăm sóc cô chu đáo, tỷ mẩn trọn suốt mấy chục năm. Cô nằm thanh thản, vô thức, luôn được thầy chăm lo chu đáo, sạch sẽ.

Từ căn nhà nhỏ và những nỗ lực bền bỉ, dồn đầy tâm huyết của thầy, bao nhiêu trái ngọt đã để lại cho đời. Thầy là một nhà biên dịch Hán văn kỳ cựu, với “Nguyễn Trãi toàn tập tân biên” 3 tập (biên dịch chung); “Giảng giải văn phạm Hán văn”; “Sơ lược tiểu sử và ảnh tượng chư Tổ Thiên Thai tông” (biên dịch chung); “Phật học Trung đẳng”, 2 tập...

Thầy cũng là một tác giả biên khảo lớn, để lại nhiều tác phẩm có giá trị, nói như PGS.TS Lê Thị Thanh Tâm, một môn đồ giỏi của thầy là đã “gợi cảm hứng và trở thành sách công cụ không thể thiếu trong hành trang sinh viên Văn khoa”.

Đó là các cuốn “Tâm trạng Tương An quận vương qua thi ca của ông”; “Nghị luận văn chương”; “Tự học Hán văn”; “Chân dung Hồ Biểu Chánh”; “Sài Gòn - Gia Định qua thơ văn xưa” (soạn chung); “Những vấn đề cơ bản của chữ Nôm”; “Từ điển Hán - Việt” (chủ biên); “Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân am thi tập”; “Ba mươi năm cầm bút”, hay sau này là “Khổng Tử: Chân dung học thuyết và môn sinh”, với phần cuối sách là trọn bộ Luận Ngữ được thầy dịch và chú giải cặn kẽ...

Từ tuổi bát tuần về sau, khi con cái đã phương trưởng, thầy mới được thảnh thơi chút ít. Thầy khiêm tốn bảo mỗi ngày vẫn cố duy trì đọc vài ba trang sách cho đầu óc đỡ quên. Kỳ thật, các môn đồ đều biết, dù tốc độ làm việc có chậm đi, mỗi ngày thầy vẫn ngồi trước máy tính miệt mài và đều đặn 8 tiếng, để dịch và chú giải sách, tài liệu Hán văn.

Trước thềm khánh thọ 90, thầy mới cho xuất bản cuốn mới nhất: “Chu Dịch chính nghĩa”, vừa mới được Khoa Ngữ văn, Trường ĐH KHXH&NV TP Hồ Chí Minh giới thiệu sáng hôm qua (18/11), cùng với lễ mừng thọ 90 của thầy. Với tri thức hàn lâm, với những ai quan tâm đến dịch học và triết học Phương Đông, đây sẽ là một tài liệu quý không thể thiếu.

“Chu Dịch chính nghĩa” do thầy Nguyễn Khuê dịch và chú giải được đánh giá là bản Việt dịch Chu Dịch đầy đủ nhất hiện nay. Chu Dịch (hay Kinh Dịch) được Michel Gall gọi “La Bible des Chinois” - “Thánh kinh của người Trung Hoa”, khẳng định tầm quan trọng hàng đầu của bộ sách này trong nền văn hóa Hoa Hạ.

Dịp này của 8 năm trước, nhân 20/11 và cũng là dịp mừng thọ thứ 82 của thầy, tự biết mình kiến văn nông nổi, bút lực tầm thường, tôi không tự viết mà nhờ TS Lê Thị Thanh Tâm chấp bút, viết cho tôi một bài về thầy để đăng trên tờ Văn nghệ Công an. Đầy cảm hứng và lòng biết ơn, TS Lê Thị Thanh Tâm đã đặt tựa cho bài viết, kính gọi thầy Nguyễn Khuê là “Vị ân sư trong cõi trăm năm mây nước”. Bài báo đăng ngày 17/11/2016.

Tôi, chúng tôi - hàng chục thế hệ môn đồ - luôn nghĩ về thầy Nguyễn Khuê như thế. Một bậc ân sư đáng kính. Nghĩ về thầy, với chúng tôi, ngày nào cũng là Ngày Nhà giáo. Dù được học thầy ít hay nhiều, chúng tôi vẫn luôn nghĩ về lão sư Nguyễn Khuê với tất cả kính trọng, biết ơn và rất đỗi tự hào.

Bữa nay, trùng dịp Ngày Nhà giáo, con xin có mấy dòng, chúc mừng tác phẩm mới và kính mừng khánh thọ lão sư Nguyễn Khuê 90 tuổi! Thưa thầy, chúng con mong thầy mạnh khỏe, bởi với chúng con, thầy là cầu nối, từ ngàn xưa đến hôm nay, và của cả ngày mai, tính từ mốc giải phóng 1975.

19/11/2024

Học trò Nguyễn Hồng Lam

Nguồn: Giáo dục và Thời đại, ngày 20.11.2024.

Đặt vấn đề:

 

1.Đầu thế kỷ XX, trong xu thế chung của châu Á mà Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi) diễn tả là “thoát Á luận” ( thoát khỏi châu Á), nhiều trí thức vùng Đông Á- hay là vùng văn hóa Hán- đã tiến hành phê phán nhiều giá trị truyền thống phương Đông trong đó có Nho giáo. Trong các xu hướng phê phán Nho giáo đó, có một xu hướng phê phán Nho giáo như một học thuyết nam quyền – đàn áp nữ quyền. Tại Trung Quốc, có thể kể đến Lỗ Tấn, Lâm Ngữ Đường ; tại Việt Nam tiêu biểu là Phan Khôi (1887-1960) . Việc phê phán Nho giáo đàn áp phụ nữ hiện vẫn tiếp tục. Ở Trung Quốc, những tiếng nói lên án gay gắt  Nho giáo như một học thuyết đàn áp nữ quyền có khi đi đôi với cảm hứng khẳng định chính Lão Trang mới là học thuyết nữ quyền. Dường như vấn đề nữ quyền là điểm yếu của Nho giáo, có thể dùng nó để hạ gục Nho giáo.

Quan sát sự thay đổi trong thái độ của các trường đại học Mỹ trong hai năm qua có lẽ sẽ giúp chúng ta ít nhiều về lựa chọn.

20241022 5

Ứng xử như thế nào với các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh như ChatGPT là câu hỏi thường trực trong tâm trí nhiều nhà giáo dục, từ cấp quản lý đến thầy cô giáo đứng lớp hiện nay khi học sinh, sinh viên bắt đầu dùng chúng để làm bài nộp cho thầy cô. Cấm cũng khó, không cấm cũng khó. 

Một đặc điểm của nền giáo dục Mỹ là áp dụng yêu cầu viết bài luận trong nhiều trường hợp. Suốt học kỳ, giáo viên thường yêu cầu các học sinh đọc một tác phẩm, rồi cuối học kỳ viết một bài luận dài 8-10 trang về một đề tài nào đó liên quan đến tác phẩm. 

Không chỉ môn văn, học sử, địa hay kinh tế, học sinh cũng được yêu cầu viết luận thường xuyên. Khi ChatGPT ra đời, các giáo viên ngỡ ngàng: chuyện viết lách tưởng đâu là độc quyền của con người, là kỹ năng cần truyền đạt một cách công phu cho học sinh, nay cứ ra đề, ChatGPT sẽ nhoay nhoáy đẻ ra các bài viết thuộc loại khá, đáng cho 8 điểm.

Vì thế, phản ứng đầu tiên của nhà trường và các thầy, cô giáo là cấm, cấm tiệt ChatGPT trong trường học. Như Los Angeles, học khu lớn thứ nhì nước Mỹ chặn ChatGPT trên hệ thống WiFi của trường công cũng như các thiết bị phát cho học sinh. 

Các học khu khác cũng làm theo, kể cả tại thành phố New York, học khu lớn nhất nước Mỹ. Không những cấm, các trường phổ biến những công cụ phát hiện bài làm có sử dụng ChatGPT. Ngay cả Turnitin, phần mềm phát hiện đạo văn, cũng bổ sung thuật toán phát hiện AI khá chính xác.

Nhưng chỉ mấy tháng sau, các học khu lần lượt rút lui lệnh cấm, nói là đã quá vội vàng. Cả xã hội đang sôi động với AI, tìm cách ứng dụng nó để nâng cao năng suất, cải tiến hiệu quả làm việc, không lẽ ngành giáo dục đứng ngoài cuộc bằng một lệnh cấm đoán.

Xã hội có nhu cầu, lẽ ra nhà trường phải dạy về AI cho học sinh, sao lại cấm. Ngay cả giới giáo viên, ngày càng có nhiều người sử dụng ChatGPT để soạn giáo án, soạn bài tập, chấm điểm bài làm… 

Có lẽ quan điểm của Đại học CalTech được nhiều trường khác chia sẻ: cắt dán toàn bộ nội dung của AI tạo sinh viết ra thành bài luận nộp cho thầy cô là vi phạm đạo đức sinh viên, nhưng nếu chỉ dùng AI để động não, tìm ý hay để kiểm tra ngữ pháp, chính tả thì hoàn toàn chấp nhận được.

Trường học và những lựa chọn ứng xử với công cụ AI - Ảnh 2.

Từ đó các trường lại quay sang tranh luận, thế nào là mức độ sử dụng AI tạo sinh chấp nhận được? Một học sinh dùng ChatGPT để thay cho việc động não, nhờ nó suy nghĩ hộ chừng 10 đề tài viết bài luận nộp kèm với hồ sơ tuyển sinh, rồi em này chọn 1 đề tài và tự viết - liệu có thể kết án em gian lận vì có nhờ AI chăng? So em này với các gia đình khá giả có thuê dịch vụ trau chuốt bài luận thì ai gian lận hơn ai? 

Một em dùng ChatGPT để soạn nguyên cả bài luận so với các em khác chỉ dùng ChatGPT để kiểm tra cách hành văn, viết lại một đoạn văn lủng củng… thì cách ứng xử phải khác nhau như thế nào? Có nên phạt một em dùng AI tạo sinh để đẻ ra bản nháp đầu tiên, rất sơ khởi sau đó tự em này viết lại toàn bộ?

Dường như đã có một kết luận được chia sẻ rộng rãi: dùng AI làm công cụ hỗ trợ như một nơi tham khảo thì được, nhưng lấy sản phẩm của AI, kể cả hình ảnh do nó tạo ra, đem nộp cho thầy cô thì không ai chấp nhận.

Nói gì thì nói, chuyện sinh viên ăn gian khi làm bài là có và đã xuất hiện từ xưa. Bởi thế nên xã hội mới đẻ ra các dịch vụ viết luận thuê như EssayShark hay Chegg núp dưới mỹ từ "phụ đạo nhằm mục đích tham khảo". Ngay sau khi ChatGPT ra đời, giá trị thị trường của Chegg sụt mất 1 tỉ đô la, chứng tỏ sinh viên có gian lận và ngày trước gian lận nhờ Chegg nay nhờ ChatGPT.

Nhưng cấm sinh viên sử dụng ChatGPT nói riêng và các công cụ AI tạo sinh để làm bài là không khả thi. Thứ nhất, các công cụ phát hiện AI thường không chính xác, gây tranh cãi. Ngay cả công cụ nổi tiếng Turnitin cũng thừa nhận văn bản do một công cụ nào khác tạo ra, kể cả ứng dụng kiểm tra ngữ pháp hay dịch tự động cũng khiến phần mềm dán nhãn có sử dụng AI.

OpenAI đang thử nghiệm phương pháp giấu kín một watermark (hình mờ) ẩn bên trong nội dung nó sản sinh để sau này khi cần biết ngay đoạn văn nào do AI tạo ra. Nhưng xóa watermark không phải là chuyện khó, đồng thời trong một thị trường cạnh tranh, sẽ có những nơi đẻ ra AI không có watermark. Đó là lý do cho đến nay OpenAI chưa giới thiệu chức năng tạo watermark vì không muốn mất khách.

Chấp nhận một mức độ sử dụng AI nào đó, các trường bắt đầu nói nhiều đến việc thay đổi cách dạy, cách học để ứng phó với thời đại AI thâm nhập sâu vào trường học. Nói cách khác, theo họ, chừng nào còn văn mẫu, chừng đó còn vai trò cho AI. 

Muốn sinh viên ngưng sử dụng AI để gian lận trong làm bài thì đề bài cần đi theo hướng đòi hỏi sự sáng tạo của sinh viên, từ cảm nhận cá nhân đến trải nghiệm riêng của từng em. Giảng viên phải thiết kế lại khóa học, đưa ra nhiều thay đổi như tăng thi vấn đáp, làm việc theo nhóm hay bài tập viết tay, giảm loại bài tập giao về nhà làm, các kỳ thi cho mở sách.

Nhiều trường nhấn mạnh đến lòng tự trọng của sinh viên để kêu gọi họ minh bạch trong mọi khâu. Có lẽ rồi đây dưới bài làm của sinh viên sẽ có dòng "tiết lộ", nói rõ người viết có sử dụng AI trong một khâu nào đó, như gợi ý, tìm từ hay cho ví dụ. 

Trong một bài viết về cách các trường đại học Mỹ đối phó với AI trên tờ The Atlantic, tác giả kể một sinh viên ngành kinh tế chính trị được giao viết bài nghiên cứu về chủ nghĩa thực dân ở Trung Đông. Anh ta nghĩ ra dàn ý và hỏi ChatGPT có ý kiến gì không. ChatGPT nói dàn ý không đạt rồi đưa ra các ý tưởng đối chọi với lập luận của sinh viên. Sau đó người sinh viên này đã triển khai những ý tưởng của ChatGPT vào bài viết của mình. 

Tác giả cho rằng cách sinh viên này sử dụng ChatGPT là thông minh và chính đáng nhưng giả dụ đưa bài viết vào phần mềm phát hiện Turnitin, rất có thể nó sẽ phán bao nhiêu phần trăm đó là do AI viết, rất có thể giảng viên sẽ đánh rớt bài viết.

Cuối cùng, một mối nguy của AI trong học tập là nó bào mòn tính đương đầu với thử thách của sinh viên, họ không còn xem bài tập được giao như một thử thách phải vượt qua mà là một gánh nặng có thể chia sẻ bớt cho ChatGPT. 

Trong quá trình đó, kết quả được chấp nhận thường ở mức độ vừa phải, bình bình - y hệt như những gì AI tạo sinh đang đẻ ra hằng ngày hằng giờ trên không gian mạng. 

Gia sư toán

Hiện nay đã có những ứng dụng hỗ trợ việc học toán rất hiệu quả nhưng nhìn cách nào đó, nó cũng là công cụ giúp học sinh gian lận trong làm bài. Một trong những ứng dụng đó là Gauth của ByteDance, công ty mẹ của mạng TikTok!

Ứng dụng Gauth ra đời vào năm 2020, lúc đầu chú trọng vào môn toán nhưng sau này mở ra cả môn lý và hóa. Gauth nằm trong danh sách ba ứng dụng giáo dục được tải về nhiều nhất ở Mỹ, được chấm 4,8 điểm trên App Store của Apple và Play Store của Google.

Học sinh chỉ cần tải ứng dụng về điện thoại di động, mở ra và chụp hình bài toán, dù viết tay hay in trong sách. Sau đó Gauth sẽ hướng dẫn từng bước giải bài toán để học sinh có thể theo dõi.

Theo đánh giá của tạp chí Wired, mặc dù Gauth không đưa ra lời giải xuất sắc, được điểm A+ nhất là với các câu hỏi có đồ thị nhưng nó làm tốt ở mức độ điểm B- hay C+. Chừng đó cũng đã rất hữu ích với học sinh trung bình hay kém toán, có một trợ giảng kiên nhẫn bên cạnh.

Trên trang web của mình, Gauth đưa ra yêu cầu danh dự với học sinh, "[Các bạn] phải chống lại cám dỗ dùng Gauth theo cách đi ngược với giá trị của bạn hay kỳ vọng của nhà trường". Tức Gauth mặc nhiên thừa nhận học sinh có thể lạm dụng Gauth để giải bài tập về nhà mà không mất chút công sức nào.

Như vậy, xem Gauth là công cụ hỗ trợ hay công cụ gian lận là tùy góc nhìn của từng người, nhất là tùy vào cách sử dụng của học sinh. Có người nói chúng ta tiến hóa từ bàn tính sang máy tính bỏ túi đến máy tính vẽ đồ thị thì tại sao không chấp nhận một bước tiến nữa như Gauth và các ứng dụng hay hơn trong tương lai gần.

Nhưng cũng có người lo ngại ứng dụng như Gauth sẽ dần triệt tiêu kỹ năng suy luận logic của học sinh, một mục tiêu mà môn toán hướng đến. Riết rồi học sinh sẽ giải toán như cái máy và Gauth chính là chiếc máy như thế.

 

Bộ Giáo dục Mỹ đã biên soạn một tài liệu hướng dẫn cho các trường ứng xử với AI. Tài liệu mang tên "Trí tuệ nhân tạo và tương lai của dạy và học - Phát hiện và khuyến nghị" dài 71 trang, đưa ra những lời khuyên rất cụ thể cho giáo viên (tham khảo: https://tech.ed.gov/files/2023/05/ai-future-of-teaching-and-learning-report.pdf).

Từng tiểu bang cũng có những tài liệu tương tự. Bang North Carolina phát hành cuốn Triển khai AI tạo sinh - Khuyến nghị và cân nhắc, trong đó có những mục rất cụ thể như "Tư duy lại chuyện đạo văn và gian lận trong thời đại AI"; "Các trường hợp giáo viên sử dụng AI tạo sinh"; "Thận trọng khi dùng công cụ phát hiện AI"…

Nguyễn Văn Phú

Nguồn: Tuổi trẻ, ngày 23.9.2024.

Mục tiêu bao trùm trước mắt và lâu dài của chúng ta là phấn đấu bằng mọi cách nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy và học tập ở mọi lĩnh vực, mọi chuyên ngành ngữ văn mà sự nghiệp phát triển giáo dục đại học đang đòi hỏi một cách cấp thiết. Với mục tiêu này, trong nhiều năm qua, không ít đơn vị trong ngành ngữ văn thuộc nhiều trường đại học đã cố gắng bứt phá, tìm tòi, mở hội thảo khoa học, đưa lại những kết quả đáng ghi nhận.

 

20240924

Nhóm SV khoa Văn học thực tập thực tế tại xã Long Sơn, TP Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2020

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm đào tạo các ngành khoa học xã hội và nhân văn lớn nhất Nam Bộ, ngay từ những ngày đầu thành lập đã chú trọng công tác đào tạo và giáo dục thẩm mĩ cho sinh viên từ những giá trị của di sản văn hóa truyền thống của Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Các khoa quan trọng của Trường như Văn học, Văn hóa học, Việt Nam học luôn dành ưu tiên trong chương trình đào tạo của mình những môn học truyền đạt kiến thức văn hóa, văn học, nghệ thuật truyền thống của quốc gia và của vùng miền như các chuyên đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam, Văn hóa dân gian Việt Nam, Văn học dân gian Việt Nam, Văn hóa Nam Bộ, Nghệ thuật truyền thống Nam Bộ…

I. Về mặt triết học, thông thường khi nói đến “Tâm” và “Trí” người ta nghĩ rằng đây là hai phạm trù đối lập nhau.

 

Trí là lý trí, trí tuệ. Nói đến trí là nói đến sự rạch ròi, khúc triết với tư duy logic, là nhận thức lý tính, mang tính chất nghiêm khắc, khô khan.

 

Tâm là tình cảm, tâm linh. Nói đến tâm là nói đến sự mềm mại, uyển chuyển, là tư duy tình cảm, nhận thức cảm tính. Nói cách khác, đó là sự trực cảm tâm linh.

20240924 2

Giáo dục thẩm mĩ là giáo dục để người học có nhận thức đúng đắn và tương đối đầy đủ về cái đẹp nói chung, cái đẹp trong nghệ thuật nói riêng; về các nền văn hóa, văn minh, các trường phái nghệ thuật; về những điều đối lập với cái đẹp: cái xấu, cái ác... Lâu nay, việc giáo dục thẩm mĩ ở Việt Nam vẫn được lồng ghép trong các môn học ở nhà trường từ phổ thông đến đại học nhưng không nhiều. Ở bậc đại học và sau đại học, ngoại trừ các chuyên ngành liên quan đến văn chương, nghệ thuật thì việc giáo dục thẩm mĩ một cách trường quy gần như chấm dứt. Ở bên ngoài nhà trường, việc giáo dục thẩm mĩ chưa được chú trọng nhiều. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của internet, mạng xã hội đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống người Việt Nam và có ảnh hưởng lớn đến nhận thức về cái đẹp của người sử dụng, trong đó thanh thiếu niên là những người chịu ảnh hưởng sâu sắc nhất vì họ là nhóm người dùng mạng xã hội đông nhất, đồng thời lại dễ xúc động và dao động hơn cả. Do đó, việc tìm hiểu bản chất, đặc trưng của mạng xã hội để từ đó tìm ra cách sử dụng nó phục vụ quá trình giáo dục thẩm mĩ cho học sinh, sinh viên là rất cần thiết.

Thông tin truy cập

70381029
Hôm nay
Hôm qua
Tổng truy cập
119
15884
70381029

Đang có 204 khách và không thành viên đang online

Sách bán tại khoa

  • Giá: 98.000đ

    Giá: 98.000đ

  • Giá: 85.000đ

    Giá: 85.000đ

  • Giá: 190.000đ

    Giá: 190.000đ

  • Giá:140.000đ

    Giá:140.000đ

  • 1
  • 2
  • 3
  • 4

Liên hệ mua sách:
Cô Nguyễn Thị Tâm
Điện thoại: 0906805929

Danh mục website